Chương 13: Phần thứ hai – Chương II
Nửa giờ sau, bà lý Thuận đến. Cứ lời bà ta thì cách đây dăm hôm nhân dịp Bỉnh về làng, ba anh em và hai chị em dâu có cùng nhau họp mặt và ăn uống vui vẻ ở nhà Trình.
Thì ra họ đã hòa thuận nhau rồi, và Bỉnh về chỉ cốt để khuyến khích sự đoàn kết. Bà Ba tức tối nghĩ ngay đến điều đó, trong khi ngồi nghe người đàn bà thuật lại bữa tiệc long trọng, mà người ấy diễn tả như một cuộc hội họp ám muội, một âm mưu nguy hiểm.
— Bẩm cụ, con cứ tưởng ông Huyện về thì thế nào cũng xảy ra chuyện lôi thôi tay ba. Không ngờ các ông ấy lại tử tế với nhau ngay được.
Bà Ba vẻ mặt cố làm ra hớn hở:
— Ồ, thế thì khá quá nhỉ! Trong gia đình có sự hòa thuận, còn gì vui bằng! Chị tính, tiền của mà làm gì, chỉ cốt cái lòng tử tế… Vậy ra hôm ấy chị cũng có đấy.
— Vâng.
— Chẳng hay đầu đuôi câu chuyện ra sao?
— Bẩm, lúc con đến thì các ông các bà ấy đương ăn cơm. Họ bàn bạc gì với nhau từ trước con chả rõ, nhưng lúc con đến thì họ nói lảng sang chuyện khác ngay. Con có ngồi dốn lại hỏi gợi một vài câu, nhưng cũng chẳng biết hơn điều gì. Con cho cái Tẹo dăm hào để hỏi dò thì nó bảo con rằng, ông Huyện về, ông ấy mắng ầm lên, ông ấy khóc nữa, rồi ông ấy dàn xếp, khu xử thế nào chả rõ mà ngay buổi trưa vợ chồng ông Ba chịu xin lỗi vợ chồng ông Hai, thế rồi buổi chiều có bữa tiệc linh đình. Bẩm, tiệc to quá cơ ạ. Quay cả một con lợn…
Bà Ba mỉm cười:
— Lợn sữa chứ gì!
— Vâng lợn sữa. Cái Tẹo nó bảo cả hai mợ ấy cùng xuống bếp làm thức ăn. Bẩm không ngờ họ hòa thuận với nhau chóng thế.
Bà Ba buột miệng thốt ra một câu bình phẩm mỉa mai:
— Chà! Tử tế đấy rồi lại chửi nhau đấy. Rõ đồ trẻ con! Thế rồi sao?
— Bẩm cụ, con cũng chỉ biết có thế. Ấy là nhờ có dăm hào cho cái Tẹo đấy.
Bà Lý cười, nói tiếp:
— Bẩm cụ việc gì có tiền cũng xong. Để rồi con hỏi lại cái Tẹo một lần nữa.
Hiểu ngay rằng bà Lý muốn xin tiền, bà Ba tìm cách nói chặn ngay:
— Việc gì phải cho nó? Rõ chị lẩn thẩn quá. Nó lấy tiền mà nó lại còn cười vào mặt.
Câu ấy bà Ba chưa cho là đủ hiệu lực để khiến bà Lý không dám mở miệng đòi tiền phí tổn, nên bà thêm:
— À, chị Lý, chỗ trăm thùng thóc quá hạn đã lâu rồi, giả cho tôi lấy thóc ăn chứ.
— Lạy cụ, cụ hãy khoan cho con một hạn nữa, để con lấy cái vốn làm hàng sáo kiếm gạo nuôi các cháu.
Cái số một trăm thùng thóc, bà Lý nợ bà Ba có tới sáu, bảy năm nay, bà Ba vẫn để lửng đấy, tuy bộ coi như đã cho hẳn rồi. Đó là một ngón khôn khéo của bà, vì bà bỏ ra một lúc bốn năm chục bạc như thế, là cốt để rồi thu lợi vào không biết gấp mấy. Cứ một cái lợi bà lý Thuận đi đòi nợ chỗ này chỗ khác giúp bà cũng đã đáng cả gốc lẫn lãi món tiền thóc kia rồi. Ấy là chưa kể những khi bà sai bà Lý đi đây đi đó, mà không cho lấy một xu nhỏ tiền lộ phí. Còn việc do thám thì bà Ba không bao giờ cần ngỏ lời nhờ, bà Lý, cũng như nhiều người đàn bà khác trong làng, trong tổng, tự nhiên nỗ lực tìm kiếm chuyện về trình để tâng công.
Bà Ba ngồi suy nghĩ một lát như tính nhẩm những điều gì ở trong đầu. Rồi bà cười bảo bà Lý:
— Động nhắc đến nợ là chị lôi lũ con chị ra thì còn ai nỡ đòi nữa!
Bỗng bà Ba làm như chợt nhớ tới bức thư của Trình và Khoa, tuy từ nãy đến giờ mấy giòng chữ ấy vẫn chiếm lấy tư tưởng bà:
— Này chị Lý ạ, hai anh ấy vừa viết giấy cho tôi để nói về việc thừa tự…
Cúc đứng gần đấy chau mày ngắt lời mẹ:
— Thôi me, nhắc lại làm gì nữa.
Bà Ba mắng con:
— Cô này hay nhỉ! Dễ cô cấm tôi nói chuyện đấy chắc?
Cúc phụng phịu không bằng lòng, đi xuống nhà dưới. Bà Lý ngập ngừng hỏi:
— Bẩm cụ, có phải ông Hai nhường ông Ba như lời con đoán không?
Bà Ba lặng thinh nhìn qua cửa kính, mắt đăm đăm mơ mộng. Bà Lý tưởng mình đoán đúng, nói luôn:
— Vâng, thế là phải, vì thế nào ông Hai cũng còn phải thờ cụ Hai. Cụ nuôi ông Ba làm con thế là đúng phép, là hợp nhẽ hơn.
Bà Ba nhíu đôi lông mày tỏ vẻ khó chịu: Xưa nay bà vẫn không ưng ai nhắc tới cái tên “cụ Hai” vì bà cho người ta cố ý gọi như thế để ám chỉ bà là “cụ Ba”.
— Bẩm bao giờ ông Ba sang đây ở hầu cụ?
— Ô hay, ai bảo chị thế?
Bà Lý im lặng tìm hiểu, mắt ngơ ngác, liếc quanh phòng. Và bà run sợ khi nghe bà Ba dằn từng tiếng:
— Vậy ra chị chẳng biết gì hết… Thế mà dám nói thánh nói tướng!
Bà Ba mắng mấy câu cho hả cơn giận, chứ thực ra bà cũng nhận thấy rằng mình vô lý, vì người đàn bà kia làm thế nào mà biết được những điều viết trong thư? “Người biết việc này hơn ai hết, phải là con Tẹo hay con Xiêm”, bà Ba vẫn suy nghĩ.
Ngay sáng hôm sau, bà mật cho tìm Tẹo, kẻ nội công của bà trong gia đình Khoa: Muốn phòng ngừa những sự bất trắc, bà đã không ngại công, tiếc của để chăng một lớp lưới dầy chung quanh nhà bọn con chồng.
Cứ lời đứa ở gái thuật lại, thì trước khi Bỉnh về nhà, Trâm đã viết cho hai em chồng một bức thư dài tới tám trang giấy khổ lớn. Trong thư, nó không biết Trâm nói những gì, nhưng nó thấy chủ nó buồn phiền mất hai ngày.
Hôm Bỉnh về, Trình và Khoa biết tin trước cùng toan đi trước để lánh mặt anh, nhưng không biết nghĩ sao, cả hai lại vẫn ở nhà.
Bà Ba thưởng cho Tẹo năm hào, và hứa sẽ cho hai đồng nữa nếu lấy cắp được bức thư đem sang cho bà ta xem. Bà băn khoăn về bức thư lắm, vì chắc đó là đầu mối của bao sự lạ lùng mới xảy ra.
Bà đoán quả không sai. Bức thư của Trâm gửi cho hai em chồng chính Bỉnh đã đọc cho vợ viết và đã cảm hóa được cả đôi bên, vì không những lời lẽ thấm thía, mà lý luận lại xác đáng nữa. Trong thư có đoạn này:
“Cô ta thành thực hay xảo trá, điều đó không cần bàn vội. Nhưng việc cô ta dự định và ngỏ với anh em mình là thế này: Cô ta muốn một người trong hai chú ăn thừa tự cô ta. Có lẽ vì cô ta hối hận về cái đời quá khứ, muốn chuộc lại những tội ác mà cô ta đã gây nên trong gia đình chúng ta. Có lẽ vì cô ta sợ sống cái đời tương lai trơ trọi khi con gái đã về nhà chồng rồi, nên cô ta muốn gia đình một chú sớm khuya trông nom săn sóc đến cô ta, đến cái tuổi già nua ốm yếu của cô ta sau này. Cũng có lẽ cô ta định che mắt thiên hạ và đóng một vai nhân từ trên sân khấu đại gia đình chúng ta. Ba điều phỏng đoán ấy, cũng chẳng quan hệ gì. Chỉ biết hiện giờ cô ta nêu ra một việc: ‘thừa tự’.
Nhận hay không nhận, đó mới là điều quan hệ.
Trước kia, anh bàn với các chú nên nhận là vì anh thành thực yêu mến các chú, chứ, không khi nào vì anh nể lời khẩn khoản của người đàn bà ấy.
Anh cũng tưởng rằng người ấy nhờ đạo Phật mà cải ác vi thiện, tự biết ăn năn tội lỗi, thì mình hẹp gì không tha thứ cho người ta. Vả, tôi nói điều này, hai chú với hai thím đừng giận nhé, hai chú cũng chẳng giàu có gì, thầy mất đi, gia sản còn có gì đâu! Anh thì đã an phận, tháng tháng có lương bổng đủ tiêu, chứ hai chú, tôi không dám nói thiếu thốn, nhưng giá tự nhiên có thêm vài vạn bạc thì thiết tưởng cũng chẳng nên bỏ, nhất số tiền ấy lại là tiền cô ta đã bòn của thầy, nghĩa là đã chiếm đoạt của anh em chúng ta…
Ấy là anh thiển nghĩ thế.
Nhưng hai chú cùng không bằng lòng ăn thừa tự cô ta. Không bằng lòng thì thôi, chỉ có thế. Việc gì lại đi ngờ vực nhau, giận dữ nhau, thù ghét nhau? Mỗi khi nhận được thư của hai chú và hai thím viết lên để mách tội lẫn nhau, anh lại buồn phiền có khi anh ngồi anh khóc rưng rức và anh bảo tôi: ‘Tưởng anh em nhà này thì không bao giờ còn có thể bị cái sức mạnh gì làm ly tán nổi. Dù giận nhau, dù ghét nhau đến đâu, chúng ta cũng phải tha thứ cho nhau ngay, khi chúng ta thoáng nghĩ đến cái quãng đời dĩ vãng khổ sở cùng nhau sống dưới sự khinh nhờn, sự áp chế, sự độc ác của người đàn bà ấy’.
Tôi hết lời khuyên giải anh. Tôi nói với anh rằng hai chú thì nóng, hai thím thì khí khái, nên nghe thấy người ta nói đến ‘tiền’ đến ‘thừa tự’ đều quá tức giận mà lỡ lời nói nặng nhau một vài câu nhưng rồi thế nào các chú, các thím cũng lại hòa thuận như trước, hơn trước nữa.
Vả hai bên ngờ vực nhau là chỉ muốn cho nhau thẳng thắn, trong sạch, như mình. Kỳ thực cả hai thẳng thắn, trong sạch. Vậy còn ngờ vực nhau làm gì nữa? Nay thiết tưởng chẳng còn cách nào phá tan ngay được sự ngờ vực bằng cách này: là hai chú, hai thím cùng sang chơi cô ta, và trước mặt nhau, trước mặt đông đủ mọi người, nói cho cô ta biết rằng cả hai cùng không nhận ăn thừa tự. Việc giản dị đến thế, có gì mà phải để bụng và ngấm ngầm ngờ vực nhau…”
Đọc thư của Trâm, Tính và Chuyên đều xấu hổ. Mấy hôm liền, cả hai cùng im hơi lặng tiếng, không thốt một lời châm chọc, mỉa mai nhau. Còn Trình và Khoa thì đều tỉnh ngộ. Họ cùng nhận thấy tính trẻ con của họ và họ chỉ mong chóng có dịp để xin lỗi nhau.
Vì thế nên Bỉnh vừa về tới nhà là hai bên làm lành với nhau ngay. Và vì thế mới có mấy giòng vắn tắt gửi cho bà Ba.
— Hết chương 13 —
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương