Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Thuốc lá và quỷ dữ

của Akutagawa Ryūnosuke

⏱ 15 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 12.951 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Thuốc lá vốn không phải là cây có sẵn…
  2. 4:31Con quỷ lập tức đi mượn cuốc mượn mai,…
  3. 6:51Thầy dòng quay lại. Đó là một người tóc…
  4. 7:25Người lái bò đắc ý chỉ vào ngực mình.…
  5. 8:44Không trúng thì tôi lấy của anh một thứ…
  6. 9:27Chắc chắn ạ. Con xin thề nhân danh Chúa…
  7. 11:15Rốt cuộc, đúng tối hạn chót, người lái bò…
  8. 13:35Nhưng từ lâu tôi vẫn nghĩ, truyền thuyết này…

Thuốc lá vốn không phải là cây có sẵn ở Nhật Bản. Vậy nó được tàu bè chở tới vào khoảng nào? Sách vở ghi chép mỗi nơi một khác. Chỗ thì bảo vào niên hiệu Khánh Trường, chỗ lại bảo vào niên hiệu Thiên Văn. Nhưng hình như vào khoảng năm Khánh Trường thứ mười, người ta đã trồng nó ở nhiều nơi rồi. Tới niên hiệu Văn Lộc, thói hút thuốc đã thịnh hành khắp chốn, đến mức có kẻ dán câu vè lên tường mà giễu: "Thứ nói chẳng ai nghe: lệnh cấm thuốc lá, lệnh cấm tiền, lời vua phán, và ông lang Gen-ta-cư."

Vậy thuốc lá do tay ai chở tới? Hỏi nhà sử học nào, người ta cũng đáp: người Bồ Đào Nha, hoặc người Tây Ban Nha. Nhưng đó chưa hẳn là câu trả lời duy nhất. Ngoài ra còn sót lại một câu trả lời nữa, câu trả lời của truyền thuyết. Theo truyền thuyết ấy, thuốc lá là do con quỷ đem từ đâu tới. Mà con quỷ ấy lại do một vị linh mục đạo Thiên Chúa, có lẽ là thánh Phan-xi-cô, dẫn theo từ phương xa tới Nhật.

Nói thế, có khi các tín đồ đạo Thiên Chúa sẽ trách tôi bôi nhọ các cha của họ. Nhưng theo tôi, chuyện ấy dường như có thật. Bởi vì thần của xứ Nam Man đã sang thì quỷ của xứ Nam Man cũng sang theo, nghĩa là cái thiện của phương Tây đã nhập vào thì cái ác của phương Tây cũng nhập vào theo, ấy là chuyện hết sức tự nhiên.

Tuy vậy, con quỷ ấy có thật đã mang thuốc lá tới hay không, chính tôi cũng không dám bảo đảm. Có điều, theo sách của A-na-tôn Phrăng-xơ, con quỷ từng dùng một bông hoa mộc tê để cám dỗ một vị tu sĩ. Xem thế thì chuyện nó đem thuốc lá tới Nhật cũng chưa hẳn đã là chuyện bịa. Mà dẫu có bịa đi nữa, thì lời bịa ấy, xét theo một nghĩa nào đó, có khi lại gần với sự thật hơn ta tưởng. Nghĩ như vậy, tôi bèn chép lại đây truyền thuyết về chuyện thuốc lá sang Nhật.

Năm Thiên Văn thứ mười tám, con quỷ hoá thành một trong những thầy dòng đi theo cha Phan-xi-cô Xa-vi-ê, vượt đường biển dài dằng dặc, bình yên tới Nhật Bản. Sở dĩ nó hoá được thành người thầy dòng ấy là vì trong lúc người thật lên bờ ở Ma Cao hay đâu đó, chiếc tàu đen chở cả đoàn lại chẳng hay biết gì mà nhổ neo mất. Thế là con quỷ, từ nãy vẫn quấn đuôi vào xà buồm, treo ngược mình nhìn trộm mọi sự trên tàu, liền đổi ngay ra hình dạng người ấy, sớm tối hầu hạ cha Phan-xi-cô. Dĩ nhiên với một tay đã từng hoá thành chàng hiệp sĩ oai vệ khoác áo choàng đỏ để tới thăm tiến sĩ Phau-xtơ, thì trò này có đáng gì.

Thế nhưng sang tới Nhật rồi, nó thấy mọi sự khác xa những gì đã đọc trong sách du ký của Mác-cô Pô-lô hồi còn ở phương Tây. Trước hết, theo sách du ký ấy thì khắp nước chỗ nào cũng đầy vàng, vậy mà nhìn quanh đâu chẳng thấy cảnh ấy. Vậy thì chỉ cần lấy móng tay cào nhẹ vào cây thập tự, biến nó thành vàng, là cũng đủ cám dỗ khối người rồi. Lại nghe nói người Nhật biết phép cải tử hoàn sinh nhờ sức của ngọc trai hay gì đó, nhưng chuyện ấy hình như cũng là Mác-cô Pô-lô nói dối. Nếu là nói dối, thì chỉ cần nhổ nước bọt xuống giếng nước khắp nơi cho dịch bệnh lan ra, là phần đông người ta khổ quá sẽ quên phắt cái thiên đàng của đời sau. Lẽo đẽo theo sau cha Phan-xi-cô, ra vẻ ngoan đạo, đi xem cảnh khắp đó đây, con quỷ ngấm ngầm tính toán như vậy, một mình mỉm cười đắc ý.

Nhưng có đúng một điều làm nó khó xử. Chuyện này thì đến con quỷ cũng chẳng làm sao được. Ấy là cha Phan-xi-cô Xa-vi-ê mới sang Nhật, việc truyền đạo chưa thịnh, tín đồ chưa có, nên chẳng có lấy một ai để mà cám dỗ. Chuyện ấy khiến con quỷ, dù là quỷ, cũng bối rối không ít. Trước hết, nó chẳng biết phải tiêu những ngày buồn tẻ trước mắt ra sao.

Thế là sau một hồi suy tính, con quỷ định làm vườn cho qua ngày. Hạt giống thì từ lúc rời phương Tây, nó đã đem theo đủ loại, nhét trong lỗ tai. Đất thì chỉ cần mượn một mảnh ruộng gần đó là xong. Hơn nữa, chính cha Phan-xi-cô cũng tán thành, bảo thế là phải lắm. Dĩ nhiên ông tưởng người thầy dòng theo hầu mình định đem một thứ cây thuốc nào đó của phương Tây sang trồng ở Nhật.

Con quỷ lập tức đi mượn cuốc mượn mai, cần mẫn cày xới mảnh ruộng bên đường.

Lúc ấy đúng vào đầu xuân, hơi nước còn ẩm, từ dưới làn sương mù giăng giăng, tiếng chuông chùa xa xa vọng tới "boong", ngái ngủ. Tiếng chuông ấy thật thong thả, không trong veo đến chói tai, không vang "keng" lên tận đỉnh đầu như tiếng chuông nhà thờ phương Tây nó vẫn quen nghe. Ở giữa cảnh thái bình như thế, hẳn con quỷ phải thảnh thơi lắm? Không hề.

Hễ nghe tiếng chuông chùa ấy, nó lại nhăn mặt, khó chịu hơn cả khi nghe chuông nhà thờ thánh Phao-lô, rồi cuốc đất lấy cuốc để. Vì sao ư? Vì nghe tiếng chuông thong thả ấy, tắm trong ánh nắng mơ màng ấy, lòng nó tự nhiên chùng lại lạ lùng. Chẳng muốn làm điều thiện, mà cũng chẳng buồn làm điều ác. Thế thì còn đâu công lặn lội vượt biển sang đây cám dỗ người Nhật. Con quỷ vốn ghét lao động đến mức từng bị cô em gái của anh I-van khờ mắng vì bàn tay không có lấy một vết chai, vậy mà giờ lại hăng hái cầm cuốc thế này, ấy hoàn toàn là vì nó đang ra sức xua đi cơn buồn ngủ đạo đức cứ chực ngấm vào người.

Chỉ trong mấy ngày, con quỷ đã cày xong ruộng, rồi đem hạt giống trong tai ra gieo xuống các luống.

Mấy tháng trôi qua, hạt giống con quỷ gieo nảy mầm, vươn thân, và tới cuối mùa hạ năm ấy, những chiếc lá xanh to bản đã phủ kín cả mặt ruộng. Nhưng chẳng một ai biết tên loài cây ấy. Ngay cả cha Phan-xi-cô hỏi, con quỷ cũng chỉ cười nhăn nhở, chẳng nói chẳng rằng.

Rồi loài cây ấy trổ hoa thành chùm trên ngọn. Những bông hoa màu tím nhạt, hình như cái phễu. Hoa nở, con quỷ có vẻ mừng lắm, vì đã tốn bao công sức. Thế nên hễ xong buổi kinh sớm kinh chiều, nó lại ra ruộng, chăm bón không chút sao nhãng.

Rồi một hôm, chuyện xảy ra đúng lúc cha Phan-xi-cô đi truyền đạo xa mấy ngày, có một người lái bò dắt một con bò vàng đi ngang qua ruộng. Ông ta thấy trong hàng rào của mảnh ruộng đầy hoa tím, một thầy dòng Nam Man mặc áo dòng đen, đội mũ rộng vành, đang mải bắt sâu trên lá. Bông hoa lạ quá, người lái bò bất giác dừng chân, cởi nón, lễ phép cất tiếng gọi thầy dòng:

— Thưa cha, hoa ấy là hoa gì vậy ạ?

Thầy dòng quay lại. Đó là một người tóc đỏ mũi tẹt, mắt ti hí, trông có vẻ hiền lành tử tế lắm.

— Cái này ư?

— Vâng ạ.

Người tóc đỏ tựa vào hàng rào, lắc đầu, rồi nói bằng thứ tiếng Nhật chưa thạo:

— Riêng cái tên này thì tiếc quá, tôi không thể nói cho ai biết được.

— Ủa, thế ra cha Phan-xi-cô dặn không được nói ạ?

— Không, không phải thế.

— Vậy xin cha nói cho con biết với. Con đây dạo này cũng được cha Phan-xi-cô dạy dỗ, đã theo đạo rồi, cha xem này.

Người lái bò đắc ý chỉ vào ngực mình. Quả nhiên có một cây thánh giá nhỏ bằng đồng thau lấp lánh dưới nắng, đeo nơi cổ. Có lẽ vì chói mắt, thầy dòng hơi nhăn mặt, cúi nhìn xuống đất. Nhưng rồi ông lại nói bằng giọng còn thân mật hơn trước, chẳng biết đùa hay thật:

— Vẫn không được đâu. Đó là luật nước tôi, không được nói với người khác. Thôi thì anh thử tự đoán xem. Người Nhật thông minh, chắc chắn sẽ đoán trúng. Đoán trúng thì tất cả những gì mọc trong ruộng này tôi cho anh hết.

Người lái bò có lẽ tưởng thầy dòng đang trêu mình. Ông ta mỉm cười trên gương mặt rám nắng, cố ý nghiêng đầu ra chiều nghĩ ngợi lung lắm:

— Hoa gì nhỉ. Vội thế này thì con chịu, chưa nghĩ ra được.

— Ồ, đâu cần hôm nay. Anh cứ về nghĩ kỹ trong ba ngày. Đi hỏi ai cũng được. Trúng thì tôi cho anh hết chỗ này. Lại còn cho thêm rượu vang đỏ nữa. Hay tôi cho anh bức tranh vẽ thiên đàng nhé?

Thấy đối phương hăng hái quá, người lái bò có vẻ ngạc nhiên:

— Thế nếu con đoán không trúng thì sao ạ?

Thầy dòng sửa lại chiếc mũ cho lệch ra sau gáy, xua tay mà cười. Một tiếng cười sắc lạnh như tiếng quạ kêu, khiến người lái bò cũng thấy hơi lạ.

— Không trúng thì tôi lấy của anh một thứ gì đó. Đánh cược mà. Cược xem trúng hay không trúng. Trúng thì tôi cho anh tất cả chỗ này.

Nói tới đây, người tóc đỏ chẳng biết từ lúc nào đã trở lại giọng thân mật.

— Được ạ. Vậy con cũng chơi liều một phen, cha muốn thứ gì con cũng xin dâng.

— Thứ gì cũng cho ư? Kể cả con bò ấy?

— Nếu cha thích con bò này thì con dâng ngay bây giờ cũng được.

Người lái bò vừa cười vừa xoa trán con bò vàng. Ông ta vẫn đinh ninh đây chỉ là lời đùa của một ông thầy dòng tốt bụng.

— Bù lại, nếu con thắng thì con xin cây có hoa kia nhé.

— Được. Được. Vậy là ta đã hứa chắc chắn rồi nhé.

— Chắc chắn ạ. Con xin thề nhân danh Chúa Giê-su Ki-tô.

Nghe thế, đôi mắt ti hí của thầy dòng sáng lên, hắn khịt mũi hai ba lần ra chiều hả hê lắm. Rồi hắn chống tay trái vào hông, hơi ưỡn người ra, tay phải chạm vào bông hoa tím:

— Vậy thì nếu không trúng, tôi sẽ lấy thân xác và linh hồn của anh.

Vừa nói, người tóc đỏ vừa vung tay phải một vòng thật rộng, bỏ mũ ra. Giữa mớ tóc bù xù mọc hai chiếc sừng như sừng dê. Người lái bò bất giác biến sắc, đánh rơi chiếc nón đang cầm xuống đất. Có lẽ vì mặt trời vừa khuất, hoa lá trong ruộng phút chốc mất hết vẻ tươi sáng. Đến cả con bò cũng chẳng biết sợ gì, cúi thấp sừng mà rống lên như tiếng đất gầm...

— Hứa với tôi thì cũng là hứa đấy nhé. Anh đã chỉ vào thứ mà tôi không được nói tên mà thề rồi. Đừng có quên. Hạn là ba ngày. Thôi, chào anh.

Giọng lễ phép mà như chế nhạo, con quỷ vừa nói vừa cố ý cúi chào người lái bò thật kính cẩn.

Người lái bò hối hận vì đã sơ ý mắc bẫy con quỷ. Cứ thế này thì rốt cuộc ông ta sẽ bị con quỷ bắt, cả thân xác lẫn linh hồn sẽ bị thiêu trong "ngọn lửa dữ không bao giờ tắt". Thế thì còn đâu công bỏ đạo cũ mà chịu phép rửa tội.

Nhưng đã thề nhân danh Chúa Giê-su Ki-tô rồi thì lời hứa không thể nuốt lại. Giá có cha Phan-xi-cô ở đây thì còn may ra, nhưng khốn nỗi ông lại đi vắng. Thế là suốt ba ngày, ông ta thức trắng đêm, tìm cách lật ngược mưu kế của con quỷ. Muốn thế thì chẳng còn cách nào khác ngoài biết được tên cái cây kia. Nhưng cái tên mà đến cha Phan-xi-cô còn không biết, thì ở đâu ra người biết...

Rốt cuộc, đúng tối hạn chót, người lái bò lại dắt con bò vàng, lén lút mò tới bên ngôi nhà thầy dòng ở. Ngôi nhà nằm cạnh mảnh ruộng, quay ra đường cái. Tới nơi, hình như thầy dòng đã ngủ say, đến ánh đèn hắt qua cửa sổ cũng chẳng có. Đêm ấy có trăng, nhưng mây phủ mờ mờ. Khắp mảnh ruộng vắng lặng, những bông hoa tím lờ mờ ẩn hiện trong bóng tối, trông thật bơ vơ. Người lái bò vốn đã nghĩ ra một kế, dù chẳng chắc lắm, mới lần mò tới được đây. Nhưng nhìn cảnh lặng ngắt như thế, ông ta chợt thấy sợ, toan bỏ về luôn cho xong. Nhất là nghĩ tới chuyện sau cánh cửa kia, vị tiên sinh có cặp sừng dê đang ngủ, có khi đang mơ thấy địa ngục, thì chút can đảm vừa gồng lên cũng nhũn ra thảm hại. Nhưng nghĩ tới chuyện thân xác và linh hồn sẽ rơi vào tay quỷ dữ, thì dĩ nhiên lúc này đâu phải lúc mà kêu ca yếu bóng vía.

Thế là người lái bò cầu xin Đức Mẹ Đồng trinh Ma-ri-a phù hộ, rồi liều mình làm theo kế đã tính sẵn. Kế ấy chẳng có gì khác: ông ta tháo dây con bò vàng dắt theo, quất thật mạnh vào mông nó, rồi lùa nó xông thẳng vào mảnh ruộng kia.

Con bò đau quá, chồm lên, phá rào, giẫm nát cả mảnh ruộng. Đã mấy lần nó húc sừng vào ván tường nhà. Lại thêm tiếng móng nện, tiếng rống lay động lớp sương đêm mỏng, vang dội ầm ĩ khắp bốn phía. Thế là có người mở cửa sổ thò mặt ra. Tối quá, không nhìn rõ mặt, nhưng hẳn là con quỷ hoá thành thầy dòng rồi. Chẳng biết có phải tại tưởng tượng không, chứ cặp sừng trên đầu thì dù trong đêm vẫn trông thấy rõ mồn một.

— Đồ súc sinh này, sao lại phá ruộng thuốc lá của tao!

Con quỷ vừa vung tay vừa quát, giọng ngái ngủ. Bị phá giấc đang ngon, hình như nó tức tối lắm.

Nhưng vào tai người lái bò đang nấp sau ruộng rình xem, câu nói của con quỷ vang lên như tiếng của Đức Chúa Trời...

"Đồ súc sinh này, sao lại phá ruộng thuốc lá của tao!"

Những chuyện về sau thì cũng như mọi truyện thuộc loại này, kết thúc hết sức êm đẹp. Nghĩa là người lái bò đã đoán trúng cái tên "thuốc lá", làm con quỷ bẽ mặt. Và toàn bộ chỗ thuốc lá mọc trong ruộng đều thành của ông ta.

Nhưng từ lâu tôi vẫn nghĩ, truyền thuyết này có lẽ còn có một ý nghĩa sâu xa hơn. Bởi vì con quỷ tuy không chiếm được thân xác và linh hồn người lái bò, nhưng bù lại, nó đã làm cho thuốc lá lan khắp nước Nhật. Xem thế thì cũng như sự cứu rỗi của người lái bò đi kèm một mặt sa ngã, sự thất bại của con quỷ chẳng phải cũng đi kèm một mặt thành công hay sao? Con quỷ có ngã cũng chẳng chịu đứng dậy tay không. Ngay cả khi tưởng mình đã thắng được cám dỗ, có khi con người lại thua lúc nào chẳng biết.

Nhân tiện, tôi cũng ghi lại vắn tắt về số phận của con quỷ. Khi cha Phan-xi-cô trở về, nhờ uy lực của ngôi sao năm cánh thiêng liêng, rốt cuộc nó bị đuổi khỏi vùng đất ấy. Nhưng sau đó, hình như nó vẫn đội lốt thầy dòng, lang thang khắp nơi. Theo một bản ghi chép, vào khoảng dựng nhà thờ Nam Man, nó còn nhiều lần xuất hiện ở Ki-ô-tô. Có thuyết nói rằng ông Ka-sin Cư-si từng đem tướng Mát-xu-na-ga ra làm trò đùa chính là con quỷ này, nhưng chuyện ấy thì ông La-phca-đi-ô Hơn đã viết rồi, xin phép không kể ở đây. Rồi tới khi nhà Tô-yô-tô-mi và nhà Tô-cư-ga-oa cấm đạo ngoại, lúc đầu nó còn hiện hình đây đó, nhưng rốt cuộc thì biệt tăm khỏi Nhật Bản. Sách vở chỉ kể tin tức về con quỷ đến đó mà thôi. Có điều, từ thời Minh Trị trở đi, nó lại sang Nhật lần nữa, mà hành tung ra sao thì không ai biết được, đó thật là điều đáng tiếc vô cùng...

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAkutagawa Ryūnosuke (1892 – 1927)
Năm mất1927
Xuất bản lần đầu1916
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: 煙草と悪魔 (Tabako to akuma), Akutagawa Ryūnosuke, tạp chí Shinshichō, tháng 11 năm 1916
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →