Ai là người đầu tiên khám phá bí mật của cao lanh và bạch đôn tử, xương và thịt, cốt và da của chiếc bình đẹp? Ai là người đầu tiên khám phá đức tính của thứ đất sét trắng như sữa đông? Ai là người đầu tiên chế ra những viên gạch đôn trong như băng, thứ bụi bạc phơ gom từ những ngọn núi đã chết vì già, bụi trắng từ xương đá, thịt đá của những người khổng lồ tìm mặt trời nay không còn nữa? Ai là người đầu tiên được ban cho tài khám phá nghệ thuật thần diệu làm đồ sứ?
Đó là Phổ, xưa là người, nay là thần, trước những pho tượng trắng như tuyết của ông, vạn vạn người trong các phường gốm cúi đầu bái lạy. Nhưng nơi ông sinh ra thì ta không biết. Có lẽ lời truyền về nơi ấy đã bị xoá khỏi ký ức bởi cuộc chiến khủng khiếp ngay trong đời chúng ta, cuộc chiến đã cướp đi hai mươi triệu sinh mạng giống người tóc đen, xoá sạch khỏi mặt đất cả thành Sứ kỳ diệu, thành Cảnh Đức Trấn, xưa kia rực rỡ như một viên ngọc lửa trong vòng đai núi xanh Phù Lương.
Quả thật, trước thời ông, Thần Lò đã có rồi. Thần đã ra đời từ Sinh Lực Vô Biên, đã hiện ra như một luồng khí phát từ Đạo Tối Thượng. Vì gần năm nghìn năm trước, Hoàng Đế đã dạy người ta làm những đồ đựng tốt bằng đất sét nung. Thời ấy, mọi người thợ gốm đều đã biết tới vị thần của lửa lò, và họ vừa quay bàn xoay vừa lầm rầm khấn nguyện. Nhưng Hoàng Đế về với tổ tiên đã ba nghìn năm thì người được Đấng Chủ Trời định sẵn làm Thần Gốm Sứ mới ra đời.
Và hồn thiêng của ông, lúc nào cũng lơ lửng trên khói lò và cảnh lao động của các xưởng gốm, vẫn tiếp sức cho ý nghĩ người nặn hình, tiếp duyên cho thiên tài người vẽ kiểu, tiếp ánh sáng cho ngón tay người tráng men. Vì nghệ thuật làm sứ được sinh ra từ sự khôn ngoan trời dạy của ông. Nhờ ông soi lối mà mọi phép màu của Đào Ngọc, người làm ra thứ đồ giả ngọc, cùng mọi kỳ quan của những người nối gót, đều thành tựu.
Đó là thứ sứ xanh gọi là vũ quá thiên thanh, sáng như gương, mỏng như giấy gạo, ngân như đá khánh, mang màu theo lệnh vua Thế Tông: xanh như bầu trời sau cơn mưa, nhìn qua kẽ mây. Đó quả là thứ sứ đứng đầu mọi thứ sứ, còn gọi là sứ lò Sài, mà chẳng ai, độc ác tới đâu, nỡ lòng đập vỡ, vì nó làm say mắt như ngọc quý.
Rồi sứ lò Nhữ, đứng thứ hai trong mọi thứ sứ, khi thì bắt chước dáng vẻ và tiếng ngân của đồng, khi thì xanh như nước hồ mùa hạ, đánh lừa con mắt với vẻ nhớt nhầy như trứng cá dày đặc trôi lềnh bềnh.
Rồi sứ lò Quan, sứ của các quan, đứng thứ ba về giá trị trong mọi thứ sứ kỳ diệu, mang sắc màu buổi sớm, màu xanh trời với sắc hồng của buổi bình minh lớn ửng lên, bừng qua, và những con chim đầm lầy chân dài bay trên nền ráng hồng.
Rồi sứ lò Ca, đứng thứ tư trong các thứ sứ hoàn hảo, màu nhạt đẹp, đổi sắc như mình con cá đang sống, hay giống như ngọc mắt mèo, sữa hoà với lửa, là tác phẩm của Chương Sinh Nhất, người anh trong hai anh em họ Chương bất tử.
Rồi sứ lò Định, đứng thứ năm trong các thứ sứ hoàn hảo, trắng như tang phục của người vợ goá chồng, đẹp với những vệt chảy như nước mắt, thứ sứ mà thi sĩ Tô Đông Pha đã ca ngợi.
Rồi thứ sứ gọi là bí sắc, màu của nó gọi là màu ẩn, lúc ẩn lúc hiện như sắc băng dưới nắng, thứ sứ được thi nhân lừng danh Từ Dần ngợi ca.
Rồi thứ sứ kỳ diệu đất Thục, trắng xanh nhợt nhạt, gõ vào thì cất tiếng kêu buồn thảm, thứ sứ được bậc thi hào Đỗ Thiếu Lăng ngâm vịnh.
Rồi những thứ sứ trắng hay xanh, mặt gợn nếp như mặt nước bị muôn vây cá vỗ khẽ. Và bạn còn nhìn thấy cả cá!
Rồi những chiếc bình tế hồng, đỏ như hoàng hôn sau mưa, những chiếc bình thoát thai, mỏng manh như cánh ngài tằm, nhẹ hơn cả vỏ trứng.
Rồi những chiếc chén đời Gia Tĩnh, trắng như ngọc trai khi rỗng, vậy mà nhờ một phép phù thuỷ không ai hiểu nổi trong cách làm, hễ rót nước vào là như có đàn cá tím bơi lội tung tăng.
Rồi thứ sứ gọi là diêu biến, màu sắc bị phép luyện đan của lửa biến hoá, vì vào lò đỏ như máu, trong lò chuyển xanh như thằn lằn, sau cùng ra lò xanh biếc như má trời.
Rồi sứ lò Cát Châu, tím ngắt như đêm hè, và sứ lò Hình, lấp lánh như bạc lẫn tuyết.
Rồi sứ đời Tuyên Đức, cái thì đỏ như sắt trong lò, cái thì trong suốt đỏ hồng ngọc, cái thì sần sùi vàng như vỏ cam, cái thì ửng hồng mịn màng như da quả đào.
Rồi thứ sứ rạn, nứt ngang dọc, xanh như băng ngàn năm. Rồi sứ lò Xu Phủ, sứ của các bậc đế vương, với những con rồng vàng uốn éo, nhe nanh. Rồi những thứ sứ có gân hồng, góc cạnh răng cưa như càng cua.
Rồi thứ sứ đen như con ngươi, bóng như con ngươi. Thứ sứ vàng sẫm như mặt người Ấn Độ. Thứ sứ mang màu vàng úa của lá mùa thu.
Rồi thứ sứ xanh như mầm đậu non, mà còn vẽ những đám mây ánh bạc dưới nắng và những con rồng trời.
Rồi sứ đời Thành Hoá, vẽ chùm nho hổ phách, lá nho xanh tươi, hoa anh túc nở, hay đắp nổi hình những con dế đang chọi nhau.
Rồi sứ đời Khang Hy, xanh trời gieo đầy bụi sao vàng, và sứ đời Càn Long, lộng lẫy đen và bạc như một đêm nồng nàn loé chớp.
Nhưng không có những thứ sứ đời Mục Tông, vẽ những hình ảnh dâm uế, những bức tranh xuân đáng hổ thẹn, những thứ ô uế làm ra theo lệnh ông vua độc ác ấy, mà Thần Lò đã che mặt bỏ đi.
Còn mọi thứ bình khác, hình dáng và chất liệu khiến người ta sửng sốt, khớp nối như có phép màu, trang trí bằng hình nổi, hình chạm, hình trong suốt. Những chiếc bình miệng loe như đài hoa, hay toác như mỏ chim, hay nhe nanh như hàm rắn, hay môi hồng như miệng thiếu nữ. Những chiếc bình màu da thịt, gân tím, có lúm đồng tiền, có tai có hoa tai. Những chiếc bình hình nấm, hình hoa sen, hình thằn lằn, hình rồng chân ngựa mặt đàn bà. Những chiếc bình trong suốt lạ lùng, giả cái ánh trắng lờ mờ của hạt cơm đã nấu, giả ren sương của giá rét, giả những nhánh nở của san hô.
Rồi những pho tượng sứ các vị thần: Thần Bếp; mười hai vị thần Mực; Lão Tử được phúc, sinh ra đã tóc bạc; Khổng Phu Tử cầm cuộn sách thánh hiền; Quan Âm, nữ thần Từ Bi dịu dàng nhất, đôi chân trắng như tuyết đứng trên nhuỵ đoá sen vàng; Thần Nông, vị thần dạy người ta nấu nướng; Đức Phật mắt dài khép lại trong thiền định, môi mỉm nụ cười bí ẩn của Cực Lạc Tối Thượng; Thọ Lão, thần sống lâu, cưỡi con hạc cánh trắng làm ngựa bay; Bố Đại, chúa của sự mãn nguyện và giàu sang, béo tròn, mơ màng; và vị nữ thần Tài Hoa xinh đẹp nhất, từ đôi tay nhân từ của bà mãi mãi tuôn rơi một trận mưa ngọc trai óng ánh.
Dù nhiều bí quyết của môn nghệ thuật vô song mà Phổ để lại cho đời có lẽ đã bị quên, đã mất hẳn, chuyện về Thần Gốm Sứ thì vẫn còn được nhớ. Hẳn bất cứ ông lão mù nào trong các xưởng gốm lớn, những người ngồi suốt ngày dưới nắng nghiền màu, cũng có thể kể bạn nghe rằng Phổ xưa là một người thợ Trung Hoa hèn mọn, trở thành một nghệ nhân lớn nhờ học hỏi không mỏi mệt, nhờ lòng nhẫn nại, và nhờ Trời soi lối. Ông nổi danh tới mức có người cho ông là nhà luyện đan, nắm bí quyết gọi là phép Trắng Vàng, biến được đá thành vàng. Có người lại nghĩ ông là phù thuỷ, có cái phép ghê rợn giết người bằng ác mộng kinh hoàng, nhờ giấu hình nhân yểm bùa của họ dưới ngói mái nhà họ. Lại có người quả quyết ông là nhà chiêm tinh đã khám phá ra bí ẩn của Ngũ Hành chi phối muôn vật, những Sức Mạnh vận hành cả trong dòng trôi của tinh tú, trong dải Thiên Hà trắng sữa, tức Dòng Sông Trời. Ít ra những kẻ ngu dốt nói về ông như thế. Nhưng ngay cả những người đứng quanh Thiên Tử, những người lòng đã vững vàng nhờ hiểu biết, cũng hết lời ca ngợi những kỳ quan tay nghề của ông, và hỏi nhau liệu có hình dáng đẹp đẽ nào trên đời mà Phổ không gọi ra được từ thứ chất liệu đẹp đẽ, ngoan ngoãn dưới bàn tay khéo léo của ông.
Một ngày kia, Phổ gửi dâng Đấng Thiên Tử uy nghiêm một món quà vô giá: một chiếc bình giả chất đá quặng, rực rỡ những ánh lấp lánh của khoáng vật, một hình dáng lộng lẫy, trên có những con tắc kè hoa bò ngổn ngang, những con tắc kè bằng sứ đổi màu mỗi khi người xem đổi chỗ đứng. Hoàng đế kinh ngạc vô cùng trước vẻ lộng lẫy của tác phẩm, hỏi các hoàng thân và quan lại về người làm ra nó. Các hoàng thân và quan lại tâu rằng đó là một người thợ tên là Phổ, không ai sánh kịp trong nghề gốm, nắm những bí quyết dường như do thần thánh hay ma quỷ mách bảo. Thiên Tử bèn sai quan mang một món quà quý tới cho Phổ, triệu ông vào chầu.
Thế là người thợ hèn mọn vào ra mắt hoàng đế. Làm xong đại lễ, ba lần quỳ, hai mươi bảy lần cúi trán chạm đất, ông chờ lệnh Đấng Uy Nghiêm.
Hoàng đế phán bảo ông:
— Con ơi, món quà quý của con được trẫm hết sức ưng ý. Vì vẻ đẹp của lễ vật ấy, trẫm đã ban thưởng cho con năm nghìn lạng bạc. Nhưng con sẽ được thưởng gấp ba số ấy ngay khi con làm xong điều trẫm truyền. Hãy nghe đây, hỡi người thợ vô song! Nay ý trẫm là con làm cho trẫm một chiếc bình mang màu sắc và dáng vẻ của da thịt sống. Nhưng hãy nghe cho kỹ ý trẫm: da thịt ấy phải nổi gai lên vì những lời như lời thi nhân thốt ra, da thịt rung động vì một Ý Tưởng, da thịt sởn lên vì một Ý Nghĩ! Hãy vâng lệnh, đừng đáp lời! Trẫm đã phán.
Phổ là người tài khéo nhất trong những thợ phối màu, những thợ vẽ kiểu bình, những thợ vẽ men, những thợ làm sáng màu, những thợ canh lửa lò nung. Nhưng ông rời cung Thiên Tử lòng đầy buồn rầu, dù được ban năm nghìn lạng bạc. Vì ông nghĩ thầm:
— Hẳn bí ẩn của vẻ đẹp da thịt, và bí ẩn của cái khiến nó rung động, là những bí mật của Đạo Tối Thượng. Làm sao con người có thể cho thứ đất sét vô hồn mang dáng vẻ của sự sống biết cảm? Ai ngoài Đấng Vô Biên có thể ban linh hồn?
Phổ đã khám phá ra những phép phù thuỷ của màu sắc, những điều bất ngờ duyên dáng làm nên nghệ thuật người thợ gốm. Ông đã tìm ra bí quyết của sắc hồng phấn, ánh ửng ma thuật của Hoa Hồng, của sắc đỏ thắm ngọt ngào, của màu xanh núi, của màu vàng nhạt mềm mại, và của màu vàng ròng, vẻ đẹp chói lọi của vàng. Ông đã tìm ra những sắc màu da lươn, xanh da rắn, tím hoa păng-xê, đỏ lửa lò, những sắc son, sắc tím hoa cà tinh tế như ngọn lửa hồn ma, những thứ mà thợ men phương Tây tìm mãi không làm lại được. Nhưng trở về xưởng, ông run rẩy trước việc được giao mà nói:
— Làm sao một kẻ khốn khổ lại thể hiện được trên đất sét cái rùng mình của da thịt trước một Ý Tưởng, cái sởn gai không giải thích nổi trước một Ý Nghĩ? Lẽ nào con người dám nhại phép màu của Đấng Nặn Hình Đời Đời, người với sức mạnh vô biên nặn một triệu mặt trời còn dễ hơn mình nặn một chiếc vò nhỏ trên bàn xoay?
Thế nhưng lệnh của Đấng Thiên Tử uy nghiêm không bao giờ được trái, và người thợ nhẫn nại dốc hết sức làm cho tròn ý muốn của Thiên Tử. Nhưng uổng công ngày này qua ngày khác, tuần này qua tuần khác, tháng này qua tháng khác, mùa này qua mùa khác. Ông cầu thần thánh giúp cũng uổng công. Ông van nài Thần Lò cũng uổng công:
— Hỡi Thần Lửa, xin nghe tôi, đoái tôi, giúp tôi! Một kẻ khốn khổ như tôi, không thể thổi linh hồn sống vào đất sét, làm sao tôi thể hiện được trên chất liệu vô hồn này vẻ ngoài của da thịt sởn lên vì một Lời thốt ra, biết cảm cái rùng mình của một Ý Nghĩ?
Thần Lò đáp ông bằng tiếng lửa thì thầm, lời đáp lạ lùng:
— Lòng tin ngươi lớn thay, lời cầu ngươi kỳ quái thay! Ý Nghĩ có chân để người ta thấy được dấu vết nó đi qua sao? Ngươi đo cho ta được hơi thở của Gió sao?
Dẫu vậy, quyết chí không lay, bốn mươi chín lần Phổ tìm cách làm tròn lệnh vua, bốn mươi chín lần ông gắng sức vâng lệnh Thiên Tử. Than ôi, ông tiêu hao của cải cũng uổng, dốc cạn sức lực cũng uổng, vắt kiệt hiểu biết cũng uổng. Thành công chẳng mỉm cười với ông. Tai hoạ ghé thăm nhà ông, Cái Nghèo ngồi trong nhà ông, Khốn Khổ run rẩy bên bếp nhà ông.
Có lần, tới giờ thử, người ta thấy màu sắc bị biến đổi lạ lùng trong lò nung, hoặc nhạt thành màu tro xám, hoặc sẫm lại thành màu đen như đất mục trong rừng. Phổ thấy những rủi ro ấy, than khóc với Thần Lò:
— Hỡi Thần Lửa, nếu người không giúp, làm sao tôi tạo được hình da thịt óng ánh, ánh hồng ấm áp của màu sống?
Thần Lò đáp ông một cách bí ẩn bằng tiếng lửa rì rào:
— Ngươi học được nghệ thuật của Đấng Tráng Men Vô Biên đã tô đẹp Vòm Trời sao? Bút của Người là Ánh Sáng, màu của Người là Sắc Chiều.
Có lần, màu sắc không hề đổi, mặt bình được châm chích, chăm chút công phu, tưởng như sắp sống dậy trong hơi nóng, sắp mang cái rung động của làn da sống, vậy mà tới giờ chót, mọi công sức của thợ thuyền hoá ra uổng phí. Vì chất liệu thất thường đã nổi loạn chống lại họ, chỉ sinh ra những nếp nhăn kỳ quặc như trên vỏ một trái cây héo, hoặc những nốt sần như trên da một con chim chết bị vặt lông thô bạo. Phổ khóc, kêu lên với Thần Lò:
— Hỡi Thần Ngọn Lửa, nếu người không đoái thương giúp tôi, làm sao tôi bắt chước được cái rùng mình của da thịt chạm phải một Ý Nghĩ?
Thần Lò đáp ông một cách bí ẩn bằng tiếng lửa lầm rầm:
— Ngươi cho đá linh hồn được sao? Ngươi làm ruột gan những ngọn núi đá hoa cương rùng mình vì một Ý Nghĩ được sao?
Có lần, công việc tưởng như không hỏng. Màu sắc có vẻ tốt, chất bình trông hoàn hảo, chẳng nứt, chẳng nhăn, chẳng gợn. Nhưng mắt chẳng gặp vẻ mềm mại của làn da ấm. Mặt bình màu da thịt chỉ phô ra vẻ thô cứng và ánh lạnh của kim loại. Mọi công phu tinh xảo để bắt chước vẻ mọng mềm của chất liệu biết cảm đều chẳng để lại dấu vết gì, đều bị hơi thở của lò lửa xoá sạch. Phổ trong cơn tuyệt vọng gào lên với Thần Lò:
— Hỡi vị thần tàn nhẫn! Hỡi vị thần nhẫn tâm nhất! Người mà tôi đã thờ bằng vạn lễ hiến tế! Vì lỗi gì mà người bỏ tôi? Vì sai lầm gì mà người ruồng rẫy tôi? Kẻ khốn khổ nhất trong loài người như tôi, làm sao thể hiện được da thịt sởn lên vì một Lời thốt ra, biết cảm cái nhột nhạt của một Ý Nghĩ, nếu người không giúp tôi?
Thần Lò đáp ông bằng tiếng lửa gầm:
— Ngươi chia được một Linh Hồn sao? Không!... Mạng ngươi đổi lấy mạng tác phẩm của ngươi! Hồn ngươi đổi lấy hồn chiếc Bình của ngươi!
Nghe những lời ấy, Phổ đứng dậy, lòng trào lên một quyết định khủng khiếp, sửa soạn lần cuối, lần thứ năm mươi, nặn tác phẩm cho vào lò.
Một trăm lần ông rây đất sét và thạch anh, cao lanh và đôn. Một trăm lần ông lọc chúng trong làn nước trong nhất. Một trăm lần, đôi tay không biết mỏi, ông nhào thứ bột mịn như kem, sau cùng trộn vào đó những màu chỉ mình ông biết. Rồi chiếc bình được nặn đi nặn lại, sửa đi sửa lại dưới tay Phổ, tới khi vẻ mịn màng của nó như sống, như run rẩy, như phập phồng bởi sức sống từ bên trong, như cái gợn của bắp thịt tròn trịa lượn sóng dưới làn da. Vì sắc màu của sự sống đã phủ lên nó, thấm tới tận cốt lõi sâu nhất, giả sắc đỏ hồng của thớ thịt tươi máu, giả mạng gân tím chằng chịt. Và trên hết thảy là lớp áo men màu nắng, trong và bóng, nửa trong suốt, y như thứ nó bắt chước, làn da mịn màng của người đàn bà. Từ khi có trời đất, chưa có tác phẩm nào của bàn tay con người sánh được với nó.
Bấy giờ Phổ bảo những người giúp việc phải tiếp thật nhiều củi cho lò, nhưng ông không nói với ai quyết định của mình. Nhưng khi lò bắt đầu rực sáng, thấy tác phẩm của đôi tay mình nở ra, ửng hồng trong hơi nóng, ông cúi rạp trước Thần Lửa, thì thầm:
— Hỡi Thần Lửa, chủ của Lửa, tôi biết lời người là thật! Tôi biết một Linh Hồn không bao giờ chia được! Vậy mạng tôi đổi lấy mạng tác phẩm của tôi! Hồn tôi đổi lấy hồn chiếc Bình của tôi!
Suốt chín ngày tám đêm, lò được tiếp củi không ngừng. Suốt chín ngày tám đêm, người ta canh chiếc bình kỳ diệu đang kết tinh thành hình, ửng hồng dưới hơi thở của ngọn lửa. Tới đêm thứ chín, Phổ bảo mọi bạn thợ đã mệt nhoài đi nghỉ, vì công việc gần xong, thành công đã chắc. Ông nói:
— Nếu sáng ra không thấy tôi ở đây, các anh đừng sợ, cứ lấy bình ra, vì tôi biết việc sẽ hoàn thành đúng như lệnh Đấng Uy Nghiêm.
Thế là họ lui về.
Nhưng ngay đêm thứ chín ấy, Phổ bước vào ngọn lửa, trút hồn trong vòng tay Thần Lò, đem mạng mình đổi lấy mạng tác phẩm, hồn mình đổi lấy hồn chiếc Bình.
Sáng ngày thứ mười, thợ thuyền tới lấy kỳ quan bằng sứ ra, thì ngay cả xương Phổ cũng không còn nữa. Nhưng kìa! Chiếc Bình sống động khi họ nhìn nó, như da thịt rung lên vì một Lời thốt ra, sởn lên vì cái nhột nhạt của một Ý Nghĩ. Và hễ lấy ngón tay gõ vào, nó lại cất lên một giọng nói và một cái tên, giọng nói của người làm ra nó, tên của người tạo ra nó: Phổ.
Thiên Tử nghe chuyện, ngắm phép màu của chiếc bình, phán với những người quanh mình:
— Quả thật, Điều Không Thể đã được làm nên nhờ sức mạnh của lòng tin, nhờ sức mạnh của lòng vâng phục! Nhưng trẫm chưa bao giờ muốn có một sự hy sinh tàn nhẫn đến thế. Trẫm chỉ muốn biết tài nghệ của người thợ vô song kia tới từ Thần Thánh hay từ Ma Quỷ, từ thiên đường hay từ địa ngục. Nay trẫm thấy rõ Phổ đã vào hàng các vị thần.
Và hoàng đế thương tiếc người bề tôi trung thành vô cùng. Ngài truyền phải thờ vong hồn người nghệ nhân kỳ diệu như thờ thần, phải tôn kính ký ức về ông mãi mãi, phải dựng tượng ông thật đẹp ở mọi thành phố của Thiên Triều, và trên khắp các xưởng gốm đang lao động, để muôn vàn người thợ không ngớt gọi tên ông, cầu ông ban phúc lành cho công việc của mình.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn