Chương 1: Phần một
"Tâm tính đàn bà," Giép Pi-tơ nói, sau khi mọi người đã đưa ra đủ thứ ý kiến về chủ đề ấy, "thường xuyên chạy theo những cái khác lạ. Cái đàn bà muốn chính là cái mình đang thiếu. Thứ gì càng hiếm, họ càng muốn có nhiều. Họ thích giữ kỷ vật của những chuyện chưa từng xảy ra. Họ thích được nhắc tới những chuyện họ chưa từng nghe. Nhìn sự vật từ một phía thôi là làm rời rạc cấu tạo của phái nữ.
"Đó là cái bất hạnh của tôi, do thiên bẩm và đi lại sinh ra," Giép nói tiếp, trầm ngâm nhìn cái lò sưởi của tiệm tạp hoá qua khe giữa hai bàn chân gác lên cao, "là nhìn sâu vào một số đề tài hơn phần lớn thiên hạ. Tôi đã hít khói xăng trong lúc diễn thuyết trước đám đông đường phố ở gần như mọi thị trấn của Hợp chủng quốc. Tôi đã làm họ mê mẩn bằng âm nhạc, bằng hùng biện, bằng ảo thuật và bằng những lời nói dối khéo, trong khi bán cho họ đồ trang sức, thuốc men, xà phòng, thuốc mọc tóc và đủ thứ đồ đồng nát khác. Và trong những chuyến đi ấy, để giải trí và để chuộc lỗi, tôi có tìm hiểu đôi chút về đàn bà. Một người đàn ông phải mất cả đời mới hiểu thấu một người đàn bà cụ thể, nhưng nếu anh ta bỏ ra chừng mười năm, cần mẫn và tò mò, thì anh ta có thể nắm được những điều sơ đẳng chung của cả phái ấy. Có một bài học tôi học được hồi tôi làm ăn ở miền Tây với một lô kim cương Bra-xin và một thứ mồi nhóm lửa có bằng sáng chế, ngay sau chuyến đi từ Xa-van-na xuống qua vùng trồng bông với món Bột Chống Nổ Dầu Đèn hiệu Đôn-bi. Hồi ấy vùng Ô-cla-hô-ma vừa mới nở rộ. Thị trấn Gớt-tri đang phồng lên giữa vùng ấy như một nắm bột tự nở. Đó là một thị trấn bùng nổ đúng kiểu: muốn rửa mặt cũng phải xếp hàng, ăn quá mười phút là bị tính thêm tiền thuê phòng, đêm nằm ngủ trên một tấm ván thì sáng hôm sau bị tính tiền như tiền cơm.
Do thiên bẩm và do học thuyết, tôi nghiện cái thói tìm ra những chỗ ăn ngon. Thế là tôi đi tìm quanh, và gặp đúng một chỗ vừa khéo. Tôi thấy một lều ăn vừa mới mở, của một gia đình trôi dạt tới theo đuôi cơn bùng nổ. Họ đóng tạm một căn nhà gỗ để ở và nấu nướng, còn bữa ăn thì dọn trong một cái lều dựng tựa vào hông nhà. Cái lều ấy vui mắt với đầy những tấm biển được tính toán để cứu người lữ khách mỏi mệt khỏi tội lỗi của các nhà trọ và các khách sạn tạm bợ. 'Hãy thử bánh quy mẹ làm', 'Bánh bao táo sốt bơ của chúng tôi có gì chê được?', 'Bánh kếp nóng với xi-rô thích như hồi bạn còn bé', 'Gà rán của chúng tôi chưa bao giờ biết gáy'. Văn chương như thế là định sẵn để làm vừa lòng bộ máy tiêu hoá của loài người! Tôi tự nhủ rằng đứa con lang bạt của mẹ tối nay sẽ nhai ở đó. Và đúng như thế. Cũng chính ở đó tôi mắc phải căn bệnh mang tên Mêm Đu-gân.
Ông già Đu-gân là một gã lười người In-đi-a-na, cao mét tám mà bề ngang chẳng đáng là bao, suốt ngày ngồi ngả lưng tới tận bả vai trên chiếc ghế bập bênh trong căn nhà gỗ, kỷ niệm vụ mất mùa ngô lớn năm chín mươi sáu. Bà Đu-gân nấu nướng, còn Mêm thì chạy bàn.
Vừa thấy Mêm là tôi biết ngay báo cáo điều tra dân số có sai sót. Trên khắp Hợp chủng quốc chỉ có mỗi một cô gái. Tả chi tiết thì không dễ. Cô to cỡ một thiên thần, cô có đôi mắt, và có những cử chỉ, dáng điệu riêng. Còn nói về loại con gái mà cô thuộc về, thì bạn sẽ thấy cả một vành đai những cô như thế trải dài từ cầu Brúc-lin về phía tây tới tận toà án ở thành Cao-xin Blớp, bang Ai-ô-oa. Họ tự kiếm sống trong cửa hàng, nhà hàng, nhà máy và văn phòng. Họ thân thiện, thật thà, tự do, dịu dàng và đanh đá, và họ nhìn thẳng vào mắt cuộc đời. Họ đã đối mặt với đàn ông, và phát hiện ra đó là một sinh vật đáng thương. Họ đã hiểu ra rằng những bài viết trong mấy cuốn tiểu thuyết rẻ tiền nói đàn ông là hoàng tử trong cổ tích thì chưa được xác nhận.
Mêm thuộc loại ấy. Cô tràn đầy sức sống, vui nhộn, nhanh nhảu. Cô đối đáp với khách ăn nhanh như chớp, bạn sẽ cười tới nghẹt thở. Tôi không thích đào bới vào bên trong một mối tình riêng tư. Tôi bám chặt lấy lý thuyết rằng những biến chuyển và lệch lạc của cái chứng khó ở mang tên tình yêu nên là một cảm xúc riêng tư như cái bàn chải đánh răng. Theo tôi, tiểu sử của trái tim nên bị nhốt chung với những tiểu thuyết lịch sử về lá gan trên mấy trang quảng cáo của tạp chí. Vì thế, xin các bạn bỏ qua cho việc tôi không liệt kê thành hoá đơn chi tiết những cảm xúc của tôi đối với Mêm.
Chẳng bao lâu tôi có thói quen đều đặn ghé vào lều ăn vào những giờ thất thường, lúc ít người. Mêm sẽ lướt vào với nụ cười, mặc chiếc váy đen và tạp dề trắng, và nói: 'Chào Giép, sao anh không tới vào giờ ăn? Muốn xem anh làm phiền người ta được tới đâu chứ gì. Gà rán bít-tết sườn lợn giăm-bông trứng bánh nhân', một hơi liền tù tì, vân vân. Cô gọi tôi là Giép, nhưng chẳng có hàm ý gì kèm theo. Cô chỉ muốn gọi tên thôi. Tên thánh của bất cứ ai trong bọn tôi, cô gọi theo thứ tự lúc nó tới tay. Tôi thường ăn chừng hai bữa mới đi, kéo dài chúng ra như một bữa tiệc thượng lưu, nơi người ta thay đĩa và đổi bạn ngồi bên, và đùa cợt vui vẻ với nhau giữa những miếng ăn. Mêm chịu đựng điều đó một cách dễ chịu, vì đâu phải phận sự của cô là xé bớt vải lều bằng cách từ chối những đồng đô-la chỉ vì chúng được nện xuống sau giờ ăn.
Chẳng bao lâu có một gã khác tên là Ét Cô-li-ơ cũng mắc chứng ăn giữa giờ, và hắn với tôi bắc những cây cầu giữa bữa sáng với bữa trưa, giữa bữa trưa với bữa tối, biến cái lều thành một gánh xiếc ba vòng, và phần việc hầu bàn của Mêm thành một buổi diễn liên tục. Cái gã Cô-li-ơ ấy ngấm đẫm mưu mô và tính toán. Hắn làm nghề khoan giếng hay bảo hiểm hay chiếm đất người khác gì đó, tôi quên mất rồi. Hắn là người được bôi trơn kỹ bằng sự lịch thiệp, và lời lẽ của hắn khiến người ta muốn nghiêng về quan điểm của hắn. Thế là Cô-li-ơ với tôi tràn ngập lều ăn bằng sự chăm chút và năng nổ. Mêm thì công bằng tuyệt đối. Cô chia ân huệ như chia bài: một lá cho Cô-li-ơ, một lá cho tôi, một lá lật ra bàn, và chẳng giấu lá nào trong tay áo.
Tôi với Cô-li-ơ tự nhiên quen nhau, và ở bên ngoài cũng hay sà vào nhau. Gỡ bỏ những mưu mẹo đi thì hắn có vẻ là một gã dễ chịu, đầy một thứ thù địch đáng mến.
'Tôi để ý thấy anh có sở thích ăn uống trong phòng tiệc sau khi khách khứa đã về hết,' một hôm tôi bảo hắn, để xem hắn kết luận thế nào.
'À, phải,' Cô-li-ơ ngẫm nghĩ nói, 'sự huyên náo của một bàn ăn đông đúc dường như làm khổ những dây thần kinh nhạy cảm của tôi.'
'Nó cũng làm dây thần kinh của tôi bực bội đôi chút,' tôi nói. 'Cô bé dễ thương nhỉ, anh thấy sao?'
'Tôi hiểu rồi,' Cô-li-ơ cười nói. 'Chà, giờ anh nhắc tới thì tôi cũng có để ý thấy cô ấy dường như không làm phật lòng dây thần kinh thị giác.'
'Cô ấy là niềm vui của dây thần kinh của tôi,' tôi nói, 'và tôi sẽ theo đuổi cô ấy. Xin báo trước để anh biết.'
'Tôi cũng sẽ thẳng thắn như anh,' Cô-li-ơ thừa nhận, 'và nếu các hiệu thuốc không hết men tiêu hoá, tôi sẽ cho anh một cuộc đua đáng đồng tiền, tới cuối cùng anh sẽ mắc bệnh khó tiêu.'
Thế là Cô-li-ơ với tôi bắt đầu cuộc đua. Bộ phận đồ ăn nhập thêm hàng. Mêm phục vụ bọn tôi, vui vẻ, tử tế, dễ chịu, và có vẻ như hai bên ngang ngửa nhau, trong khi thần Ái tình và bà đầu bếp làm thêm giờ ở tiệm ăn nhà Đu-gân.
Một tối tháng chín, tôi rủ được Mêm đi dạo sau bữa tối, khi mọi thứ đã dọn dẹp xong. Bọn tôi đi bộ một quãng rồi ngồi trên một đống gỗ ở rìa thị trấn. Những cơ hội như thế hiếm lắm, nên tôi nói ra điều mình muốn nói, giải thích rằng kim cương Bra-xin và mồi nhóm lửa đang tích được đủ của cải để bảo đảm hạnh phúc cho hai người, rằng cả hai thứ ấy gộp lại cũng không bằng ánh sáng từ đôi mắt của một người nào đó, và rằng cái họ Đu-gân nên được đổi thành Pi-tơ, còn nếu không thì xin cho biết lý do.
Mêm không nói gì ngay. Một lúc sau cô rùng mình một cái, và tôi bắt đầu học được điều gì đó.
'Giép,' cô nói, 'em tiếc là anh đã nói ra. Em quý anh cũng như quý bất cứ ai trong bọn họ, nhưng trên đời không có người đàn ông nào em lấy làm chồng, và sẽ không bao giờ có. Anh có biết trong mắt em đàn ông là gì không? Là một nấm mồ. Là một cỗ quan tài để chôn bít-tết sườn lợn gan xào hành giăm-bông trứng. Chỉ thế thôi, không hơn. Hai năm nay em nhìn đàn ông ăn, ăn, ăn, tới mức đối với em họ chẳng còn là gì trên đời ngoài những con vật hai chân nhai lại. Họ hoàn toàn chẳng là gì ngoài một thứ ngồi trước con dao, cái nĩa và cái đĩa trên bàn ăn. Họ đã đóng khung như thế trong đầu óc và trí nhớ của em. Em đã cố vượt qua, nhưng không được. Em nghe mấy đứa con gái tán dương người yêu của chúng, mà em chẳng bao giờ hiểu nổi. Một người đàn ông, một cái máy xay xúc xích và một cái tủ đựng thức ăn khơi dậy trong em đúng những cảm xúc y hệt nhau. Có lần em đi xem một suất kịch chiều để xem một anh diễn viên mà bọn con gái phát cuồng. Em cũng thấy tò mò, nhưng là tò mò không biết anh ta thích bít-tết tái, vừa hay chín kỹ, và trứng thì lật mặt hay để nguyên. Chỉ thế thôi. Không, Giép ạ, em sẽ không lấy người đàn ông nào để rồi nhìn anh ta ngồi bên bàn ăn sáng mà ăn, rồi về ăn trưa, rồi lại ghé vào ăn tối, ăn, ăn mãi.'
'Nhưng Mêm,' tôi nói, 'rồi nó sẽ qua thôi. Em chỉ bị ngấy quá thôi. Dĩ nhiên rồi có lúc em sẽ lấy chồng. Đàn ông đâu có ăn suốt.'
'Theo những gì em quan sát được thì có đấy. Không, để em nói anh nghe em sẽ làm gì.' Mêm bỗng quay lại, sôi nổi hẳn lên, mắt sáng rỡ. 'Có một đứa con gái tên Xu-di Phốt-xtơ ở Te-rơ Hốt, bạn thân của em. Nó chạy bàn ở quán ăn nhà ga ở đó. Em từng làm hai năm ở một nhà hàng trong thị trấn ấy. Xu-di còn khổ hơn em, vì đàn ông ăn ở ga xe lửa thì ngốn. Họ vừa cố tán tỉnh vừa ngốn cùng một lúc. Ôi chao! Xu-di với em đã tính hết rồi. Bọn em đang để dành tiền, đủ tiền rồi thì sẽ mua một căn nhà nhỏ với năm mẫu đất bọn em biết, rồi sống với nhau, trồng hoa vi-ô-lét bán cho miền Đông. Đàn ông nào mà mang cái dạ dày của mình tới gần trang trại ấy trong vòng một dặm thì liệu hồn.'
'Thế con gái không bao giờ...' tôi bắt đầu, nhưng Mêm chặn ngay, sắc lẻm.
'Không, không bao giờ. Thỉnh thoảng họ nhấm nháp chút xíu thôi, thế là hết.'
'Anh cứ tưởng kẹo bánh...'
'Lạy trời, anh đổi đề tài đi,' Mêm nói.
Như tôi đã nói, kinh nghiệm ấy cho tôi biết rằng cấu tạo của phái nữ luôn vật lộn để chạy theo những ảo tưởng và những điều hão huyền. Lấy ví dụ: thịt bò làm nên nước Anh, xúc xích nâng nước Đức lên, ông chú Xam nợ sự vĩ đại của mình ở món gà rán và bánh nướng nhân, nhưng các cô gái học ở trường nữ thì không đời nào chịu tin. Họ cho rằng chính Sếch-xpia, chính nhạc sĩ Ru-bin-xtên và đội Kỵ binh Thô Lỗ mới làm nên chuyện.
Đó là một tình huống dễ làm người ta bối rối. Tôi không thể chịu bỏ Mêm, mà nghĩ tới chuyện từ bỏ thói quen ăn uống cũng làm tôi đau lòng. Tôi đã nhiễm thói ấy quá sớm. Suốt hai mươi bảy năm, tôi đã mù quáng lao vào định mệnh của mình, chịu khuất phục trước những cám dỗ quỷ quyệt của con quái vật chết người tên là đồ ăn. Đã quá muộn rồi. Tôi đã là một con vật hai chân nhai lại vĩnh viễn. Cược một đĩa sa-lát tôm hùm ăn một cái bánh rán rằng đời tôi sẽ bị nó làm cho tàn úa.
Tôi tiếp tục ăn ở lều nhà Đu-gân, hy vọng Mêm sẽ mềm lòng. Tôi đủ tin vào tình yêu chân thật để nghĩ rằng, vì nó thường sống sót qua những lúc thiếu một bữa ăn tử tế, thì có lẽ với thời gian nó cũng sẽ thắng được sự có mặt của một bữa ăn. Tôi vẫn tiếp tục chiều theo tật xấu chết người của mình, dù tôi cảm thấy mỗi lần nhét một củ khoai vào miệng trước mặt Mêm là tôi có thể đang chôn vùi những hy vọng thân thương nhất.
Tôi nghĩ hẳn Cô-li-ơ đã nói với Mêm và nhận được câu trả lời y như thế, vì một hôm hắn gọi một tách cà phê và một cái bánh quy giòn, rồi ngồi nhấm nháp một góc bánh như một cô gái trong phòng khách, người trước đó đã ních đầy bụng ở dưới bếp bằng thịt quay nguội và bắp cải xào. Tôi hiểu ra và làm y như thế, và có lẽ bọn tôi tưởng mình ghi điểm lắm! Hôm sau bọn tôi lại thử, thì ông già Đu-gân bước ra, tay bưng đúng mấy món ăn của tiên ấy, tức là tách cà phê với cái bánh quy.
'Hơi biếng ăn hả, các quý ông?' ông hỏi, giọng cha chú và có phần mỉa mai. 'Tôi ra thay con Mêm một lát, thấy việc nhẹ nhàng thế này thì bệnh thấp khớp của tôi chịu nổi.'
Thế là tôi với Cô-li-ơ lại phải quay về với đồ ăn nặng. Tôi để ý thấy vào khoảng thời gian ấy tôi bị một cơn thèm ăn khác thường và khủng khiếp nhất tóm lấy. Tôi ăn tới mức hẳn Mêm phải ghét cay ghét đắng mỗi khi thấy bóng tôi ở cửa. Sau này tôi mới biết mình là nạn nhân của mánh khoé đen tối và vô đạo đầu tiên mà Ét Cô-li-ơ giở ra với tôi. Hắn với tôi thường cùng nhau uống rượu trên phố, cố dìm cơn khát đồ ăn xuống. Gã ấy đã đút lót chừng chục tay pha rượu, để lần nào họ cũng nhỏ một liều lớn Thuốc Đắng Khai Vị Mãng Xà hiệu Táo Già vào ly của tôi. Nhưng mánh cuối cùng hắn chơi tôi mới khó quên nhất.
Một hôm Cô-li-ơ không tới lều ăn. Một người bảo tôi hắn đã rời thị trấn sáng hôm ấy. Giờ đối thủ duy nhất của tôi chỉ còn là tờ thực đơn. Mấy hôm trước khi đi, Cô-li-ơ có tặng tôi một vò rượu uýt-ki ngon tám lít, bảo là của một người anh họ gửi từ Ken-tắc-ki. Giờ tôi có lý do để tin rằng trong vò ấy gần như chỉ toàn Thuốc Đắng Khai Vị Mãng Xà hiệu Táo Già. Tôi tiếp tục ngốn hàng tấn lương thực. Trong mắt Mêm, tôi vẫn chỉ là một con vật hai chân, nhai lại hơn bao giờ hết.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn