Ngày xưa có một tên trộm đang lúc thất nghiệp, lang thang một mình dọc bờ biển. Đang đi, hắn qua chỗ một người đàn ông đứng yên ngắm sóng.
Tên trộm bắt chuyện với người lạ:
— Chẳng biết bác đã bao giờ thấy hòn đá biết bơi chưa nhỉ?
Người kia đáp:
— Thấy chứ sao không. Lại còn thấy chính hòn đá ấy nhảy vọt lên khỏi mặt nước, bay vèo vèo trên trời nữa kia.
Tên trộm reo lên:
— Hay tuyệt! Bác với tôi phải chung lưng với nhau mới được. Thế nào ta cũng phát tài. Ta cùng sang cung vua nước bên cạnh. Tới nơi, tôi sẽ một mình vào gặp vua, kể cho vua nghe chuyện gì kinh thiên động địa nhất tôi bịa ra được. Rồi bác theo sau, phụ hoạ cho lời nói dối của tôi.
Thoả thuận xong, hai người lên đường. Đi mấy ngày, họ tới kinh thành có cung vua. Tới đó, hai người tách nhau ra ít giờ. Tên trộm xin vào yết kiến nhà vua, rồi xin vua cho một cốc bia.
Nhà vua bảo:
— Không được đâu, vì năm nay mất mùa cả, hoa bia với nho cũng mất, nên khắp nước chẳng có lấy một giọt rượu, giọt bia nào.
Tên trộm đáp:
— Lạ chưa! Thần vừa ở một xứ tới, bên ấy được mùa đến nỗi thần thấy người ta nấu được mười hai thùng bia chỉ từ một cành hoa bia.
Nhà vua bảo:
— Ta cuộc với ngươi ba trăm đồng vàng rằng chuyện ấy không có thật.
Tên trộm đáp:
— Còn thần cuộc với bệ hạ ba trăm đồng vàng rằng chuyện ấy có thật.
Thế là mỗi bên đặt ba trăm đồng vàng, và nhà vua bảo sẽ sai một người hầu sang xứ ấy xem có thật không để phân xử.
Người hầu cưỡi ngựa lên đường. Dọc đường anh gặp một người, bèn hỏi người ấy ở đâu tới. Người ấy bảo ở đúng cái xứ người hầu đang tới.
Người hầu bảo:
— Thế thì bác nói cho tôi nghe, cây hoa bia bên xứ bác cao bao nhiêu, một cành nấu được bao nhiêu thùng bia?
Người kia đáp:
— Cái đó thì tôi không nói được. Nhưng tôi tình cờ có mặt lúc người ta thu hoạch hoa bia, và tôi thấy phải ba người cầm rìu chặt ba ngày mới đổ được một cành.
Người hầu nghĩ bụng thế là đỡ được một chặng đường dài, bèn đưa cho người kia mười đồng vàng, dặn phải kể lại với vua đúng những gì vừa kể. Về tới cung, cả hai cùng vào chầu vua.
Nhà vua hỏi:
— Thế nào, chuyện hoa bia có thật không?
Người hầu đáp:
— Tâu bệ hạ, có thật ạ. Đây là người thần đưa từ xứ ấy về để làm chứng.
Thế là nhà vua phải trả cho tên trộm ba trăm đồng vàng, và đôi bạn chung lưng lại cùng nhau lên đường tìm vận may. Đi đường, tên trộm bảo bạn:
— Giờ tôi sang gặp một ông vua khác, kể cho ông ta chuyện còn kinh thiên động địa hơn nữa. Bác cứ theo sau phụ hoạ cho lời nói dối của tôi, thế nào ta cũng moi được tiền của ông ta, rồi bác xem.
Tới vương quốc bên cạnh, tên trộm vào chầu vua, xin vua cho một cây súp lơ. Nhà vua đáp:
— Rau màu năm nay bị sâu bệnh hết, nên chẳng có súp lơ đâu.
Tên trộm đáp:
— Lạ thật. Thần vừa ở một xứ tới, bên ấy súp lơ tốt đến nỗi một cây súp lơ đầy mười hai thùng nước.
Nhà vua bảo:
— Ta không tin.
Tên trộm đáp:
— Thần cuộc với bệ hạ sáu trăm đồng vàng rằng chuyện ấy có thật.
Nhà vua bảo:
— Còn ta cuộc với ngươi sáu trăm đồng vàng rằng chuyện ấy không có thật.
Rồi vua cho gọi một người hầu, ra lệnh lên đường ngay tới cái xứ tên trộm vừa từ đó tới, xem chuyện súp lơ có thật không. Dọc đường người hầu gặp một người. Ghìm ngựa lại, anh hỏi người ấy ở đâu tới, người ấy bảo ở đúng cái xứ người hầu đang tới.
Người hầu bảo:
— Thế thì bác nói cho tôi nghe, súp lơ bên xứ bác to cỡ nào? Có to tới mức một cây đầy mười hai thùng nước không?
Người kia đáp:
— Cái đó thì tôi chưa thấy. Nhưng tôi thấy mười hai cỗ xe, mười hai con ngựa kéo, chở một cây súp lơ ra chợ.
Người hầu bảo:
— Đây, biếu bác mười đồng vàng, bác vừa đỡ cho tôi một chặng đường dài. Giờ bác đi với tôi, kể với vua đúng những gì bác vừa kể cho tôi.
Người kia bảo:
— Được thôi.
Thế là hai người cùng vào cung. Khi nhà vua hỏi người hầu đã tìm hiểu được sự thật về cây súp lơ chưa, người hầu đáp:
— Tâu bệ hạ, những gì bệ hạ nghe đều hoàn toàn có thật. Đây là một người ở xứ ấy, sẽ tâu với bệ hạ như thế.
Thế là nhà vua đành trả cho tên trộm sáu trăm đồng vàng. Đôi bạn chung lưng lại lên đường, mang theo chín trăm đồng vàng. Tới xứ của ông vua bên cạnh, tên trộm vào chầu vua, mở đầu câu chuyện bằng cách hỏi bệ hạ có biết rằng ở vương quốc kế bên có một thị trấn, trên ngọn tháp nhà thờ có một con chim đậu, mà ngọn tháp thì cao đến thế, mỏ chim thì dài đến thế, nên nó mổ vào các vì sao tới mức mấy ngôi sao rơi khỏi bầu trời.
Nhà vua bảo:
— Ta không tin.
Tên trộm đáp:
— Thế mà thần sẵn sàng cuộc một nghìn hai trăm đồng vàng rằng chuyện ấy có thật.
Nhà vua bảo:
— Còn ta cuộc một nghìn hai trăm đồng vàng rằng đó là chuyện bịa.
Rồi vua lập tức sai một người hầu sang nước bên cạnh tìm cho ra sự thật.
Đang phi ngựa, người hầu gặp một người đi ngược chiều, bèn gọi lại hỏi ở đâu tới. Người ấy bảo ở đúng cái thị trấn người hầu đang tới. Người hầu bèn hỏi chuyện con chim mỏ dài người ta kể có thật không.
Người kia đáp:
— Cái đó thì tôi không biết, vì tôi chưa thấy con chim bao giờ. Nhưng có lần tôi thấy mười hai người đàn ông cầm chổi, dốc hết sức bình sinh đẩy một quả trứng khổng lồ vào hầm.
Người hầu bảo:
— Hay tuyệt!
Rồi anh biếu người kia mười đồng vàng, nói:
— Bác đi kể chuyện ấy với vua đi, bác đỡ cho tôi một chặng đường dài.
Thế là khi câu chuyện được kể lại với vua, vua chẳng còn cách nào khác ngoài việc trả cho tên trộm một nghìn hai trăm đồng vàng.
Đôi bạn chung lưng lại lên đường với số tiền bất chính, rồi đem chia làm hai phần bằng nhau. Có điều tên trộm giữ lại ba đồng vàng của phần kẻ nói dối. Ít lâu sau, mỗi người lấy một cô vợ, cùng vợ ổn định nhà cửa riêng. Một hôm kẻ nói dối phát hiện mình bị bạn chung lưng ăn bớt ba đồng vàng, bèn tới nhà hắn đòi.
Tên trộm bảo:
— Thứ bảy tới bác lại đây, tôi trả.
Nhưng hắn chẳng có ý trả tiền cho kẻ nói dối. Sáng thứ bảy, hắn nằm duỗi thẳng cẳng, cứng đờ trên giường, dặn vợ bảo với người ta là hắn chết rồi. Thế là bà vợ lấy củ hành dụi cho cay mắt. Khi kẻ nói dối tới cửa, bà ra đón, nước mắt lã chã, bảo rằng chồng bà chết rồi nên không trả được ba đồng vàng.
Nhưng kẻ nói dối vốn biết những mánh khoé của bạn mình, ngờ ngay ra sự thật, bèn bảo:
— Nó đã không trả tôi, thì tôi trả lễ nó bằng ba roi ngựa thật đau.
Nghe thế, tên trộm bật dậy, chạy ra cửa, hứa với bạn rằng thứ bảy tuần sau bạn tới, hắn sẽ trả. Kẻ nói dối bằng lòng với lời hứa ấy, bỏ đi.
Nhưng tới sáng thứ bảy, tên trộm dậy sớm, chui trốn dưới một bó cỏ khô trên gác cỏ.
Kẻ nói dối tới đòi ba đồng vàng, bà vợ lại ra đón, nước mắt lưng tròng, bảo chồng bà chết rồi.
Kẻ nói dối hỏi:
— Thế chị chôn anh ấy ở đâu?
Bà vợ đáp:
— Trên gác cỏ.
Kẻ nói dối bảo:
— Thế thì tôi lên đó lấy ít cỏ khô trừ nợ.
Rồi hắn lên gác cỏ, cầm cái chĩa ba hất tung đống cỏ, đâm chĩa vào từng bó, cho tới khi tên trộm sợ mất mạng, bò ra hứa với bạn rằng thứ bảy tuần sau sẽ trả ba đồng vàng.
Tới ngày ấy, tên trộm dậy từ lúc mặt trời mọc, đi xuống hầm mộ của một nhà nguyện gần đó, nằm duỗi thẳng cẳng, cứng đờ trong một chiếc quan tài đá cũ. Nhưng kẻ nói dối cũng khôn ngoan chẳng kém gì bạn, chẳng mấy chốc đã nghĩ ngay tới cái hầm mộ, bèn tới nhà nguyện, chắc mẩm sẽ tìm ra chỗ bạn mình trốn.
Hắn vừa bước vào hầm, mắt còn chưa quen với bóng tối, thì nghe có tiếng thì thầm ngoài mấy ô cửa sổ có chấn song. Hắn lắng tai nghe, thì ra là một bọn cướp đang bàn tính. Chúng mang của cải tới hầm mộ, định giấu ở đây rồi lại đi kiếm chuyện làm ăn mới. Vừa bàn, chúng vừa tháo chấn song cửa sổ, và chỉ một phút nữa thôi là cả bọn sẽ vào hầm, phát hiện ra kẻ nói dối. Nhanh như cắt, hắn quấn chặt áo choàng quanh người, đứng thẳng đơ trong một hốc tường, nên trong ánh sáng lờ mờ trông y như một pho tượng đá cũ.
Bọn cướp vừa vào hầm đã bắt tay vào chia của. Cả bọn có mười hai tên, nhưng tên tướng cướp chia nhầm vàng ra làm mười ba đống. Thấy mình nhầm, hắn bảo không có thì giờ đếm lại từ đầu, đống thứ mười ba sẽ thuộc về kẻ nào chặt được đầu pho tượng đá cũ trong hốc tường chỉ bằng một nhát. Nói rồi hắn cầm rìu, tiến về phía hốc tường nơi kẻ nói dối đang đứng.
Nhưng đúng lúc hắn vung rìu qua đầu sắp bổ xuống, thì từ trong chiếc quan tài đá vang lên một giọng nói rền rĩ như từ dưới mồ vọng lên:
— Cút ngay khỏi đây, không thì người chết sẽ đội mồ sống dậy, tượng đá sẽ từ trên tường bước xuống, và chúng bay sẽ bị đuổi ra ngoài, sống dở chết dở!
Nói rồi tên trộm nhảy phốc ra khỏi quan tài, còn kẻ nói dối nhảy ra khỏi hốc tường. Bọn cướp sợ hết hồn, chạy tán loạn ra khỏi hầm mộ, bỏ lại hết vàng bạc, thề không bao giờ đặt chân vào cái chốn ma ám ấy nữa.
Thế là đôi bạn chung lưng chia nhau số vàng, mang về nhà. Còn chuyện họ sau này ra sao thì sử sách không chép thêm.
— Hết —
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích