Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Tạo hoá sắp đặt

của O. Henry

⏱ 11 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 11.535 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Hôm nọ, ở một phòng triển lãm, tôi thấy…
  2. 4:12"Có một số phận đang treo lơ lửng trên…
  3. 4:55"Một ngày kia," Cráp trịnh trọng kết luận, "sẽ…
  4. 5:18Chúng tôi nhất trí rằng số phận khủng khiếp…
  5. 6:45Chúng tôi đang ăn bữa tối gồm thịt bò…
  6. 8:30Cráp là người hành động trước tiên. Anh ta…
  7. 9:59Vậy là việc đã xong. Chúng tôi đã dùng…
  8. 11:15Tôi vội vã đi tìm Cráp. Đôi mắt quỷ…

Hôm nọ, ở một phòng triển lãm, tôi thấy một bức tranh đã bán được năm nghìn đô-la. Người vẽ là một gã trai miền Tây vô danh tên là Cráp, kẻ có một món ăn ruột và một học thuyết cưng. Thứ nuôi dưỡng tinh thần anh ta là niềm tin không gì dập tắt nổi vào Sự Sắp Đặt Nghệ Thuật Không Bao Giờ Sai Của Tạo Hoá. Còn học thuyết của anh ta thì cứ quấn quýt quanh món thịt bò muối băm xào, bên trên có quả trứng chần. Đằng sau bức tranh ấy có một câu chuyện, nên tôi về nhà và để nó nhỏ giọt ra từ ngòi bút máy. Cái ý của Cráp, à mà không, chuyện không bắt đầu từ đó.

Ba năm trước, Cráp, Bin Giát-kin, một nhà thơ, và tôi thường ăn ở quán của Xai-phơ trên Đại lộ Tám. Tôi nói là "ăn", còn chuyện trả tiền thì lại khác. Hễ chúng tôi có tiền thì Xai-phơ "moi" được của chúng tôi, như lão vẫn nói. Chúng tôi không được ghi sổ nợ. Chúng tôi bước vào, gọi đồ ăn, rồi ăn. Có hôm trả, có hôm không. Chúng tôi tin cậy ở cái vẻ cau có và cái dữ tợn âm ỉ của lão Xai-phơ. Tận đáy tâm hồn không chút ánh mặt trời của lão, lão hoặc là một ông hoàng, hoặc là một thằng ngốc, hoặc là một nghệ sĩ. Lão ngồi sau một cái bàn mọt ăn lỗ chỗ, chất đầy những xấp phiếu tính tiền cũ đến mức tôi dám chắc tờ dưới cùng là tờ ghi đĩa sò mà nhà thám hiểm Hen-đrích Hớt-xơn đã ăn và đã trả tiền. Giống như vua Na-pô-lê-ông đệ tam và giống như loài cá rô mắt lồi, Xai-phơ có tài phủ một lớp màng lên mắt, khiến những ô cửa sổ tâm hồn lão đục mờ hẳn đi. Có lần chúng tôi bỏ đi không trả tiền, với những lời xin lỗi trơ trẽn hết chỗ nói, tôi ngoái lại thì thấy lão đang rung người cười không ra tiếng sau lớp màng ấy. Thỉnh thoảng chúng tôi cũng trả bớt nợ cũ.

Nhưng thứ chính yếu ở quán Xai-phơ là Mi-li. Mi-li là cô hầu bàn. Cô là một ví dụ hùng tráng cho học thuyết của Cráp về sự sắp đặt nghệ thuật của tạo hoá. Cô sinh ra là để bưng bê, chẳng khác gì nữ thần Mi-néc-va sinh ra cho nghệ thuật đánh đấm, hay thần Vê-nút sinh ra cho khoa học tán tỉnh nghiêm túc. Nếu đặt lên bệ và đúc bằng đồng, cô có thể đứng ngang hàng những chị em anh hùng cao quý nhất của mình, với cái tên "Gan Xào Thịt Muối Làm Bừng Sáng Thế Gian". Cô thuộc về quán Xai-phơ. Người ta chờ thấy thân hình đồ sộ của cô hiện ra lừng lững qua làn khói xanh nồng nặc mùi mỡ rán, như người ta chờ thấy dãy vách đá Pa-li-xết hiện ra qua lớp sương trôi trên sông Hớt-xơn. Ở đó, giữa hơi nước bốc lên từ nồi rau, giữa mùi giăm-bông rán bốc lên như từ cả một cánh đồng, giữa tiếng bát đĩa loảng xoảng, tiếng dao nĩa lách cách, tiếng gào gọi món, tiếng kêu của những kẻ đói và toàn bộ cái huyên náo ghê rợn của loài người đang ăn, giữa những đàn ruồi vo ve mà vua Pha-ra-ông để lại cho chúng ta, Mi-li lướt đi uy nghi như một con tàu biển khổng lồ rẽ sóng giữa những chiếc xuồng con đầy tiếng hò hét.

Nữ Thần Cơm Áo của chúng tôi được tạc theo những đường nét oai vệ đến mức người ta chỉ dám dõi theo với lòng kính sợ. Tay áo cô lúc nào cũng xắn quá khuỷu. Cô có thể nhấc ba chàng ngự lâm pháo thủ chúng tôi bằng hai bàn tay rồi thả qua cửa sổ. Cô ít tuổi hơn bất kỳ ai trong ba chúng tôi, vậy mà cô mang một vẻ đàn bà nguyên sơ, giản dị, tuyệt vời đến mức ngay từ đầu cô đã chăm chúng tôi như một người mẹ. Kho đồ ăn của Xai-phơ, cô trút lên chúng tôi với một sự thờ ơ vương giả đối với giá cả và số lượng, như thể rót ra từ một cái sừng sung túc không bao giờ cạn. Giọng cô vang như một quả chuông bạc lớn. Cô cười luôn, nụ cười để lộ nhiều răng. Cô giống như bình minh vàng rực trên đỉnh núi. Chưa lần nào thấy cô mà tôi không nghĩ tới thung lũng Yô-xê-mi-ti. Vậy mà, chẳng hiểu sao, tôi không tài nào hình dung nổi cô tồn tại ở đâu khác ngoài quán Xai-phơ. Tạo hoá đã đặt cô ở đó, và cô đã bén rễ, mọc lên mạnh mẽ. Cô có vẻ hạnh phúc, và mỗi tối thứ bảy nhận mấy đồng đô-la còm cõi với niềm vui đỏ bừng mặt của đứa trẻ được cho quà bất ngờ.

Chính Cráp là người đầu tiên nói ra nỗi sợ mà hẳn ai trong chúng tôi cũng ngấm ngầm mang trong lòng. Dĩ nhiên nó nảy ra nhân lúc chúng tôi đang tranh cãi nảy lửa về mấy vấn đề nghệ thuật. Một người trong bọn đem sự hoà hợp giữa một bản giao hưởng của Hay-đơn với món kem hạt dẻ cười ra so sánh với sự ăn khớp tuyệt diệu giữa Mi-li và quán Xai-phơ.

"Có một số phận đang treo lơ lửng trên đầu Mi-li," Cráp nói, "và nếu nó ập xuống thì quán Xai-phơ và cả chúng ta sẽ mất cô ấy."

"Cô ấy sẽ phát phì à?" Giát-kin hỏi, giọng đầy sợ hãi.

"Cô ấy sẽ đi học lớp đêm rồi hoá thành người tao nhã à?" tôi lo lắng đánh bạo hỏi.

"Là thế này," Cráp nói, dùng một ngón tay cứng đờ chấm câu vào vũng cà phê đổ trên bàn. "Xê-da có Bru-tút của mình. Cây bông có sâu đục quả. Cô gái đồng ca có anh chàng nhà giàu ở Pít-xbớc. Khách trọ mùa hè có cây thường xuân độc. Người anh hùng có huân chương Các-nê-ghi. Nghệ thuật có ông Moóc-gan. Đoá hồng có..."

"Nói đi," tôi ngắt lời, lòng rối bời. "Anh không nghĩ là Mi-li sẽ bắt đầu thắt áo nịt đấy chứ?"

"Một ngày kia," Cráp trịnh trọng kết luận, "sẽ có một ông vua gỗ triệu phú từ Uýt-xcon-xin bước vào quán Xai-phơ gọi một đĩa đậu, và ông ta sẽ cưới Mi-li."

"Không đời nào!" Giát-kin và tôi kinh hoàng kêu lên.

"Một ông buôn gỗ," Cráp khàn giọng nhắc lại.

"Mà lại là ông buôn gỗ triệu phú!" tôi thở dài tuyệt vọng.

"Từ Uýt-xcon-xin!" Giát-kin rên rỉ.

Chúng tôi nhất trí rằng số phận khủng khiếp ấy dường như đang đe doạ cô. Ít có điều gì dễ xảy ra hơn thế. Mi-li, giống như một cánh rừng thông nguyên sơ bát ngát, sinh ra là để lọt vào mắt các ông buôn gỗ. Mà chúng tôi lại quá rõ thói quen của dân Uýt-xcon-xin một khi được vận may mỉm cười. Họ phóng thẳng tới New York, đem của cải đặt dưới chân cô gái bưng đậu cho họ trong một quán đậu. Đến cả bảng chữ cái cũng đồng loã. Người viết tít báo chủ nhật đã có sẵn việc mà làm:

"Cô Bồi Bàn Bé Bỏng Bắt Được Bá Chủ Buôn Bán Gỗ."

Một thời gian, chúng tôi cảm thấy Mi-li sắp vuột khỏi tay mình.

Chính tình yêu của chúng tôi đối với Sự Sắp Đặt Nghệ Thuật Không Bao Giờ Sai Của Tạo Hoá đã truyền cảm hứng cho chúng tôi. Chúng tôi không thể trao cô cho một ông buôn gỗ, kẻ bị nguyền rủa gấp đôi vì giàu và vì tỉnh lẻ. Chúng tôi rùng mình khi nghĩ tới cảnh Mi-li, giọng đã uốn cho dịu, khuỷu tay đã che kín, đang rót trà trong toà dinh thự cẩm thạch của một kẻ chuyên giết cây. Không! Cô thuộc về quán Xai-phơ, thuộc về khói thịt xông, hương bắp cải, và bản đồng ca hùng tráng kiểu Vác-ne của bát đĩa sành bay vèo vèo và lọ gia vị khua lanh canh.

Nỗi sợ của chúng tôi hẳn là lời tiên tri, vì ngay tối hôm ấy, rừng hoang đã thả xuống đầu chúng tôi kẻ được định sẵn để cướp Mi-li đi, kẻ thù của trật tự và sự sắp đặt. Có điều, gánh nặng của cuộc viếng thăm ấy không phải do Uýt-xcon-xin mang tới, mà là A-lát-xca.

Chúng tôi đang ăn bữa tối gồm thịt bò hầm và táo khô thì hắn lật đật bước vào, như vừa chạy theo sau một cỗ xe chó kéo, và ngồi chung bàn với chúng tôi. Với cái tính xởi lởi của dân lán trại, hắn oang oang trò chuyện và nhận ngay chúng tôi làm anh em, những kẻ cùng lạc giữa rừng hoang của một quán ăn rẻ tiền. Chúng tôi đón lấy hắn như một mẫu vật quý, và chỉ ba phút sau, chúng tôi đã sẵn sàng chết vì nhau như những người bạn chí cốt.

Hắn vạm vỡ, râu ria, da khô sạm vì gió. Hắn bảo vừa mới rời khỏi "đường mòn", ở một bến phà sông Bắc. Tôi tưởng như còn thấy bụi tuyết đèo Chin-cút rắc trắng trên vai hắn. Rồi hắn bày la liệt ra bàn những thỏi vàng, chim gà gô nhồi bông, đồ thêu cườm và da hải cẩu của người vừa từ xứ vàng Clôn-đai trở về, và bắt đầu huyên thuyên với chúng tôi về hàng triệu đô-la của hắn.

"Hối phiếu ngân hàng hai triệu," hắn tổng kết, "và mỗi ngày mỏ của tôi lại chất thêm một nghìn. Giờ tôi muốn ăn thịt bò hầm với đào hộp. Từ lúc đánh xe chó rời Xi-át-tơn tới giờ, tôi chưa xuống tàu lần nào, đói lắm rồi. Đồ ăn người ta dọn trên toa ngủ chẳng đáng kể. Các quý ông cứ gọi món gì tuỳ thích."

Và rồi Mi-li hiện ra sừng sững, cánh tay trần đỡ cả nghìn cái đĩa. Cô hiện ra to lớn, trắng hồng và đáng sợ như ngọn núi Xanh Ê-li-a, với nụ cười như ngày rạng trên một hẻm núi. Gã từ Clôn-đai vứt bỏ da thú và vàng thỏi của mình như thứ cặn bã, há hốc miệng, trân trân nhìn cô. Người ta gần như thấy được những chiếc vương miện kim cương trên trán Mi-li và những bộ áo lụa Pa-ri thêu tay mà hắn định mua cho cô.

Thế là rốt cuộc con sâu đã đục vào quả bông, cây thường xuân độc đã vươn tua ra quấn lấy người khách trọ mùa hè, ông vua gỗ triệu phú, cải trang sơ sài thành gã đào vàng A-lát-xca, sắp nuốt chửng Mi-li của chúng tôi và đảo lộn sự sắp đặt của tạo hoá.

Cráp là người hành động trước tiên. Anh ta bật dậy, đập thùm thụp vào lưng gã Clôn-đai. "Ra ngoài làm một chầu đã!" anh ta hét. "Uống trước, ăn sau." Giát-kin chộp một cánh tay, tôi chộp cánh tay kia. Vui vẻ, ồn ào, không cưỡng lại được, theo đúng kiểu bạn bè chí cốt, chúng tôi lôi hắn ra khỏi quán ăn sang một tiệm rượu, vừa đi vừa nhét vào túi hắn lũ chim ướp xác và mấy thỏi vàng khó tiêu.

Tới đó, hắn càu nhàu phản đối, giọng thô mà vẫn vui vẻ. "Cô gái ấy mới đáng đồng tiền của tôi," hắn tuyên bố. "Cô ấy có thể ăn chung chảo với tôi suốt quãng đời còn lại. Trời đất, tôi chưa từng thấy cô gái nào đẹp như thế. Tôi sẽ quay lại đó hỏi cưới cô ấy. Tôi đoán khi thấy đống vàng của tôi, cô ấy sẽ chẳng muốn bưng đĩa thịt băm nữa đâu."

"Giờ anh làm thêm ly uýt-ki pha sữa đã," Cráp dỗ dành, với nụ cười của quỷ Xa-tăng. "Tôi cứ tưởng dân miền núi tuyết các anh chơi đẹp hơn kia."

Cráp tiêu sạch mấy đồng bạc còm của mình ở quầy rượu, rồi nhìn Giát-kin và tôi bằng ánh mắt khẩn khoản đến mức chúng tôi dốc tới đồng xu cuối cùng để nâng ly chúc mừng vị khách.

Rồi, khi đạn dược của chúng tôi, tức là tiền, đã hết sạch mà gã Clôn-đai vẫn còn tỉnh táo kha khá, lại bắt đầu lải nhải về Mi-li, Cráp ghé tai hắn thì thầm một câu lăng mạ lịch sự mà sắc như móc câu, nói về những kẻ keo kiệt với tiền của mình. Thế là gã đào vàng đập xuống quầy hết nắm bạc này tới nắm giấy bạc khác, gọi tất cả các thứ nước trên đời để dìm câu sỉ nhục ấy xuống.

Vậy là việc đã xong. Chúng tôi đã dùng chính súng của hắn đuổi hắn ra khỏi chiến trường. Rồi chúng tôi cho xe chở hắn tới một khách sạn nhỏ ở tít đằng xa, đặt hắn lên giường, xung quanh nhét đầy vàng thỏi và da hải cẩu con.

"Hắn sẽ không bao giờ tìm lại được quán Xai-phơ nữa," Cráp nói. "Sáng mai hắn sẽ cầu hôn cái tạp dề trắng đầu tiên hắn thấy trong một tiệm sữa. Còn Mi-li, à, tôi muốn nói Sự Sắp Đặt Của Tạo Hoá, đã được cứu rồi!"

Rồi ba chúng tôi kéo nhau về quán Xai-phơ, và thấy khách khứa vắng vẻ, chúng tôi nắm tay nhau nhảy một điệu múa của người da đỏ, Mi-li đứng ở giữa.

Chuyện ấy, như tôi đã nói, xảy ra ba năm trước. Cũng khoảng thời gian ấy, ba chúng tôi gặp chút may mắn, nên đủ sức mua những thứ đồ ăn đắt tiền hơn và kém lành hơn đồ ăn ở quán Xai-phơ. Đường ai nấy đi. Tôi không gặp lại Cráp nữa, còn Giát-kin thì hiếm khi.

Nhưng, như tôi đã nói, hôm nọ tôi thấy một bức tranh bán được năm nghìn đô-la. Bức tranh mang tên "Bô-a-đi-xi-a", vị nữ hoàng chiến binh, và hình người trong tranh dường như choán hết cả trời đất. Nhưng trong số những người đứng ngắm bức tranh, tôi tin mình là người duy nhất mong cho nàng Bô-a-đi-xi-a bước ra khỏi khung, mang tới cho tôi một đĩa thịt bò muối băm xào với trứng chần.

Tôi vội vã đi tìm Cráp. Đôi mắt quỷ quái của anh ta vẫn thế, tóc rối hơn, nhưng quần áo thì đã do thợ may cắt.

"Thế mà tôi chẳng hay biết gì," tôi nói với anh ta.

"Vợ chồng tôi lấy tiền ấy mua một ngôi nhà nhỏ ở khu Brôn-xơ," anh ta nói. "Mời anh tới chơi, tối nào cũng được, bảy giờ nhé."

"Thế thì," tôi nói, "hồi anh dẫn bọn tôi đánh lại ông vua gỗ, à, gã Clôn-đai ấy, thì không hoàn toàn chỉ vì Sự Sắp Đặt Nghệ Thuật Không Bao Giờ Sai Của Tạo Hoá đấy chứ?"

"Ừ, không hoàn toàn," Cráp nhe răng cười.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảO. Henry (1862 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1906
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: An Adjustment of Nature, O. Henry, in trong tuyển tập The Four Million
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →