Chương 1: Ngày chủ nhật ở làng Min-phớt
Người giữ nhà thờ đứng ở cổng nhà nguyện làng Min-phớt, ra sức kéo dây chuông. Các cụ già trong làng lom khom đi dọc phố. Lũ trẻ mặt mũi tươi tắn nhảy chân sáo bên cạnh cha mẹ, hoặc bắt chước dáng đi nghiêm trang hơn vì biết mình đang mặc quần áo ngày chủ nhật. Những anh chàng độc thân chải chuốt liếc trộm các cô gái xinh, và tưởng như nắng ngày Sa-bát làm các cô xinh hơn ngày thường. Khi đám đông đã vào gần hết trong cổng, người giữ nhà thờ bắt đầu thong thả gióng chuông, mắt vẫn dõi về phía cửa nhà mục sư Hu-pơ. Hễ vừa thoáng thấy bóng dáng mục sư là chuông thôi gọi.
Người giữ nhà thờ kinh ngạc kêu lên:
– Nhưng mục sư Hu-pơ tốt bụng đeo cái gì trên mặt thế kia?
Tất cả những ai nghe thấy đều lập tức quay lại, và thấy một bóng người giống ông Hu-pơ đang chậm rãi, trầm ngâm bước về phía nhà nguyện. Họ cùng giật mình, tỏ ra kinh ngạc hơn cả khi có một mục sư lạ nào đó đến phủi bụi nệm trên bục giảng của ông Hu-pơ.
Ông Gơ-rây hỏi người giữ nhà thờ:
– Anh có chắc đó là mục sư của chúng ta không?
Người giữ nhà thờ đáp:
– Chắc chắn là ông Hu-pơ tốt bụng mà. Lẽ ra ông ấy đổi bục giảng với mục sư Sút ở làng Oét-xbơ-ri, nhưng hôm qua mục sư Sút đã nhắn xin lỗi, vì phải giảng ở một đám tang.
Nguyên nhân của bao nhiêu kinh ngạc ấy có vẻ khá nhỏ nhặt. Ông Hu-pơ là một người phong nhã chừng ba mươi tuổi, tuy vẫn còn độc thân, ăn mặc chỉnh tề đúng mực của giới tu hành, như thể có một bà vợ chu đáo đã hồ cứng cổ áo và chải sạch bụi cả tuần trên bộ đồ ngày chủ nhật của ông. Trên dáng vẻ của ông chỉ có một điều đáng chú ý. Quấn quanh trán và buông xuống che mặt, thấp đến nỗi hơi thở cũng làm nó lay động, ông Hu-pơ đeo một tấm mạng đen. Nhìn gần hơn thì thấy nó gồm hai lớp vải kếp, che kín toàn bộ nét mặt ông, chỉ trừ miệng và cằm. Nhưng có lẽ nó không cản tầm nhìn của ông, ngoài việc phủ một vẻ tối sầm lên mọi vật, sống cũng như không sống. Với bóng tối u ám ấy trước mặt, ông Hu-pơ tốt bụng cứ thế bước đi chậm rãi, lặng lẽ, hơi còng lưng và nhìn xuống đất như những người hay đãng trí, nhưng vẫn gật đầu thân ái với những con chiên còn đang đứng chờ trên bậc thềm nhà nguyện. Có điều họ sửng sốt đến nỗi lời chào của ông hầu như không được ai đáp lại.
Người giữ nhà thờ nói:
– Tôi cứ thấy như đằng sau mảnh vải kếp ấy không phải là mặt ông Hu-pơ tốt bụng.
Một bà già vừa khập khiễng đi vào nhà nguyện vừa lẩm bẩm:
– Tôi không thích thế. Chỉ bằng cách che mặt đi mà ông ấy đã biến mình thành một cái gì đó thật khủng khiếp.
Ông Gơ-rây vừa theo sau bà qua ngưỡng cửa vừa kêu lên:
– Mục sư của chúng ta hoá điên rồi!
Tin đồn về một hiện tượng không sao giải thích được đã vào nhà nguyện trước ông Hu-pơ, khiến cả giáo đoàn nhốn nháo. Ít ai nhịn được không ngoái đầu về phía cửa. Nhiều người đứng hẳn dậy, quay ngoắt lại. Mấy cậu bé trèo lên ghế, rồi lại nhảy xuống ầm ĩ. Khắp nơi xôn xao, váy áo đàn bà sột soạt, chân đàn ông lê lết, hoàn toàn trái với sự yên tĩnh lặng lẽ lẽ ra phải có khi mục sư bước vào. Nhưng ông Hu-pơ dường như không để ý tới sự náo động của con chiên. Ông bước vào gần như không một tiếng động, hiền hoà nghiêng đầu chào những hàng ghế hai bên, và cúi chào khi đi qua con chiên cao tuổi nhất của mình, một cụ già tóc trắng đã có chắt, đang ngồi trên chiếc ghế bành giữa lối đi. Lạ thay khi thấy cụ già đáng kính ấy chậm chạp mãi mới nhận ra có điều gì khác thường trong dáng vẻ của mục sư. Cụ dường như chưa hoàn toàn chia sẻ nỗi kinh ngạc chung, cho tới khi ông Hu-pơ đã bước lên cầu thang và đứng trên bục giảng, đối mặt với giáo đoàn, chỉ cách nhau bởi tấm mạng đen. Biểu tượng bí ẩn ấy không một lần được vén lên. Nó lay động theo hơi thở đều đặn của ông khi ông xướng bài thánh vịnh. Nó phủ bóng tối của nó giữa ông và trang sách thánh khi ông đọc Kinh Thánh. Và khi ông cầu nguyện, tấm mạng nằm nặng trĩu trên khuôn mặt ngước lên của ông. Phải chăng ông muốn giấu mặt mình trước Đấng đáng kính sợ mà ông đang thưa chuyện?
Mảnh vải kếp giản dị ấy gây ra ấn tượng mạnh đến nỗi không chỉ một người đàn bà yếu thần kinh phải bỏ ra khỏi nhà nguyện. Thế nhưng có lẽ đối với vị mục sư, cảnh giáo đoàn mặt tái mét kia cũng đáng sợ gần như tấm mạng đen của ông đối với họ.
Ông Hu-pơ có tiếng là một người giảng đạo giỏi, nhưng không phải loại hùng hổ. Ông cố gắng đưa con chiên của mình lên thiên đàng bằng sự cảm hoá dịu dàng và thuyết phục, hơn là lùa họ tới đó bằng những lời giảng sấm sét. Bài giảng ông đọc lần này mang cùng những nét về văn phong và cách thức như mọi bài giảng khác của ông trên bục. Nhưng hoặc là do tình cảm trong chính bài giảng, hoặc do trí tưởng tượng của người nghe, mà nó trở thành bài giảng mạnh mẽ nhất họ từng nghe từ miệng mục sư của mình. Nó nhuốm màu u ám hơn thường lệ, cái u ám dịu dàng trong tính khí của ông Hu-pơ. Đề tài nói về tội lỗi thầm kín, về những bí mật đáng buồn mà chúng ta giấu những người gần gũi và thân yêu nhất, và muốn giấu cả với chính ý thức của mình, quên rằng Đấng Toàn Tri có thể phát hiện ra chúng. Một sức mạnh tinh tế đã được thổi vào lời ông. Mỗi người trong giáo đoàn, từ cô gái ngây thơ nhất tới người đàn ông lòng dạ chai sạn nhất, đều cảm thấy như vị giảng đạo đã rón rén lại gần họ sau tấm mạng khủng khiếp của mình, và phát hiện ra tội lỗi mà họ cất giấu, trong việc làm hay trong ý nghĩ. Nhiều người chắp tay áp lên ngực. Trong những gì ông Hu-pơ nói không có gì khủng khiếp, ít ra cũng không có gì dữ dội. Vậy mà mỗi lần giọng nói u sầu của ông run lên, người nghe lại run rẩy. Một nỗi xót xa không ai tìm đến đã đi cùng với nỗi kính sợ. Người nghe cảm thấy rõ ở mục sư của mình có một nét khác thường nào đó, đến nỗi họ mong có một làn gió thổi vén tấm mạng sang bên, gần như tin rằng sẽ thấy lộ ra gương mặt của một người lạ, dù dáng hình, cử chỉ và giọng nói vẫn là của ông Hu-pơ.
Khi buổi lễ kết thúc, người ta vội vã ra về, chen lấn lộn xộn thiếu đứng đắn, nóng lòng muốn nói ra nỗi kinh ngạc bị dồn nén, và thấy lòng nhẹ nhõm ngay khi khuất mắt tấm mạng đen. Có người tụ lại thành những vòng nhỏ, chụm sát vào nhau, miệng thì thầm ở giữa vòng. Có người về nhà một mình, chìm trong suy tưởng lặng lẽ. Có người nói to và báng bổ ngày Sa-bát bằng những tràng cười phô trương. Vài người lắc cái đầu thông thái, ngụ ý rằng mình có thể nhìn thấu bí ẩn. Trong khi một hai người khác quả quyết rằng chẳng có bí ẩn gì cả, chỉ là mắt ông Hu-pơ bị ngọn đèn khuya làm cho yếu đi nên cần che bớt ánh sáng.
Sau một lát, ông Hu-pơ tốt bụng cũng đi ra, sau cùng đàn chiên của mình. Quay gương mặt che mạng từ nhóm này sang nhóm khác, ông tỏ lòng kính trọng đúng mực với những mái đầu bạc, chào người trung niên với vẻ trang nghiêm hiền hậu của một người bạn và người dẫn dắt tinh thần, chào người trẻ với sự pha trộn giữa uy quyền và tình thương, và đặt tay lên đầu lũ trẻ nhỏ để ban phước. Ngày Sa-bát nào ông cũng làm thế. Đáp lại sự lịch thiệp của ông là những ánh mắt kỳ lạ và bối rối. Không ai, như những lần trước, mong được vinh dự đi bên cạnh mục sư của mình. Ông già Xon-đơ, hẳn là do tình cờ quên mất, đã không mời ông Hu-pơ đến dùng bữa, nơi vị mục sư tốt bụng vẫn đến ban phước cho bữa ăn gần như mọi ngày chủ nhật kể từ khi ông về đây. Vì thế ông quay về nhà mục sư. Và lúc đóng cửa, người ta thấy ông ngoái nhìn lại mọi người, ai nấy đều đang dán mắt vào ông. Một nụ cười buồn thoáng ánh lên mờ nhạt bên dưới tấm mạng đen, chập chờn quanh miệng ông, lấp loáng lúc ông khuất vào nhà.
Một bà nói:
– Lạ thật, một tấm mạng đen bình thường, thứ mà người đàn bà nào cũng có thể đeo trên mũ, lại trở thành một thứ khủng khiếp đến thế trên mặt ông Hu-pơ!
Chồng bà, ông thầy thuốc trong làng, nhận xét:
– Chắc chắn đầu óc ông Hu-pơ có vấn đề gì rồi. Nhưng điều lạ lùng nhất trong chuyện này là tác động của cái trò quái gở ấy, ngay cả đối với một người tỉnh táo như tôi. Tấm mạng đen tuy chỉ che mặt mục sư của chúng ta, nhưng ảnh hưởng của nó lan ra toàn thân ông, khiến ông trông như bóng ma từ đầu tới chân. Bà không cảm thấy thế sao?
Bà vợ đáp:
– Cảm thấy thật đấy. Có cho cả thế giới tôi cũng không chịu ở một mình với ông ấy. Tôi lấy làm lạ là ông ấy không sợ ở một mình với chính mình.
Người chồng bảo:
– Đàn ông đôi khi cũng sợ thế đấy.
Buổi lễ chiều diễn ra cũng y như vậy. Lễ xong, chuông nhà thờ gióng lên cho đám tang của một thiếu nữ. Họ hàng và bạn bè tụ tập trong nhà, còn những người quen xa hơn thì đứng quanh cửa, nói về những đức tính tốt của người quá cố, thì câu chuyện của họ bị ngắt quãng khi ông Hu-pơ xuất hiện, vẫn đeo tấm mạng đen. Giờ thì nó là một biểu tượng thích hợp. Vị mục sư bước vào căn phòng đặt thi hài, cúi xuống bên quan tài để vĩnh biệt con chiên đã khuất của mình. Khi ông cúi xuống, tấm mạng buông thẳng từ trán xuống, đến nỗi nếu mi mắt nàng chưa khép lại vĩnh viễn, cô gái đã chết có thể nhìn thấy mặt ông. Có lẽ nào ông Hu-pơ sợ cái nhìn của nàng, mà vội vàng kéo tấm mạng đen lại như thế? Một người theo dõi cuộc gặp gỡ giữa người chết và người sống đã không ngần ngại quả quyết rằng đúng vào lúc nét mặt vị mục sư lộ ra, thi thể khẽ rùng mình, làm sột soạt tấm vải liệm và chiếc mũ vải mỏng, dù gương mặt vẫn giữ vẻ bình thản của cái chết. Nhân chứng duy nhất của điềm lạ ấy là một bà già mê tín.
Từ bên quan tài, ông Hu-pơ đi sang phòng của những người đưa tang, rồi tới đầu cầu thang để đọc lời cầu nguyện cho người chết. Đó là một lời cầu nguyện dịu dàng, làm tan nát lòng người, đầy buồn thương, nhưng thấm đẫm những hy vọng thiên đàng, đến nỗi dường như người ta nghe văng vẳng tiếng đàn hạc trên trời do ngón tay người chết gảy, giữa những lời buồn thảm nhất của vị mục sư. Mọi người run rẩy, dù họ chỉ lờ mờ hiểu ông, khi ông cầu nguyện cho họ và chính ông, và cho cả loài người phải chết, được sẵn sàng như ông tin là cô gái trẻ này đã sẵn sàng, cho cái giờ khủng khiếp sẽ giật phăng tấm mạng khỏi mặt họ. Những người khiêng quan tài nặng nề bước ra, những người đưa tang theo sau, làm cả con phố ủ ê, người chết đi trước, ông Hu-pơ với tấm mạng đen đi sau.
Một người trong đám tang hỏi người đi cùng:
– Sao chị cứ ngoái lại thế?
Người kia đáp:
– Tôi cứ tưởng như mục sư và linh hồn cô gái đang nắm tay nhau mà đi.
Người thứ nhất bảo:
– Cùng lúc ấy tôi cũng tưởng như thế.
Tối hôm ấy, cặp trai gái đẹp đôi nhất làng Min-phớt làm lễ thành hôn. Tuy bị coi là người u sầu, ông Hu-pơ lại có một vẻ vui tươi điềm đạm trong những dịp như thế, thường gợi được một nụ cười đồng cảm ở những nơi mà sự vui nhộn ồn ào hơn chẳng ăn thua gì. Chẳng có đức tính nào trong con người ông khiến ông được yêu mến hơn thế. Khách dự đám cưới nóng lòng chờ ông đến, tin rằng nỗi kính sợ lạ lùng phủ quanh ông suốt cả ngày giờ sẽ tan đi. Nhưng kết quả không phải vậy. Khi ông Hu-pơ đến, thứ đầu tiên đập vào mắt họ là chính tấm mạng đen khủng khiếp ấy, thứ đã làm đám tang thêm u ám và chẳng thể báo trước điều gì ngoài tai ương cho đám cưới. Nó gây cho khách khứa ấn tượng tức thì đến nỗi dường như có một đám mây cuồn cuộn toả ra mờ mịt từ dưới lớp vải kếp đen, làm mờ cả ánh nến. Cặp vợ chồng mới đứng lên trước mặt mục sư. Nhưng những ngón tay lạnh giá của cô dâu run lên trong bàn tay run rẩy của chú rể, và vẻ nhợt nhạt như xác chết của cô khiến người ta thì thầm rằng cô gái vừa được chôn mấy giờ trước đã từ dưới mồ lên để làm đám cưới. Nếu từng có đám cưới nào thê lương như thế, thì đó là cái đám cưới nổi tiếng mà người ta đã gióng chuông báo tử.
Làm lễ xong, ông Hu-pơ nâng ly rượu lên môi, chúc đôi vợ chồng mới hạnh phúc bằng một giọng vui đùa nhẹ nhàng, lẽ ra phải làm sáng bừng gương mặt khách khứa như ánh lửa vui tươi từ lò sưởi. Đúng lúc ấy, ông thoáng thấy hình mình trong gương, và tấm mạng đen đã cuốn chính tâm hồn ông vào nỗi kinh hoàng mà nó trút lên tất cả mọi người. Người ông rùng mình, môi ông trắng bệch, ông đánh đổ ly rượu chưa nhấp xuống thảm, rồi lao ra ngoài bóng tối. Bởi mặt đất cũng đang đeo tấm mạng đen của nó.
Hôm sau, cả làng Min-phớt hầu như chỉ nói về tấm mạng đen của mục sư Hu-pơ. Nó, và cái bí ẩn giấu sau nó, trở thành đề tài bàn tán giữa những người quen gặp nhau ngoài phố và các bà nội trợ tán chuyện bên cửa sổ mở. Đó là tin đầu tiên ông chủ quán kể cho khách. Lũ trẻ ríu rít nói về nó trên đường đến trường. Một thằng nhóc hay bắt chước lấy một chiếc khăn tay đen cũ che mặt, làm lũ bạn sợ hết hồn, đến nỗi chính nó cũng hoảng theo, và suýt mất trí vì trò đùa của chính mình.
Điều đáng chú ý là trong số tất cả những kẻ lắm chuyện và hỗn xược trong giáo xứ, không một ai dám hỏi thẳng ông Hu-pơ vì sao ông làm thế. Trước đây, hễ có chút cần thiết phải can thiệp, ông chưa bao giờ thiếu người khuyên bảo, cũng chưa bao giờ tỏ ra không muốn nghe theo ý kiến của họ. Nếu ông có sai lầm gì, thì đó là vì ông tự nghi ngờ mình đến mức đau đớn, đến nỗi chỉ một lời chê trách nhẹ nhàng nhất cũng khiến ông coi một việc làm bình thường là một tội lỗi. Thế nhưng, dù biết rõ cái nhược điểm đáng mến ấy, không ai trong số con chiên của ông chọn tấm mạng đen làm đề tài để can gián ông một cách thân tình. Có một nỗi sợ hãi, không hẳn thú nhận ra mà cũng không cố giấu đi, khiến người này đùn đẩy trách nhiệm cho người kia. Mãi rồi người ta thấy nên cử một phái đoàn của nhà thờ đến gặp ông Hu-pơ về chuyện bí ẩn này, trước khi nó trở thành một vụ tai tiếng.
Chưa bao giờ có một phái đoàn nào làm nhiệm vụ tồi đến thế. Vị mục sư tiếp họ với vẻ lịch sự thân tình, nhưng khi họ đã ngồi xuống thì ông im lặng, để khách của mình gánh trọn việc mở đầu câu chuyện hệ trọng. Người ta tưởng đề tài đã quá rõ ràng. Tấm mạng đen vẫn quấn quanh trán ông Hu-pơ, che kín mọi nét mặt phía trên cái miệng điềm tĩnh của ông, nơi thỉnh thoảng họ thấy lấp loáng một nụ cười u sầu. Nhưng trong trí tưởng tượng của họ, mảnh vải kếp ấy dường như buông xuống trước trái tim ông, biểu tượng của một bí mật khủng khiếp giữa ông và họ. Giá tấm mạng được bỏ đi, họ có thể thoải mái nói về nó. Nhưng chừng nào chưa bỏ thì không. Thế là họ ngồi khá lâu, không nói nên lời, bối rối, khó chịu né tránh ánh mắt ông Hu-pơ, ánh mắt mà họ cảm thấy đang dán vào mình bằng một cái nhìn vô hình. Cuối cùng, các vị đại biểu ngượng ngùng trở về với những người đã cử họ đi, tuyên bố rằng chuyện này quá hệ trọng, chỉ có hội đồng các nhà thờ mới giải quyết được, nếu quả thật không phải cần tới cả một Đại Hội đồng.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn