Truyện Đỉnh

🏮 Truyện ma & truyền kỳ

Thùng rượu A-mông-ti-gia-đô

của Edgar Allan Poe

⏱ 12 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 11.946 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Hàng nghìn điều xúc phạm của Phọc-tu-na-tô, tôi đã…
  2. 2:22A-mông-ti-gia-đô!
  3. 3:22Đám gia nhân không ai ở nhà. Chúng đã…
  4. 4:49Đủ rồi, – hắn nói. – Ho có nghĩa…
  5. 5:46Còn khẩu hiệu?
  6. 6:52Anh không phải người của hội thợ xây Tam…
  7. 8:59Anh sờ tay lên tường xem, – tôi nói.…
  8. 11:42Phải, – tôi nói, – vì Chúa!

Hàng nghìn điều xúc phạm của Phọc-tu-na-tô, tôi đã cố nhịn hết mức có thể. Nhưng đến khi hắn dám buông lời lăng nhục, tôi thề sẽ trả thù. Các người vốn hiểu rõ tâm hồn tôi, hẳn sẽ không nghĩ rằng tôi đã thốt ra một lời đe doạ nào. Rồi sẽ có ngày tôi trả được mối hận. Điều ấy đã định hẳn. Nhưng chính vì quyết tâm đã chắc chắn như thế, tôi càng không cho phép mình liều lĩnh. Tôi không những phải trừng phạt, mà còn phải trừng phạt sao cho chẳng ai bắt tội được mình. Mối thù coi như chưa rửa được, nếu kẻ báo thù bị quả báo quật lại. Nó cũng coi như chưa rửa được, nếu kẻ báo thù không làm cho kẻ có lỗi biết chính ai đang trả thù mình.

Cần phải hiểu rằng, chưa bao giờ, bằng lời nói hay việc làm, tôi để Phọc-tu-na-tô có cớ nghi ngờ thiện ý của tôi. Tôi vẫn mỉm cười với hắn như mọi khi, và hắn không hề nhận ra rằng giờ đây tôi mỉm cười là vì nghĩ tới cái chết của hắn.

Phọc-tu-na-tô có một điểm yếu, dù ở những mặt khác hắn là người đáng nể, thậm chí đáng sợ. Hắn tự hào mình sành rượu. Người Ý ít ai có được cái tinh thần sành sỏi thật sự. Phần đông, lòng say mê của họ chỉ là thứ khoác vào cho hợp lúc hợp thời, để bịp mấy nhà triệu phú người Anh, người Áo. Về tranh vẽ và đá quý, Phọc-tu-na-tô cũng như đồng hương của hắn, chỉ là kẻ làm bộ. Nhưng về rượu lâu năm thì hắn sành thật. Ở điểm này tôi cũng chẳng khác hắn là mấy. Tôi rất thạo các loại rượu nho Ý, và hễ có dịp là mua thật nhiều.

Một buổi chiều tối, giữa lúc mùa hội hoá trang đang cuồng nhiệt nhất, tôi gặp người bạn của mình. Hắn chào tôi nồng nhiệt quá mức, vì hắn đã uống khá nhiều. Hắn mặc đồ hề. Bộ áo bó sát người kẻ sọc nhiều màu, trên đầu đội chiếc mũ chóp nhọn đính chuông. Tôi mừng rỡ gặp hắn đến nỗi tưởng như không bao giờ buông được bàn tay hắn ra.

Tôi bảo hắn:

– Phọc-tu-na-tô thân mến, gặp anh thật may quá. Hôm nay trông anh khoẻ khoắn làm sao! Tôi vừa mua được một thùng rượu, người ta bảo là A-mông-ti-gia-đô, nhưng tôi còn ngờ lắm.

– Sao? – Hắn kêu lên. – A-mông-ti-gia-đô à? Cả một thùng? Không thể nào! Mà lại giữa mùa hội hoá trang!

– Tôi còn ngờ lắm, – tôi đáp. – Thế mà tôi dại dột trả đủ giá A-mông-ti-gia-đô, chẳng hỏi ý anh lấy một câu. Tìm anh không được, mà tôi lại sợ lỡ món hời.

– A-mông-ti-gia-đô!

– Tôi còn ngờ lắm.

– A-mông-ti-gia-đô!

– Mà tôi phải cho hết ngờ mới được.

– A-mông-ti-gia-đô!

– Anh đang bận, nên tôi định tới chỗ Lu-kê-xi. Nếu có ai biết thẩm định, thì chính là anh ta. Anh ta sẽ bảo tôi…

– Lu-kê-xi thì làm sao phân biệt nổi A-mông-ti-gia-đô với rượu Xe-ri.

– Thế mà có những kẻ ngốc cứ khăng khăng rằng khẩu vị của anh ta sánh ngang với anh.

– Đi nào, ta đi.

– Đi đâu?

– Xuống hầm rượu nhà anh.

– Không được đâu, bạn ơi. Tôi không muốn lợi dụng lòng tốt của anh. Tôi thấy anh đang có hẹn. Lu-kê-xi…

– Tôi chẳng hẹn hò gì cả. Đi nào.

– Không được đâu, bạn ơi. Chẳng phải vì anh có hẹn, mà vì tôi thấy anh đang bị cảm lạnh nặng. Dưới hầm ẩm khủng khiếp. Tường bám đầy diêm tiêu.

– Cứ đi. Cảm lạnh có sá gì. A-mông-ti-gia-đô! Anh bị người ta lừa rồi. Còn Lu-kê-xi ấy à, hắn chẳng phân biệt nổi rượu Xe-ri với A-mông-ti-gia-đô đâu.

Nói đoạn, Phọc-tu-na-tô khoác lấy tay tôi. Tôi đeo chiếc mặt nạ lụa đen, quấn chặt tấm áo choàng quanh người, rồi để mặc hắn kéo vội về lâu đài của tôi.

Đám gia nhân không ai ở nhà. Chúng đã trốn đi chơi hội cả. Tôi đã dặn chúng rằng sáng mai tôi mới về, và ra lệnh rõ ràng là không đứa nào được rời khỏi nhà. Tôi biết thừa, lệnh ấy đủ để bảo đảm rằng tôi vừa quay lưng đi là chúng biến sạch, không sót một đứa.

Tôi gỡ hai ngọn đuốc khỏi giá, đưa cho Phọc-tu-na-tô một ngọn, rồi cúi chào mời hắn đi qua mấy dãy phòng, tới vòm cửa dẫn xuống hầm. Tôi bước xuống một cầu thang dài và ngoằn ngoèo, dặn hắn đi theo cho cẩn thận. Cuối cùng chúng tôi xuống tới chân cầu thang, cùng đứng trên nền đất ẩm của hầm mộ dòng họ Mông-trê-xo.

Bước chân của bạn tôi loạng choạng, mỗi lần hắn sải bước là chuông trên mũ lại kêu leng keng.

– Thùng rượu đâu? – Hắn hỏi.

– Còn xa nữa, – tôi đáp. – Nhưng anh hãy nhìn cái mạng trắng lấp lánh trên vách hang kia kìa.

Hắn quay sang, nhìn vào mắt tôi bằng đôi mắt mờ đục, rỉ nước vì men rượu.

– Diêm tiêu à? – Mãi hắn mới hỏi.

– Diêm tiêu đấy, – tôi đáp. – Anh bị ho thế bao lâu rồi?

– Khụ! Khụ! Khụ! Khụ! Khụ! Khụ! Khụ! Khụ! Khụ!

Người bạn tội nghiệp của tôi ho mãi mấy phút liền, không trả lời được.

– Không sao đâu, – cuối cùng hắn nói.

– Thôi, – tôi nói, giọng dứt khoát, – ta quay về. Sức khoẻ của anh quý lắm. Anh giàu có, được người ta kính trọng, ngưỡng mộ, yêu mến. Anh đang hạnh phúc, như tôi ngày xưa. Mất anh là người ta tiếc lắm. Còn tôi thì chẳng sao. Ta quay về thôi. Anh mà ốm thì tôi không gánh nổi trách nhiệm. Vả lại, còn có Lu-kê-xi…

– Đủ rồi, – hắn nói. – Ho có nghĩa lý gì. Nó chẳng giết được tôi đâu. Tôi sẽ không chết vì ho.

– Phải, phải, – tôi đáp. – Thật ra tôi cũng chẳng định làm anh lo vô cớ, nhưng anh nên giữ gìn cho đúng mực. Một hớp rượu Mê-đốc này sẽ giúp ta chống được hơi ẩm.

Nói rồi tôi rút một chai trong hàng dài những chai nằm trên lớp mốc, đập vỡ cổ chai.

– Uống đi, – tôi bảo, đưa rượu cho hắn.

Hắn đưa chai lên môi, liếc tôi một cái. Hắn dừng lại, gật đầu với tôi một cách thân mật, chuông trên mũ kêu leng keng.

– Tôi uống, – hắn nói, – mừng những người đã khuất đang yên nghỉ quanh ta.

– Còn tôi, mừng anh sống lâu.

Hắn lại khoác tay tôi, và chúng tôi đi tiếp.

– Hầm này rộng thật, – hắn nói.

– Dòng họ Mông-trê-xo, – tôi đáp, – từng là một dòng họ lớn và đông đúc.

– Tôi quên mất huy hiệu nhà anh rồi.

– Một bàn chân người khổng lồ bằng vàng trên nền xanh da trời. Bàn chân giẫm nát một con rắn đang ngóc đầu, nanh rắn cắm sâu vào gót chân.

– Còn khẩu hiệu?

– Kẻ nào động đến ta, kẻ ấy không thoát tội.

– Hay lắm! – Hắn nói.

Rượu long lanh trong mắt hắn, và chuông lại leng keng. Rượu Mê-đốc cũng làm trí tưởng tượng của tôi nóng dần lên. Chúng tôi đã đi qua những bức tường xếp toàn xương người, lẫn với thùng to thùng nhỏ, vào tới những ngóc ngách sâu nhất của hầm mộ. Tôi lại dừng bước, và lần này tôi mạnh dạn nắm lấy cánh tay Phọc-tu-na-tô, phía trên khuỷu.

– Diêm tiêu kìa! – Tôi nói. – Anh xem, nó dày thêm rồi. Nó bám trên vòm hầm như rêu. Chúng ta đang ở dưới lòng sông. Những giọt nước nhỏ xuống giữa đống xương. Thôi, ta quay về khi còn kịp. Anh đang ho…

– Không sao, – hắn nói. – Ta đi tiếp. Nhưng trước hết, cho thêm một hớp Mê-đốc nữa.

Tôi đập vỡ một bình rượu Đơ Gra-vơ đưa cho hắn. Hắn nốc cạn một hơi. Mắt hắn loé lên một tia dữ dội. Hắn cười to, tung chai rượu lên cao, kèm một cử chỉ mà tôi không hiểu.

Tôi ngạc nhiên nhìn hắn. Hắn lặp lại động tác ấy, một động tác kỳ quặc.

– Anh không hiểu à? – Hắn hỏi.

– Không, – tôi đáp.

– Vậy anh không phải người trong hội.

– Hội nào?

– Anh không phải người của hội thợ xây Tam Điểm.

– Có chứ, – tôi nói. – Tôi là người trong hội chứ.

– Anh ấy à? Không thể nào! Anh mà là thợ xây?

– Thợ xây đây, – tôi đáp.

– Thế thì ra dấu xem nào, – hắn nói.

– Dấu đây, – tôi đáp, rút từ trong nếp áo choàng ra một cái bay thợ nề.

– Anh đùa, – hắn kêu lên, lùi lại mấy bước. – Nhưng thôi, ta đi tìm A-mông-ti-gia-đô.

– Thì đi, – tôi nói, cất cái bay vào dưới áo choàng, rồi lại chìa tay cho hắn khoác. Hắn tựa nặng vào tôi. Chúng tôi tiếp tục đi tìm thùng A-mông-ti-gia-đô. Chúng tôi qua một dãy vòm thấp, đi xuống, đi tiếp, lại đi xuống nữa, và tới một hầm mộ sâu, nơi không khí hôi hám tới mức đuốc của chúng tôi chỉ còn âm ỉ đỏ chứ không bùng lên được.

Ở tận cùng hầm mộ ấy lại có một hầm khác nhỏ hơn. Tường của nó được xếp kín hài cốt người, chồng lên tận vòm trần, theo kiểu những hầm mộ lớn ở Pa-ri. Ba mặt tường của hầm trong vẫn còn được trang trí như thế. Còn ở mặt thứ tư, xương đã bị xô đổ, nằm ngổn ngang trên đất, có chỗ dồn thành một đống khá to. Ở phần tường lộ ra sau khi đống xương bị dời đi, chúng tôi thấy một hốc nhỏ hơn nữa, sâu chừng một mét hai, rộng chừng chín tấc, cao chừng gần hai mét. Hốc ấy hình như chẳng được làm ra để dùng vào việc gì, chỉ là khoảng trống giữa hai cột trụ khổng lồ đỡ vòm hầm, phía sau là một bức tường bao bằng đá hoa cương nguyên khối.

Phọc-tu-na-tô giơ ngọn đuốc lờ mờ lên, cố nhòm vào đáy hốc, nhưng vô ích. Ánh sáng yếu ớt không đủ cho chúng tôi thấy nó sâu tới đâu.

– Vào đi, – tôi nói. – Thùng A-mông-ti-gia-đô ở trong này. Còn Lu-kê-xi thì…

– Hắn là đồ dốt, – bạn tôi ngắt lời, vừa loạng choạng bước vào, tôi theo sát gót. Chỉ trong nháy mắt, hắn đã tới tận cùng hốc, đụng phải vách đá, đứng ngây ra không hiểu gì. Thêm một khắc nữa, tôi đã xích hắn vào đá hoa cương. Trên mặt đá có hai chiếc móc sắt, cách nhau chừng sáu tấc, ngang hàng nhau. Một chiếc treo một đoạn xích ngắn, chiếc kia treo một cái ổ khoá. Quàng xích quanh thắt lưng hắn rồi khoá lại, chỉ mất vài giây. Hắn sững sờ quá nên không kháng cự. Tôi rút chìa khoá, lùi ra khỏi hốc.

– Anh sờ tay lên tường xem, – tôi nói. – Anh không thể không thấy diêm tiêu. Ẩm thật đấy. Một lần nữa, tôi van anh hãy quay về. Không à? Vậy thì tôi đành phải bỏ anh lại đây. Nhưng trước hết, tôi phải chăm sóc anh chu đáo hết mức tôi có thể.

– A-mông-ti-gia-đô! – Bạn tôi thốt lên, vẫn chưa hết bàng hoàng.

– Phải rồi, – tôi đáp. – A-mông-ti-gia-đô.

Vừa nói tôi vừa lúi húi bên đống xương mà tôi đã kể. Gạt xương sang bên, tôi lôi ra một đống đá xây và vữa. Với chỗ vật liệu ấy và cái bay của mình, tôi hăng hái xây bít lối vào hốc.

Tôi vừa xây xong hàng đá đầu tiên thì nhận ra Phọc-tu-na-tô đã tỉnh rượu được phần lớn. Dấu hiệu đầu tiên là một tiếng rên khe khẽ vọng ra từ đáy hốc. Đó không phải tiếng kêu của kẻ say. Rồi đến một khoảng lặng dài và dai dẳng. Tôi xây hàng thứ hai, hàng thứ ba, hàng thứ tư, và rồi tôi nghe thấy sợi xích bị giật lắc dữ dội. Tiếng động kéo dài mấy phút, và để được thưởng thức nó cho trọn, tôi ngừng tay, ngồi xuống đống xương. Khi tiếng xích lách cách cuối cùng lắng xuống, tôi lại cầm bay, xây tiếp một mạch hàng thứ năm, thứ sáu, thứ bảy. Bức tường giờ đã gần ngang ngực tôi. Tôi lại dừng tay, giơ đuốc lên trên khối đá mới xây, rọi vài tia sáng yếu ớt vào hình người bên trong.

Một chuỗi tiếng thét to và chói tai bỗng bật ra từ cổ họng kẻ bị xích, như đẩy bật tôi lùi lại. Trong một khoảnh khắc, tôi ngần ngừ, tôi run rẩy. Tôi tuốt kiếm, khua dò khắp trong hốc. Nhưng chỉ một ý nghĩ thoáng qua đã khiến tôi yên lòng. Tôi đặt tay lên khối đá vững chãi của hầm mộ, và thấy thoả mãn. Tôi lại tiến về phía bức tường. Tôi đáp lại tiếng gào của kẻ đang la hét. Tôi gào theo, tôi hùa vào, tôi gào to hơn, mạnh hơn hắn. Tôi làm như thế, và kẻ la hét im bặt.

Lúc ấy đã nửa đêm, và công việc của tôi sắp hoàn tất. Tôi đã xây xong hàng thứ tám, thứ chín, thứ mười. Tôi đã xây được một phần hàng cuối cùng, hàng thứ mười một. Chỉ còn đúng một viên đá phải đặt vào và trát vữa. Tôi vật lộn với sức nặng của nó, đặt được nó vào gần đúng chỗ. Nhưng đúng lúc ấy, từ trong hốc vọng ra một tiếng cười khẽ làm tóc gáy tôi dựng đứng. Tiếp theo là một giọng nói buồn bã, mà tôi phải khó khăn lắm mới nhận ra là giọng của ngài Phọc-tu-na-tô cao quý. Giọng ấy nói:

– Ha ha ha! Hê hê hê! Đùa hay lắm, quả là một trò đùa tuyệt diệu. Rồi chúng ta sẽ cười với nhau một trận ra trò ở lâu đài, hê hê hê, bên chén rượu, hê hê hê!

– A-mông-ti-gia-đô! – Tôi nói.

– Hê hê hê! Hê hê hê! Phải, A-mông-ti-gia-đô. Nhưng chẳng phải đã muộn rồi sao? Ở lâu đài người ta đang đợi chúng ta, phu nhân Phọc-tu-na-tô và mọi người. Ta đi thôi.

– Phải, – tôi nói, – ta đi thôi.

– Vì Chúa, Mông-trê-xo ơi!

– Phải, – tôi nói, – vì Chúa!

Nhưng sau câu ấy, tôi lắng nghe mãi mà không có tiếng đáp. Tôi sốt ruột. Tôi gọi to:

– Phọc-tu-na-tô!

Không có tiếng trả lời. Tôi gọi lần nữa:

– Phọc-tu-na-tô!

Vẫn không có tiếng trả lời. Tôi thọc một ngọn đuốc qua khe hở còn lại, thả cho nó rơi vào trong. Đáp lại chỉ có tiếng chuông leng keng. Tim tôi chợt thắt lại, chắc là vì hơi ẩm của hầm mộ. Tôi vội làm cho xong việc. Tôi ấn viên đá cuối cùng vào chỗ, trát vữa kín lại. Rồi tôi dựng lại bức tường xương cũ, áp vào khối đá mới xây. Đã nửa thế kỷ nay, không một ai động đến chúng. Cầu cho hắn được yên nghỉ!

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảEdgar Allan Poe (1809 – 1849)
Năm mất1849
Xuất bản lần đầu1846
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Cask of Amontillado, Edgar Allan Poe, 1846; bản in trong The Works of Edgar Allan Poe, tập 2 (Project Gutenberg số 2148)
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →