Chương 1: Kẻ chạy trốn
Một mánh quen thuộc để công chúng chịu đọc truyện của anh là khẳng định nó có thật, rồi thêm rằng sự thật còn lạ lùng hơn tiểu thuyết. Tôi không biết câu chuyện tôi đang nóng lòng muốn các anh đọc có thật hay không. Nhưng viên quản lý người Tây Ban Nha trên chiếc tàu chở hoa quả En Ca-re-rô đã thề với tôi trước điện thờ Đức Mẹ Gua-đa-lu-pê rằng anh ta được nghe sự việc từ chính ông phó lãnh sự Mỹ ở La Pát, một người không đời nào biết nổi một nửa số chuyện ấy.
Còn về câu châm ngôn kia, tôi rất khoái chọc thủng nó bằng cách khẳng định rằng hôm nọ, trong một truyện hoàn toàn hư cấu, tôi đọc được câu: "Viên cảnh sát nói: Đành vậy." Đến giờ, ngoài đời thật vẫn chưa ló ra chuyện gì lạ lùng đến thế.
Mỗi khi Phơ-gơ-xơn Hét-giơ, nhà triệu phú chuyên lập công ty, nhà đầu tư kiêm tay ăn chơi khét tiếng New York, nảy ra ý định đi chè chén, và tin ấy lan ra khắp các quán xá, thì đám bảo vệ tập dượt trước mấy đường quyền cho chắc ăn, bồi bàn bày bát đĩa bằng sành dày lên những chiếc bàn ông ưa ngồi, xà ích đánh xe ngựa dồn sát vỉa hè trước các quán cà phê mở thâu đêm, còn những ông thủ quỹ cẩn thận ở những chốn ông hay lui tới thì ghi trước vài chai vào sổ nợ của ông, coi như lời mở đầu và giới thiệu.
Xét về thế lực đồng tiền, một người chỉ có một triệu đô-la thì chẳng đáng kể gì ở cái thành phố mà anh chàng thái thịt bò cho anh sau quầy ăn miễn phí cũng có xe hơi riêng để đi làm. Nhưng Hét-giơ tiêu tiền hoang phí, ầm ĩ, phô trương như một anh thư ký đang vung vãi đồng lương cả tuần. Mà xét cho cùng, người pha rượu sau quầy chẳng quan tâm gì tới quỹ dự trữ của anh. Anh ta thích tra anh trên máy tính tiền của mình hơn là trong sổ xếp hạng tín dụng.
Vào buổi tối mà câu chuyện bắt đầu, Hét-giơ đang xua tan nỗi buồn tẻ cùng năm sáu bạn vui, những người quen biết và bạn bè đã tụ tập theo đuôi ông. Trong số đó có hai người trẻ hơn, Ran-phơ Me-ri-am, một tay môi giới chứng khoán, và Uây, bạn anh.
Họ thuê hai chiếc xe ngựa. Tới quảng trường Cô-lôm-bô, cả bọn dừng lại đủ lâu để chửi bới bức tượng nhà hàng hải vĩ đại, chẳng chút yêu nước mà trách ông đi tìm đất liền chứ không đi tìm rượu. Nửa đêm, cả bọn mắc cạn trong phòng sau của một quán cà phê rẻ tiền tít trên khu phố trên.
Hét-giơ ngạo mạn, hống hách, hay gây sự. Ông vạm vỡ, rắn rỏi, tóc đã hoa râm màu sắt nhưng vẫn sung sức, đủ sức chơi tới sáng. Có một cuộc cãi vã, về chuyện chẳng đâu vào đâu, rồi những lời thách thức bật ra, những lời như chiếc găng tay ném xuống đấu trường. Me-ri-am đóng vai kẻ nóng nảy ăn nói hung hăng.
Hét-giơ bật dậy, vớ lấy chiếc ghế, vung lên một vòng, đập điên cuồng xuống đầu Me-ri-am. Me-ri-am né được, rút một khẩu súng lục nhỏ, bắn vào ngực Hét-giơ. Người cầm đầu cuộc chè chén lảo đảo, ngã gục thành một đống méo mó, rồi nằm im.
Uây, một người ngày ngày đi tàu từ ngoại ô vào thành phố làm việc, đã quen tính nhanh nhẹn. Anh xoay xở đẩy Me-ri-am ra một cửa bên, dắt anh ra tới góc phố, chạy thêm một dãy nhà nữa rồi vẫy một chiếc xe ngựa. Họ đi năm phút, rồi xuống ở một góc phố tối, cho xe đi. Bên kia đường, ánh đèn của một quán rượu nhỏ để lộ vẻ hiếu khách nóng nảy của nó.
— Vào phòng sau của quán kia, — Uây nói, — rồi chờ đấy. Tớ đi xem tình hình thế nào rồi báo cho cậu. Trong lúc tớ đi, cậu được uống hai ly. Không hơn.
Một giờ kém mười, Uây quay lại.
— Bình tĩnh nào, bạn già, — anh nói. — Xe cứu thương tới đúng lúc tớ tới. Ông bác sĩ bảo ông ấy chết rồi. Cậu được uống thêm một ly nữa. Để tớ lo chuyện này cho cậu. Cậu phải chuồn thôi. Tớ không tin là về mặt pháp luật một cái ghế được coi là hung khí chết người. Cậu phải biến đi, chỉ có thế thôi.
Me-ri-am rên rỉ kêu lạnh, rồi đòi uống thêm ly nữa.
— Cậu có để ý mạch máu trên mu bàn tay ông ấy to thế nào không? — Anh nói. — Tớ chưa bao giờ chịu nổi... tớ chưa bao giờ...
— Uống thêm một ly nữa, — Uây nói, — rồi đi. Tớ sẽ lo cho cậu tới nơi tới chốn.
Uây giữ lời tốt tới mức mười một giờ sáng hôm sau, Me-ri-am, xách một chiếc va-li mới đầy quần áo và bàn chải tóc mới, lặng lẽ bước lên một con tàu chở hoa quả nhỏ năm trăm tấn ở một bến tàu trên sông Ít. Con tàu vừa chở chuyến chanh đầu mùa từ cảng Li-môn về, giờ đang quay lại. Me-ri-am mang trong túi toàn bộ số dư tài khoản ngân hàng là hai nghìn tám trăm đô-la, toàn giấy bạc mệnh giá lớn, cùng lời dặn ngắn gọn là hãy đặt càng nhiều nước giữa mình với New York càng tốt. Không còn thời gian cho việc gì khác nữa.
Từ cảng Li-môn, Me-ri-am đi thuyền buồm dọc bờ biển xuống Cô-lôn, rồi băng qua eo đất sang Pa-na-ma. Ở đó anh đáp một con tàu hàng lang thang đi Ca-lao, ghé vào những cảng dọc đường nào đủ hấp dẫn để kéo ông thuyền trưởng lơ đễnh rời khỏi hải trình.
Me-ri-am quyết định lên bờ ở La Pát. La Pát Xinh Đẹp, một thị trấn nhỏ không có cảng, chìm trong một dải xanh tươi bao quanh chân một ngọn núi cao vút xuyên mây. Con tàu nhỏ dừng lại ở đây, đứng nhấp nhô trên sóng trong lúc chiếc xuồng của tàu đưa ông thuyền trưởng lên bờ, để ông bắt mạch thị trường dừa. Me-ri-am cũng đi theo, mang va-li, và ở lại.
Can, ông phó lãnh sự, một công dân Mỹ gốc Hy Lạp lai Ác-mê-ni-a, sinh ra ở nước Đức, học hành ở các cuộc bầu cử phường ở Xin-xi-na-ti, coi mọi người Mỹ đều là anh em và chủ ngân hàng của mình. Ông bám lấy khuỷu tay Me-ri-am, giới thiệu anh với tất cả những ai đi giày ở La Pát, vay mười đô-la rồi quay về võng của mình.
Có một khách sạn nhỏ bằng gỗ ở bìa một vườn chuối, nhìn ra biển, phục vụ khẩu vị của mấy người nước ngoài đã rơi khỏi thế giới mà lạc vào cái thị trấn buồn bã ở Pê-ru này. Theo lời giới thiệu của Can, "Bắt tay ông này đi", anh ngoan ngoãn bắt tay một ông bác sĩ người Đức, một nhà buôn người Pháp, hai nhà buôn người Ý, và ba bốn người Mỹ mà người ta gọi là dân vàng, dân cao su, dân gỗ gụ, gọi là gì cũng được, chỉ trừ là con người bằng xương bằng thịt.
Ăn tối xong, Me-ri-am ngồi ở một góc hiên trước rộng rãi với Bíp, một người bang Vơ-mân làm khai thác mỏ bằng sức nước, hút thuốc và uống rượu uýt-xki. Biển dưới trăng trải ra mênh mông trước mặt dường như đã ngăn cách anh khỏi cuộc đời cũ, vượt ngoài mọi nỗi lo âu. Lần đầu tiên kể từ khi anh lẻn lên con tàu chở hoa quả như một kẻ chạy trốn khốn khổ, tấn thảm kịch khủng khiếp mà anh đóng vai tai hại ấy bắt đầu mờ dần những đường nét sắc cạnh. Khoảng cách làm dịu nỗi đau. Bíp đã mở cửa xả một dòng chuyện bị dồn nén lâu ngày, mừng rỡ vì bắt được một thính giả chưa từng phải chịu nghe cả trăm lần những quan điểm và lý thuyết của ông.
— Một năm nữa thôi, — Bíp nói, — rồi tôi sẽ về nước. Ồ, tôi biết ở đây đẹp, người ta được ăn không ngồi rồi thả cửa, nhưng xứ này đâu phải sinh ra cho người như chúng ta sống. Người ta phải lâu lâu được lội qua tuyết, xem một trận bóng chày, đeo cổ áo hồ cứng, và để cho một ông cảnh sát chửi cho một trận. Tuy vậy, La Pát cũng là một cái xó cũ kỹ hay hay, mơ mơ màng màng. Mà ở đây có bà Cô-nân. Hễ ai trong bọn tôi thấy muốn nhảy xuống biển là lại chạy sang nhà bà ấy mà cầu hôn. Bị bà Cô-nân từ chối còn dễ chịu hơn chết đuối. Mà người ta bảo chết đuối là một cảm giác dễ chịu lắm đấy.
— Ở đây có nhiều người như bà ấy không? — Me-ri-am hỏi.
— Ở đâu cũng không có, — Bíp nói, thở dài khoan khoái. — Bà ấy là người phụ nữ ngoại quốc duy nhất ở La Pát. Bà ấy tới đây được một năm rồi. Quê ở... chà, anh biết đàn bà nói chuyện thế nào rồi đấy, bảo họ nói "sợi dây" thì họ nói "chân chim" hay "trò bện dây". Có lúc anh tưởng bà ấy ở Ốt-cốt, lúc khác lại tưởng ở Giắc-xơn-vin bang Phlo-ri-đa, hôm sau lại tưởng ở mũi Cốt.
— Bí ẩn à? — Me-ri-am đánh liều hỏi.
— Ừm... trông thì có vẻ thế, nhưng lời bà ấy nói thì trong như pha lê. Đàn bà là thế. Tôi đoán nếu tượng Nhân sư mà mở miệng nói thì nó cũng chỉ bảo: "Trời đất ơi! Lại có khách tới ăn tối, mà nhà chẳng có gì ăn ngoài cát." Nhưng khi gặp bà ấy anh sẽ chẳng nghĩ tới chuyện ấy đâu, Me-ri-am. Rồi anh cũng sẽ cầu hôn bà ấy cho xem.
Nói cho gọn một câu chuyện khó nói, Me-ri-am quả có gặp bà, và quả có cầu hôn bà. Anh thấy đó là một người đàn bà mặc đồ đen, mái tóc màu cánh gà tây đồng thau, và đôi mắt bí ẩn đầy những kỷ niệm, đôi mắt mà... chà, trông như thể bà từng là một nữ y tá đứng nhìn khi nàng Ê-va được tạo ra. Nhưng lời nói và cử chỉ của bà thì trong như pha lê, đúng như Bíp nói. Bà nói mơ hồ về những người bạn ở Ca-li-phoóc-ni-a và ở mấy giáo xứ miền nam Lu-i-di-a-na. Khí hậu nhiệt đới và cuộc sống nhàn tản hợp với bà. Bà đã tính sau này sẽ mua một vườn cam. Nói chung, La Pát làm bà say mê.
Cuộc tán tỉnh tượng Nhân sư của Me-ri-am kéo dài ba tháng, dù anh không hề biết mình đang tán tỉnh bà. Anh dùng bà như liều thuốc giải nỗi ân hận, cho tới khi phát hiện ra, quá muộn, rằng mình đã nghiện. Suốt thời gian ấy anh chẳng nhận được tin tức gì từ quê nhà. Uây không biết anh ở đâu. Anh thì không chắc địa chỉ chính xác của Uây, và cũng sợ viết thư. Anh nghĩ tốt nhất cứ để mọi chuyện yên như thế một thời gian.
Một buổi chiều, anh và bà Cô-nân thuê hai con ngựa nhỏ, cưỡi theo đường mòn trên núi tới tận dòng sông nhỏ mát lạnh đổ ào xuống từ những ngọn đồi. Ở đó họ dừng lại uống nước, và Me-ri-am nói ra điều anh muốn nói. Anh cầu hôn, đúng như Bíp đã tiên đoán.
Bà Cô-nân nhìn anh một cái nhìn dịu dàng rạng rỡ, rồi gương mặt bà bỗng mang một vẻ hốc hác lạ lùng, khiến Me-ri-am choàng tỉnh khỏi cơn say mê, trở về với lý trí.
— Xin em tha lỗi, Phlo-ren-xơ, — anh nói, buông tay bà ra, — nhưng anh phải rút lại một phần những gì anh vừa nói. Dĩ nhiên anh không thể xin em lấy anh. Anh đã giết một người ở New York, một người là bạn anh, bắn ông ấy gục xuống, theo anh hiểu là bắn một cách khá hèn hạ. Dĩ nhiên, say rượu không bào chữa được cho chuyện ấy. Thôi, anh không cưỡng được mà phải nói ra điều mình muốn nói, và anh sẽ mãi mãi nghĩ như thế. Anh ở đây như một kẻ trốn tránh công lý, và... anh nghĩ thế là chấm dứt sự quen biết giữa chúng ta.
Bà Cô-nân chăm chú ngắt từng chiếc lá nhỏ trên cành chanh rủ thấp.
— Em cũng nghĩ thế, — bà nói, giọng trầm và chênh chao lạ lùng, — nhưng điều đó tuỳ ở anh. Em sẽ thành thật như anh. Em đã đầu độc chồng em. Em là goá phụ do chính tay mình làm nên. Một người đàn ông không thể yêu một kẻ giết người. Thế nên em nghĩ thế là chấm dứt sự quen biết giữa chúng ta.
Bà chậm rãi ngước lên nhìn anh. Mặt anh hơi tái đi, anh nhìn bà ngây dại, như một người câm điếc đang tự hỏi chuyện gì đang diễn ra.
Bà bước nhanh một bước về phía anh, hai cánh tay cứng đờ, mắt rực lửa.
— Đừng nhìn em như thế! — Bà kêu lên, như đang đau đớn tột cùng. — Anh cứ nguyền rủa em, hay quay lưng đi, nhưng đừng nhìn em như thế. Em có phải là thứ đàn bà để bị đánh đập không? Giá mà em cho anh xem được, đây, trên hai cánh tay em, trên lưng em, có những vết sẹo, đã hơn một năm rồi đấy, những vết sẹo hắn gây ra trong những cơn điên tàn bạo. Đến một bà xơ thánh thiện cũng phải vùng dậy đánh gục con quỷ ấy. Phải, em đã giết hắn. Những lời bẩn thỉu ghê tởm hắn ném vào mặt em hôm cuối cùng ấy, đêm nào ngủ em cũng nghe chúng nhắc lại bên tai. Rồi tới những trận đòn của hắn, và sức chịu đựng của em đã tới giới hạn. Chiều hôm ấy em đi mua thuốc độc. Đêm nào trước khi đi ngủ hắn cũng có thói quen ngồi trong phòng đọc sách uống một cốc rượu rum pha vang nóng. Hắn chỉ nhận cốc rượu ấy từ bàn tay xinh đẹp của em thôi, vì hắn biết mùi rượu bao giờ cũng làm em buồn nôn. Đêm ấy, khi cô hầu mang cốc rượu lên cho em, em sai cô ấy xuống nhà làm việc khác. Trước khi mang rượu cho hắn, em tới cái tủ nhỏ riêng của em, rót vào cốc hơn một thìa cà phê cồn ô đầu, đủ giết ba người, theo em được biết. Em đã rút hết sáu nghìn đô-la em có ở ngân hàng, mang theo số tiền ấy cùng vài thứ đồ trong một cái túi, rời khỏi nhà mà không ai trông thấy. Khi đi ngang qua phòng đọc sách, em nghe hắn lảo đảo đứng dậy rồi ngã vật nặng nề xuống ghế dài. Em đáp chuyến tàu đêm đi Niu Óc-li-ân, từ đó đi tàu biển tới quần đảo Bơ-mu-đa. Cuối cùng em thả neo ở La Pát. Giờ thì anh nói gì đây? Anh có mở miệng được không?
Me-ri-am sống lại.
— Phlo-ren-xơ, — anh tha thiết nói, — anh cần em. Anh không quan tâm em đã làm gì. Nếu cả thế giới...
— Ran-phơ, — bà ngắt lời, gần như thét lên, — hãy là thế giới của em!
Đôi mắt bà tan chảy. Bà buông lơi người một cách tuyệt đẹp, ngả về phía Me-ri-am đột ngột tới mức anh phải nhảy tới đỡ lấy bà.
Trời ơi! Trong những cảnh thế này, lời lẽ sao mà hay trôi tuột sang thứ văn kiểu cách giả tạo. Nhưng biết làm sao được. Đó là cái mùi khói đèn sân khấu tiềm tàng trong tất cả chúng ta. Cứ khuấy đủ sâu vào tâm hồn bà đầu bếp nhà anh, bà ấy cũng sẽ cất lời bằng thứ văn hoa mỹ của tiểu thuyết diễm tình.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn