Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Thánh Ăng-toan

của Guy de Maupassant

⏱ 14 phút🎙️ Giọng Bảo Thiện📖 14.685 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Tặng ông Sác-mơ.
  2. 2:38Khi thằng Phổ đã nuốt hết đĩa thứ nhất,…
  3. 4:06Chiều nào lão cũng sang nhà hàng xóm, khoác…
  4. 5:04Thế là người ta mời anh ta bánh mì…
  5. 6:42Rồi người ta ra quán mua rượu mạnh về.
  6. 8:47Lão đứng đó, mất hết trí khôn, trong khi…
  7. 11:08Tuyết vẫn rơi. Mọi thứ trắng xoá. Những dãy…
  8. 12:36Người lính ngã ngửa, thở ra một hơi dài…

Tặng ông Sác-mơ.

Người ta gọi lão là Thánh Ăng-toan, vì lão tên là Ăng-toan, và cũng có lẽ vì lão là người ham sống, vui tính, hay pha trò, ăn khoẻ, uống giỏi, và hay chọc ghẹo đám hầu gái, dù lão đã ngoài sáu mươi.

Đó là một lão nông cao lớn ở xứ Cô, mặt đỏ au, ngực nở bụng to, đứng trên đôi chân dài trông như quá gầy so với cái thân đồ sộ.

Goá vợ, lão sống một mình với chị hầu gái và hai người làm công trong trang trại lão tự trông coi. Lão là tay khôn ngoan lọc lõi, chăm lo quyền lợi của mình, sành chuyện làm ăn, chuyện chăn nuôi gia súc và chuyện cày cấy ruộng đất. Hai con trai và ba con gái lão đều đã dựng vợ gả chồng vào những nhà khá giả, sống ở quanh vùng, mỗi tháng một lần về ăn tối với bố. Sức khoẻ của lão nổi tiếng khắp vùng. Người ta có câu cửa miệng: "Khoẻ như Thánh Ăng-toan."

Khi quân Phổ tràn sang, Thánh Ăng-toan ngồi ở quán rượu hứa sẽ ăn tươi nuốt sống cả một đạo quân, vì lão khoác lác như một người Noóc-măng-đi thứ thiệt, hơi nhát và hay huênh hoang. Lão đấm thình thình xuống mặt bàn gỗ, cái bàn nảy lên làm nhảy múa cả tách lẫn ly, và lão gào lên, mặt đỏ gay, mắt lấm lét, trong một cơn giận giả vờ của người ham vui: "Phải ăn thịt vài đứa, mẹ kiếp!" Lão tin chắc quân Phổ sẽ không tới tận Ta-nơ-vin. Nhưng khi nghe tin chúng đã tới Rô-tô, lão không bước chân ra khỏi nhà nữa. Lão cứ rình mãi con đường qua ô cửa sổ nhỏ trong bếp, lúc nào cũng tưởng sắp thấy lưỡi lê đi qua.

Một buổi sáng, đang ăn xúp với đám người làm, cửa bỗng mở. Ông xã trưởng, bác Si-cô, bước vào, theo sau là một người lính đội mũ sắt đen có chóp nhọn bằng đồng. Thánh Ăng-toan đứng bật dậy. Cả nhà nhìn lão, chờ xem lão xé xác thằng Phổ. Nhưng lão chỉ bắt tay ông xã trưởng. Ông bảo lão:

"Đây là phần của ông đấy, Thánh Ăng-toan ạ. Chúng nó tới đêm qua. Nhất là đừng có làm chuyện dại dột, vì chúng nó bảo hễ có chuyện gì dù nhỏ nhất là sẽ xử bắn và đốt sạch. Ông được báo trước rồi đấy. Cho nó ăn đi, trông nó có vẻ hiền lành. Chào ông, tôi sang các nhà khác. Nhà nào cũng có phần."

Rồi ông đi ra.

Lão Ăng-toan, mặt tái đi, nhìn thằng Phổ của mình. Đó là một gã trai béo, da thịt trắng nhẫy, mắt xanh, tóc vàng, râu mọc tới tận gò má, trông có vẻ ngây ngô, rụt rè và hiền lành. Lão Noóc-măng-đi ranh mãnh nhìn thấu anh ta ngay, và yên tâm, ra hiệu cho anh ta ngồi. Rồi lão hỏi: "Ăn xúp không?" Người lính lạ không hiểu. Lúc ấy Ăng-toan bỗng liều, dí một đĩa đầy vào sát mũi anh ta:

"Này, nuốt cái này đi, con lợn béo."

Người lính đáp "Da", rồi ăn ngấu nghiến. Trong khi đó, lão trại chủ đắc thắng, cảm thấy đã giành lại được tiếng tăm, nháy mắt với đám người làm. Họ nhăn nhó một cách kỳ quặc, vừa sợ hết hồn vừa buồn cười.

Khi thằng Phổ đã nuốt hết đĩa thứ nhất, Thánh Ăng-toan múc cho đĩa thứ hai, anh ta cũng chén sạch. Nhưng đến đĩa thứ ba thì anh ta lùi lại, trong khi lão trại chủ cứ muốn bắt anh ta ăn bằng được, miệng nhắc đi nhắc lại:

"Nào, tống hết vào bụng đi. Mày phải béo lên, không thì nói xem tại sao, con lợn của tao!"

Người lính chỉ hiểu là người ta muốn mình ăn cho no nê, cười có vẻ khoái chí, ra hiệu là đã no căng.

Lúc ấy Thánh Ăng-toan, giờ đã hoàn toàn thân mật, vỗ vào bụng anh ta mà hét lên:

"Bụng con lợn của tao căng chưa này!"

Nhưng bỗng lão gập người lại, mặt đỏ tưởng sắp trúng gió, không nói được nữa. Lão vừa nảy ra một ý làm lão cười tới nghẹt thở:

"Đúng rồi, đúng rồi, Thánh Ăng-toan với con lợn của ngài. Đây là con lợn của tao."

Vì trong tranh thánh, thánh Ăng-toan bao giờ cũng có một con lợn đi bên cạnh. Thế là đến lượt ba người làm cũng cười phá lên.

Lão già khoái quá, cho mang rượu mạnh ra, thứ ngon nhất, thứ nặng nhất, mời cả nhà. Người ta cụng ly với thằng Phổ, anh ta tặc lưỡi cho vừa lòng chủ, để tỏ ý rượu ngon tuyệt. Và Thánh Ăng-toan hét vào mũi anh ta:

"Hả? Rượu ngon chưa? Ở nhà mày làm gì được uống thứ này, con lợn của tao."

Từ đó trở đi, lão Ăng-toan đi đâu cũng dắt thằng Phổ của lão theo. Lão đã tìm được trò của mình, đó là cách trả thù riêng của lão, cách trả thù của một tay láu cá. Và cả vùng, đang sợ vỡ mật, cười lăn cười bò sau lưng những kẻ chiến thắng vì trò đùa của Thánh Ăng-toan. Quả thật, về khoản bông đùa thì chẳng ai bằng lão. Chỉ có lão mới nghĩ ra được những trò như thế. Đúng là quỷ sứ!

Chiều nào lão cũng sang nhà hàng xóm, khoác tay gã Đức của lão, vỗ vai anh ta mà giới thiệu một cách vui vẻ:

"Đây, con lợn của tôi đây, các ông xem nó có béo ra không, cái con vật này."

Thế là dân quê mặt mày hớn hở.

"Thằng cha Ăng-toan này buồn cười thật!"

"Tôi bán nó cho ông đấy, Xê-de, ba đồng vàng."

"Tôi mua, Ăng-toan, và tôi mời ông ăn dồi."

"Còn tôi thì tôi chỉ thích cái giò của nó thôi."

"Sờ bụng nó mà xem, toàn mỡ là mỡ."

Ai cũng nháy mắt, nhưng không dám cười to quá, sợ thằng Phổ rốt cuộc sẽ đoán ra là người ta đang chế giễu mình. Chỉ có Ăng-toan, ngày một bạo hơn, véo đùi anh ta mà kêu: "Toàn nạc với mỡ". Vỗ vào mông anh ta mà gào: "Toàn bì là bì". Lão nhấc bổng anh ta lên bằng đôi tay của một gã khổng lồ già có thể vác cả cái đe, mà tuyên bố: "Nó nặng ba tạ, không có chỗ nào bỏ đi."

Lão còn quen thói đi tới đâu cũng bắt người ta mời con lợn của lão ăn. Đó là niềm vui lớn, là trò giải trí hằng ngày:

"Cho nó ăn cái gì cũng được, nó nuốt tất."

Thế là người ta mời anh ta bánh mì với bơ, khoai tây, thịt hầm nguội, dồi lòng, khiến lão lại phải nói: "Của nhà ông đấy, toàn đồ ngon."

Người lính ngờ nghệch và hiền lành, ăn vì phép lịch sự, sung sướng vì được quan tâm, ăn tới phát ốm để khỏi phải từ chối. Và anh ta béo ra thật, giờ bộ quân phục đã chật căng, khiến Thánh Ăng-toan khoái chí, cứ nhắc mãi:

"Mày biết không, con lợn của tao, phải đóng cho mày cái chuồng khác thôi."

Vả lại, hai người đã trở thành đôi bạn thân nhất đời. Khi ông già đi lo việc làm ăn quanh vùng, thằng Phổ tự nguyện đi theo, chỉ vì thích được ở bên lão.

Thời tiết khắc nghiệt, băng giá dữ dội. Mùa đông khủng khiếp năm một nghìn tám trăm bảy mươi dường như trút cùng lúc mọi tai ương xuống nước Pháp.

Lão Ăng-toan, vốn lo xa và biết chớp thời cơ, đoán trước mùa xuân sẽ thiếu phân bón ruộng, bèn mua lại đống phân của một người hàng xóm đang túng quẫn. Hai bên thoả thuận rằng tối nào lão cũng đánh xe tới chở về một chuyến.

Thế là ngày nào lão cũng lên đường lúc trời sẩm tối, tới trang trại Ôn, cách nửa dặm, lúc nào cũng có con lợn của lão đi cùng. Và ngày nào cũng là một bữa hội cho con vật ăn. Cả vùng kéo tới, như người ta đi lễ lớn ngày chủ nhật.

Thế nhưng người lính bắt đầu nghi ngờ. Khi người ta cười to quá, anh ta đảo mắt lo lắng, đôi khi trong mắt loé lên một ngọn lửa giận dữ.

Rồi một tối, khi đã ăn no tới mức không chứa thêm được nữa, anh ta không chịu nuốt thêm miếng nào, và định đứng dậy bỏ đi. Nhưng Thánh Ăng-toan vặn cổ tay giữ lại, đặt hai bàn tay khoẻ như kìm lên vai anh ta, ấn ngồi xuống mạnh đến nỗi chiếc ghế vỡ vụn dưới người anh ta.

Một trận cười như bão nổ ra. Ăng-toan hớn hở, nhấc con lợn của mình dậy, giả vờ băng bó chữa thương cho nó, rồi tuyên bố:

"Mày đã không chịu ăn thì mày phải uống, mẹ kiếp!"

Rồi người ta ra quán mua rượu mạnh về.

Người lính đảo đôi mắt hằn học, nhưng vẫn uống. Anh ta uống bao nhiêu người ta muốn. Còn Thánh Ăng-toan thì giữ đầu anh ta, trước sự hả hê của những người xung quanh.

Lão Noóc-măng-đi, đỏ như quả cà chua, mắt rực lửa, rót đầy các ly, cụng ly mà hét: "Chúc sức khoẻ mày!" Còn thằng Phổ, chẳng nói một lời, dốc hết hớp cô-nhắc này tới hớp cô-nhắc khác.

Đó là một cuộc đấu, một trận chiến, một cuộc phục thù! Xem ai uống được nhiều hơn, trời đất ơi! Khi chai rượu một lít đã cạn khô, cả hai đều không chịu nổi nữa. Nhưng chẳng ai thua. Hai bên huề, thế thôi. Mai sẽ phải đấu lại!

Họ loạng choạng đi ra, lên đường, bên cạnh chiếc xe chở phân hai con ngựa kéo chậm rãi.

Tuyết bắt đầu rơi. Đêm không trăng sáng lên một cách buồn bã nhờ cái màu trắng chết chóc của những cánh đồng. Cái lạnh chộp lấy hai người đàn ông, khiến họ càng say. Thánh Ăng-toan, bực vì chưa thắng được, lấy vai huých con lợn của mình cho ngã lộn nhào xuống hào chơi. Người kia lùi lại tránh những cú huých. Và mỗi lần như vậy, anh ta lại nói mấy câu tiếng Đức bằng giọng bực tức, khiến lão nông cười rũ rượi. Cuối cùng thằng Phổ nổi giận. Đúng lúc Ăng-toan định huých thêm cú nữa, anh ta đáp lại bằng một cú đấm khủng khiếp làm gã khổng lồ lảo đảo.

Lúc ấy, bốc lửa vì rượu, lão già ôm ngang người anh ta, lắc lắc mấy giây như lắc một đứa trẻ con, rồi quăng hết sức sang phía bên kia đường. Rồi hài lòng với màn trừng phạt ấy, lão khoanh tay lại để cười tiếp.

Nhưng người lính vụt đứng dậy, đầu trần, vì chiếc mũ sắt đã lăn mất, rồi rút gươm lao vào lão Ăng-toan.

Thấy thế, lão nông nắm lấy giữa thân cây roi, cây roi lớn bằng gỗ ô rô của lão, thẳng, chắc và dẻo như gân bò.

Thằng Phổ xông tới, cúi đầu, giơ vũ khí ra phía trước, chắc mẩm sẽ giết được người. Nhưng lão già chộp gọn lưỡi gươm, mà mũi gươm sắp đâm thủng bụng mình, gạt sang một bên, rồi lấy cán roi đánh một cú gọn vào thái dương kẻ thù. Kẻ thù ngã gục dưới chân lão.

Rồi lão nhìn, hoảng hốt, sững sờ vì kinh ngạc, cái thân người lúc đầu còn co giật, rồi nằm sấp bất động. Lão cúi xuống, lật nó lại, nhìn một lúc. Người kia nhắm nghiền mắt, một dòng máu nhỏ chảy ra từ một vết rách ở góc trán. Dù trời tối, lão Ăng-toan vẫn nhận ra vệt máu nâu sẫm trên tuyết.

Lão đứng đó, mất hết trí khôn, trong khi chiếc xe chở phân vẫn cứ đi, theo bước chân thong thả của lũ ngựa.

Lão sẽ làm gì đây? Lão sẽ bị xử bắn! Người ta sẽ đốt trang trại của lão, người ta sẽ tàn phá cả vùng! Làm gì bây giờ? Làm gì bây giờ? Làm sao giấu cái xác, giấu cái chết, đánh lừa quân Phổ? Lão nghe có tiếng người xa xa, giữa cái im lặng mênh mông của tuyết. Thế là lão cuống cuồng, nhặt chiếc mũ sắt đội lại cho nạn nhân, rồi túm ngang lưng nhấc bổng lên, chạy theo đuổi kịp chiếc xe, quăng cái xác lên đống phân. Về tới nhà rồi sẽ tính.

Lão bước chầm chậm, vắt óc suy nghĩ, chẳng nghĩ ra được gì. Lão thấy mình, lão cảm thấy mình đã nguy rồi. Lão về tới sân nhà. Một ánh đèn sáng ở ô cửa sổ trên gác, chị hầu gái còn chưa ngủ. Lão vội cho xe lùi tới sát mép hố phân. Lão nghĩ rằng khi đổ cả xe xuống, cái xác nằm trên sẽ rơi xuống dưới, nằm trong hố. Và lão lật chiếc xe.

Đúng như lão tính, người kia bị vùi dưới đống phân. Ăng-toan lấy chĩa san phẳng đống phân, rồi cắm cây chĩa xuống đất ngay bên cạnh. Lão gọi người làm công, bảo dắt ngựa vào chuồng, rồi lão về buồng.

Lão đi nằm, vẫn nghĩ xem mình sẽ làm gì, nhưng chẳng có ý nào loé lên. Nằm bất động trên giường, nỗi kinh hoàng của lão càng lúc càng lớn. Người ta sẽ xử bắn lão! Lão toát mồ hôi vì sợ, răng đánh lập cập. Lão vùng dậy, run cầm cập, không nằm yên trong chăn được nữa.

Lão xuống bếp, lấy chai rượu mạnh trong tủ chạn, rồi lên lại. Lão uống liền hai cốc lớn, chồng cơn say mới lên cơn say cũ, mà chẳng làm dịu được nỗi lo âu trong lòng. Lão đã làm một vố đẹp mặt đấy, cái đồ ngu khốn kiếp!

Bây giờ lão đi đi lại lại, tìm mưu, tìm lời giải thích, tìm mẹo. Thỉnh thoảng lão lại súc miệng bằng một ngụm rượu mạnh cho thêm can đảm.

Mà lão chẳng nghĩ ra được gì. Chẳng nghĩ ra được gì hết.

Khoảng nửa đêm, con chó giữ nhà của lão, một con lai sói mà lão đặt tên là Ngấu Nghiến, bắt đầu tru lên như báo có người chết. Lão Ăng-toan run tới tận tuỷ. Mỗi lần con vật lại cất tiếng rên rỉ dài và thê lương, một cơn rùng mình sợ hãi lại chạy khắp da thịt lão già.

Lão đã gục xuống một chiếc ghế, chân rã rời, đờ đẫn, kiệt sức, thấp thỏm chờ con Ngấu Nghiến lại rên, giật nảy người theo từng cơn mà nỗi kinh hoàng làm rung lên trong thần kinh.

Đồng hồ dưới nhà điểm năm tiếng. Con chó vẫn không im. Lão nông phát điên lên. Lão đứng dậy định đi thả con vật ra, để khỏi phải nghe nó nữa. Lão xuống nhà, mở cửa, bước vào màn đêm.

Tuyết vẫn rơi. Mọi thứ trắng xoá. Những dãy nhà của trang trại in thành những vệt đen lớn. Lão tới gần chuồng chó. Con chó đang giằng xích. Lão tháo xích cho nó. Lúc ấy con Ngấu Nghiến nhảy chồm lên một cái, rồi đứng sững lại, lông dựng đứng, chân choãi ra, nhe nanh, mũi hướng về đống phân.

Thánh Ăng-toan run từ đầu tới chân, lắp bắp:

"Mày làm sao thế, con chó khốn?"

Rồi lão bước lên mấy bước, đưa mắt sục sạo trong bóng tối mờ mờ, trong bóng tối xám xịt của khoảng sân.

Lúc ấy lão thấy một hình thù, hình thù một người đang ngồi trên đống phân của lão!

Lão nhìn cái đó, cứng đờ vì khiếp sợ, thở hổn hển. Nhưng bỗng lão thấy ngay bên cạnh cán cây chĩa cắm dưới đất. Lão giật nó lên. Rồi trong một cơn sợ hãi của những lúc khiến kẻ hèn nhát nhất cũng hoá liều, lão xông tới để xem.

Chính là hắn, thằng Phổ của lão, lấm bê bết bùn, đã chui ra khỏi cái giường rác rưởi đã sưởi ấm cho hắn, làm hắn hồi tỉnh. Hắn ngồi dậy một cách máy móc, và cứ ngồi đó, dưới làn tuyết rắc trắng người, bẩn thỉu đầy rác rưởi và máu, vẫn còn đờ đẫn vì say, choáng váng vì cú đánh, kiệt sức vì vết thương.

Hắn trông thấy Ăng-toan, và vì quá mụ mị chẳng hiểu gì, hắn cựa mình định đứng dậy. Nhưng lão già, vừa nhận ra hắn, đã sùi bọt mép như một con thú dại.

Lão lắp bắp:

"À, đồ con lợn! Đồ con lợn! Mày chưa chết! Bây giờ thì mày sẽ tố cáo tao... Chờ đấy... chờ đấy!"

Rồi lão lao vào gã Đức, phóng tới bằng tất cả sức mạnh của đôi tay cây chĩa giơ cao như một ngọn giáo, và đâm ngập tới tận cán bốn mũi sắt vào ngực hắn.

Người lính ngã ngửa, thở ra một hơi dài hấp hối. Còn lão nông già rút vũ khí ra khỏi vết thương, rồi đâm tiếp, đâm liên hồi vào bụng, vào dạ dày, vào cổ họng, đâm như một kẻ điên, chọc thủng từ đầu tới chân cái thân thể đang giãy giụa, máu tuôn ra từng dòng.

Rồi lão dừng lại, hổn hển vì sự dữ dội của việc mình làm, hít lấy hít để không khí, nguôi đi vì án mạng đã xong.

Lúc ấy, khi gà trống đã gáy trong chuồng và trời sắp rạng, lão bắt tay vào việc chôn người.

Lão đào một cái hố trong đống phân, tới đất, rồi đào sâu hơn nữa, làm việc một cách hỗn loạn, trong cơn bùng nổ của sức lực, hai tay và cả thân mình cử động dữ dội.

Khi cái hố đã đủ sâu, lão dùng chĩa lăn cái xác xuống, hất đất lên trên, giẫm chặt rất lâu, đặt lại đống phân như cũ. Và lão mỉm cười khi thấy lớp tuyết dày đang hoàn tất công việc của lão, phủ lên mọi dấu vết bằng tấm khăn trắng của nó.

Rồi lão cắm lại cây chĩa lên đống rác, và trở vào nhà. Chai rượu còn một nửa vẫn để trên bàn. Lão tu một hơi cạn sạch, nằm vật xuống giường, và ngủ say như chết.

Lão thức dậy, đã tỉnh rượu, đầu óc bình tĩnh và minh mẫn, đủ sức xét đoán sự việc và lường trước những gì sẽ xảy ra.

Một tiếng sau, lão chạy khắp vùng, hỏi tin người lính của mình ở khắp nơi. Lão đi gặp các sĩ quan, để hỏi, theo lời lão, vì sao người ta lại lấy mất người của lão.

Vì ai cũng biết hai người thân nhau, nên chẳng ai nghi ngờ lão. Lão còn dẫn đường cho cuộc tìm kiếm, quả quyết rằng tối nào thằng Phổ cũng đi tán gái.

Một ông hiến binh già về hưu, mở quán trọ ở làng bên và có một cô con gái xinh xắn, bị bắt và bị xử bắn.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGuy de Maupassant (1850 – 1893)
Năm mất1893
Xuất bản lần đầu1883
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Saint-Antoine, in trên báo Gil Blas năm 1883, tập Contes de la bécasse, Havard 1894
Giọng đọcBảo Thiện — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →