Truyện Đỉnh

📚 Tiểu thuyết theo chương

Về với hoang sơ

Tiếng gọi nơi hoang dã · Chương 1/11 · của Jack London

⏱ 23 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 19.964 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Khát khao du mục xưa trỗi dậy, Cựa mình…
  2. 5:23Đêm Ma-nu-en phản bội, cái đêm đáng nhớ ấy,…
  3. 8:21Tao chỉ được có năm chục, gã càu nhàu.…
  4. 8:56Thì là vì số mày sinh ra để lên…
  5. 13:16Ông không định thả nó ra bây giờ đấy…
  6. 15:43Lần cuối cùng nó lao tới. Gã đàn ông…
  7. 18:31Thỉnh thoảng lại có những người lạ tới, nói…
  8. 21:36Con chó kia không làm thân với ai, cũng…

Chương 1: Về với hoang sơ

Khát khao du mục xưa trỗi dậy,
Cựa mình trong xiềng xích lề thói.
Sau giấc ngủ dài của mùa đông,
Dòng máu hoang lại bừng tỉnh giấc.

Bấc không đọc báo. Nếu đọc, hẳn nó đã biết tai hoạ đang nhen nhóm, không chỉ cho riêng nó, mà cho mọi con chó vùng duyên hải, cơ bắp rắn chắc, lông dài và ấm, từ vịnh Piu-giớt tới tận Xan Đi-ê-gô. Bởi vì con người, mò mẫm trong bóng tối Bắc cực, đã tìm ra một thứ kim loại màu vàng. Và bởi vì các hãng tàu thuỷ, các công ty vận tải thổi phồng phát hiện ấy, hàng nghìn người đang đổ xô lên miền Bắc. Những người ấy cần chó. Và loại chó họ cần là loại chó to nặng, cơ bắp khoẻ để làm lụng, bộ lông dày để chống chọi với giá rét.

Bấc sống trong một ngôi nhà lớn ở thung lũng Xan-ta Cla-ra chan hoà nắng. Người ta gọi đó là nhà ông thẩm phán Mi-lơ. Ngôi nhà nằm lùi xa con đường, khuất nửa sau những hàng cây, qua kẽ lá thấp thoáng thấy dãy hiên rộng mát mẻ chạy quanh cả bốn mặt. Tới ngôi nhà phải theo những lối xe rải sỏi, uốn lượn qua những bãi cỏ trải rộng, dưới vòm cành đan nhau của những hàng bạch dương cao vút. Phía sau nhà, mọi thứ còn rộng rãi hơn cả phía trước. Có những chuồng ngựa lớn, nơi cả chục người giữ ngựa và đám trẻ giúp việc làm chủ. Có những dãy nhà nhỏ của gia nhân phủ đầy dây leo. Có cả một dãy dài bất tận những gian nhà phụ ngăn nắp, những giàn nho dài, những đồng cỏ xanh, vườn cây ăn quả và những luống dâu. Rồi còn trạm bơm cho giếng phun, và cái bể xi măng lớn, nơi các cậu con trai của ông thẩm phán Mi-lơ nhảy xuống tắm mỗi sáng và ngâm mình cho mát những buổi chiều nóng nực.

Và Bấc ngự trị trên cả cơ ngơi rộng lớn ấy. Nó sinh ra ở đây, và đã sống ở đây bốn năm trong đời. Đành rằng còn có những con chó khác. Một nơi rộng lớn như thế thì không thể không có những con chó khác, nhưng chúng chẳng đáng kể. Chúng đến rồi đi, ở trong những dãy chuồng đông đúc, hoặc sống lặng lẽ khuất nẻo trong góc nhà, như con Tút giống chó mặt xệ Nhật Bản, hay con I-xa-ben giống chó trụi lông Mê-hi-cô. Những sinh vật kỳ cục ấy hiếm khi thò mũi ra cửa hay đặt chân xuống đất. Còn có lũ chó sục, ít nhất cũng hai chục con. Chúng sủa ăng ẳng những lời doạ dẫm khủng khiếp vào mặt con Tút và con I-xa-ben đang nhìn ra qua cửa sổ, được cả một đạo quân hầu gái cầm chổi cầm giẻ lau bảo vệ.

Nhưng Bấc không phải chó trong nhà, cũng chẳng phải chó ngoài chuồng. Cả vương quốc này là của nó. Nó nhảy ùm xuống bể bơi hoặc đi săn với các cậu con trai ông thẩm phán. Nó hộ tống Mô-li và A-li-xơ, hai cô con gái ông, trong những cuộc dạo chơi dài lúc chạng vạng hay sáng sớm. Những đêm đông, nó nằm dưới chân ông thẩm phán trước lò sưởi cháy rừng rực trong phòng đọc sách. Nó cõng mấy đứa cháu nội của ông trên lưng, hay vần chúng lăn trên cỏ, canh chừng bước chân chúng trong những cuộc phiêu lưu táo bạo xuống tận vòi nước ở sân chuồng ngựa, thậm chí xa hơn, tới những bãi quây ngựa và những luống dâu. Giữa lũ chó sục, nó oai vệ bước đi. Còn con Tút và con I-xa-ben thì nó hoàn toàn chẳng thèm để mắt tới. Vì nó là vua, vua của mọi loài bò, loài trườn, loài bay trong cơ ngơi nhà ông thẩm phán Mi-lơ, kể cả loài người.

Cha nó, En-mô, một con chó Xanh Bẹc-na khổng lồ, từng là bạn đồng hành không rời của ông thẩm phán, và Bấc có vẻ sẽ nối gót cha. Nó không to bằng cha, chỉ nặng hơn sáu mươi cân, vì mẹ nó, con Sép, là một con chó chăn cừu Xcốt-len. Dù vậy, sáu mươi cân ấy, cộng thêm cái phong thái đường bệ mà cuộc sống sung túc và sự kính nể của muôn người đem lại, đủ cho nó đi đứng đúng kiểu bậc vương giả. Suốt bốn năm từ khi còn là chó con, nó đã sống cuộc đời của một nhà quý tộc no đủ. Nó rất tự hào về mình, thậm chí hơi tự cao tự đại, như các ông điền chủ miền quê đôi khi vẫn thế, vì sống tách biệt một cõi. Nhưng nó đã tự cứu mình khỏi việc trở thành một con chó nhà được nuông chiều. Săn bắn và những thú vui ngoài trời tương tự đã giữ cho nó khỏi béo, làm cơ bắp nó rắn chắc. Và với nó, cũng như với những giống người quen tắm nước lạnh, niềm yêu thích nước là liều thuốc bổ, là bí quyết giữ sức khoẻ.

Bấc là con chó như thế vào mùa thu năm 1897, khi vàng tìm thấy ở Clôn-đai-cơ lôi kéo người từ khắp thế giới đổ về miền Bắc băng giá. Nhưng Bấc không đọc báo, và nó không biết rằng Ma-nu-en, một trong những người phụ việc của bác làm vườn, là kẻ chẳng nên quen biết. Ma-nu-en có một tật xấu không bỏ được. Hắn mê chơi xổ số kiểu Tàu. Lại thêm, trong cờ bạc, hắn có một nhược điểm không bỏ được: tin vào một "phương pháp". Điều ấy khiến hắn chắc chắn sa vào vòng khổ. Vì muốn chơi theo phương pháp thì phải có tiền, mà tiền công của một người phụ việc làm vườn thì chẳng dư dả gì sau khi lo cho vợ và một đàn con đông đúc.

Đêm Ma-nu-en phản bội, cái đêm đáng nhớ ấy, ông thẩm phán đang dự cuộc họp của Hội những người trồng nho làm nho khô, còn các cậu con trai thì bận lập một câu lạc bộ thể thao. Không ai thấy hắn và Bấc đi qua vườn cây, vào cái việc mà Bấc tưởng chỉ là một cuộc dạo chơi. Và ngoài một người đàn ông đứng một mình, cũng chẳng ai thấy họ tới cái ga xép nhỏ có tên là Cô-lét Pác, nơi tàu chỉ dừng khi có người vẫy cờ. Người đàn ông ấy nói chuyện với Ma-nu-en, và tiền kêu leng keng giữa hai người.

— Mày nên gói hàng lại trước khi giao chứ, gã lạ mặt cộc cằn nói. Và Ma-nu-en quấn một vòng dây thừng chắc chắn quanh cổ Bấc, dưới chiếc vòng cổ.

— Xoắn lại là nó nghẹt thở ngay, Ma-nu-en nói, và gã lạ mặt càu nhàu một tiếng ưng thuận.

Bấc đã chấp nhận sợi dây với một vẻ đĩnh đạc lặng lẽ. Đành rằng đó là một việc khác thường, nhưng nó đã quen tin những người nó biết, và tin rằng họ khôn ngoan hơn nó. Nhưng khi hai đầu dây được trao vào tay gã lạ mặt, nó gầm gừ đe doạ. Nó chỉ tỏ ý không vừa lòng, vì trong niềm kiêu hãnh của mình, nó tin rằng chỉ cần tỏ ý là đủ thành mệnh lệnh. Nhưng nó sững sờ khi sợi dây siết chặt quanh cổ, chặn đứng hơi thở. Giận dữ, nó lao vào gã đàn ông. Gã đón nó ngay giữa chừng, túm chặt lấy cổ họng nó, rồi bằng một cú vặn khéo léo quật nó ngã ngửa. Rồi sợi dây siết lại tàn nhẫn, trong khi Bấc điên cuồng vùng vẫy, lưỡi thè ra khỏi miệng, lồng ngực vạm vỡ thở hổn hển vô ích. Cả đời nó chưa bao giờ bị đối xử đê tiện đến thế, và cả đời nó chưa bao giờ giận dữ đến thế. Nhưng sức lực nó cạn dần, mắt nó dại đi, và nó không còn biết gì khi tàu được vẫy dừng lại và hai gã đàn ông quăng nó vào toa hành lý.

Khi tỉnh lại, nó lờ mờ nhận ra lưỡi mình đau nhức và mình đang bị xóc nảy trên một thứ xe cộ nào đó. Tiếng còi đầu máy khàn đục rú lên khi qua chỗ đường giao cắt cho nó biết nó đang ở đâu. Nó đã đi cùng ông thẩm phán quá nhiều lần để không nhận ra cảm giác ngồi trong toa hành lý. Nó mở mắt, và trong mắt nó bừng lên cơn thịnh nộ không kiềm chế của một vị vua bị bắt cóc. Gã đàn ông chồm tới chộp cổ họng nó, nhưng Bấc nhanh hơn. Hai hàm răng nó cắn chặt lấy bàn tay gã, và không chịu nhả ra cho tới khi nó lại bị siết cổ tới ngất đi.

— Ừ, nó lên cơn đấy, gã đàn ông nói, giấu bàn tay nát bấy khỏi mắt người trông toa hành lý vừa bị tiếng vật lộn kéo tới. Tôi đưa nó lên Phrít-xcô cho ông chủ. Ở đó có một tay bác sĩ thú y cừ khôi bảo chữa được cho nó.

Về chuyến đi đêm ấy, chính gã đàn ông đã tự kể một cách hùng hồn nhất, trong một cái lán nhỏ sau một quán rượu ở bến cảng Xan Phran-xi-xcô.

— Tao chỉ được có năm chục, gã càu nhàu. Có trả một nghìn tiền mặt tao cũng chẳng làm lại lần nữa.

Bàn tay gã quấn trong một chiếc khăn tay đẫm máu, ống quần bên phải rách toạc từ đầu gối xuống mắt cá.

— Thằng kia được bao nhiêu? chủ quán hỏi.

— Một trăm, gã đáp. Thiếu một xu nó cũng không chịu, thề có trời.

— Thế là một trăm năm chục, chủ quán tính. Mà nó đáng giá ấy, không thì tao là thằng ngu.

Gã bắt cóc tháo lớp khăn đẫm máu, nhìn bàn tay rách bươm.

— Nếu tao không bị bệnh dại...

— Thì là vì số mày sinh ra để lên giá treo cổ, chủ quán cười. Này, giúp tao một tay trước khi mày chuồn, gã nói thêm.

Choáng váng, cổ họng và lưỡi đau đớn không chịu nổi, sự sống đã bị bóp nghẹt mất một nửa, Bấc vẫn cố đối mặt với những kẻ hành hạ mình. Nhưng nó bị quật ngã và bóp cổ hết lần này tới lần khác, cho tới khi chúng giũa đứt được chiếc vòng cổ bằng đồng nặng trĩu. Rồi sợi dây được tháo ra, và nó bị tống vào một cái thùng thưa như cũi.

Nó nằm đó suốt phần còn lại của đêm dài mệt mỏi, ôm ấp cơn giận và lòng tự tôn bị tổn thương. Nó không hiểu nổi mọi chuyện này nghĩa là gì. Những kẻ lạ mặt này muốn gì ở nó? Sao chúng lại nhốt nó trong cái thùng chật chội này? Nó không biết vì sao, nhưng nó thấy nặng nề trong lòng một cảm giác mơ hồ rằng tai hoạ sắp ập tới. Mấy lần trong đêm, nó bật dậy khi cửa lán mở ra lạch cạch, mong thấy ông thẩm phán, hay ít ra là các cậu con trai. Nhưng lần nào cũng chỉ là bộ mặt phị của tay chủ quán ghé vào nhìn nó dưới ánh nến mỡ leo lét. Và lần nào tiếng sủa vui mừng đang run run trong cổ họng Bấc cũng bị vặn thành một tiếng gầm dữ tợn.

Nhưng tay chủ quán để yên cho nó. Buổi sáng, bốn gã đàn ông bước vào, khiêng cái thùng lên. Lại thêm những kẻ hành hạ, Bấc kết luận, vì chúng trông rất gian ác, rách rưới và bù xù. Nó gầm thét, lồng lộn với chúng qua song thùng. Chúng chỉ cười, lấy gậy chọc vào nó. Nó lập tức lao vào cắn những cây gậy, cho tới khi nhận ra đó chính là điều chúng muốn. Thế là nó nằm xuống, hằn học, để mặc cái thùng được nhấc lên một chiếc xe ngựa. Rồi nó, cùng cái thùng giam nó, bắt đầu một hành trình qua tay biết bao người. Các nhân viên ở hãng chuyển phát nhận lấy nó. Nó được chở đi trên một chiếc xe ngựa khác. Một chiếc xe đẩy chở nó, cùng đủ thứ hòm hộp, bưu kiện, lên một chiếc phà chạy hơi nước. Rồi nó được đẩy từ phà xuống một nhà ga xe lửa lớn, và cuối cùng được đặt vào một toa chuyển phát.

Suốt hai ngày hai đêm, toa chuyển phát bị lôi đi sau những đầu máy rú còi. Và suốt hai ngày hai đêm, Bấc không ăn không uống. Trong cơn giận, nó đã đón những cử chỉ làm thân đầu tiên của mấy người áp tải bằng những tiếng gầm gừ, và họ trả đũa bằng cách trêu chọc nó. Khi nó lao mình vào song thùng, run bần bật, sùi bọt mép, họ cười nhạo và chế giễu nó. Họ gầm gừ và sủa như những con chó đáng ghét, kêu meo meo, vỗ tay phành phạch như cánh gà mà gáy. Nó biết tất cả những trò ấy thật ngớ ngẩn. Nhưng chính vì thế mà phẩm giá nó càng bị xúc phạm, và cơn giận của nó cứ dâng mãi lên. Cái đói nó không mấy bận tâm, nhưng thiếu nước khiến nó khổ sở vô cùng, và quạt cơn thịnh nộ lên tới đỉnh điểm. Mà cũng phải nói, với bản tính căng thẳng và nhạy cảm, sự ngược đãi đã ném nó vào một cơn sốt, và cơn sốt lại được nuôi thêm bởi cổ họng và cái lưỡi khô khốc, sưng tấy.

Có một điều nó mừng: sợi dây đã được tháo khỏi cổ. Sợi dây ấy đã cho chúng một lợi thế không công bằng. Nhưng giờ nó đã được tháo ra, nó sẽ cho chúng biết tay. Chúng sẽ không bao giờ quàng được sợi dây nào quanh cổ nó nữa. Nó đã quyết như vậy. Suốt hai ngày hai đêm nó không ăn không uống, và trong hai ngày hai đêm đọa đày ấy, nó tích tụ cả một kho thịnh nộ, báo trước điều chẳng lành cho kẻ đầu tiên chạm trán nó. Mắt nó đỏ ngầu, và nó biến thành một con quỷ dữ điên cuồng. Nó thay đổi tới mức chính ông thẩm phán cũng không nhận ra. Và mấy người áp tải thở phào nhẹ nhõm khi tống được nó xuống tàu ở Xi-át-tơn.

Bốn gã đàn ông rón rén khiêng cái thùng từ xe ngựa vào một cái sân sau nhỏ, tường cao. Một người đàn ông mập mạp, mặc chiếc áo len đỏ cổ trễ thùng thình, bước ra ký sổ cho người đánh xe. Đó chính là kẻ hành hạ tiếp theo, Bấc đoán, và nó lao mình dữ dội vào song thùng. Người đàn ông mỉm cười lạnh lùng, rồi mang ra một cái rìu nhỏ và một cây dùi cui.

— Ông không định thả nó ra bây giờ đấy chứ? người đánh xe hỏi.

— Có chứ, người kia đáp, bổ chiếc rìu vào thùng để nạy.

Bốn gã đã khiêng thùng vào lập tức tản ra, rồi từ những chỗ ngồi an toàn trên đầu tường, chúng chuẩn bị xem màn biểu diễn.

Bấc xông vào chỗ gỗ đang vỡ toác, cắm răng vào đó, vùng vẫy và vật lộn với nó. Lưỡi rìu bên ngoài bổ xuống đâu là bên trong nó có mặt ở đó, gầm gừ, gào rít, nóng lòng muốn thoát ra một cách điên cuồng, ngang với sự bình tĩnh quyết tâm của gã áo len đỏ muốn lôi nó ra.

— Nào, thằng quỷ mắt đỏ, gã nói, khi đã mở được một lỗ đủ cho thân Bấc chui lọt. Cùng lúc đó gã buông rìu, chuyển cây dùi cui sang tay phải.

Và Bấc đúng là một con quỷ mắt đỏ thật, khi nó thu mình lấy đà nhảy, lông dựng đứng, miệng sùi bọt, một ánh điên cuồng lấp loá trong đôi mắt đỏ ngầu. Nó lao thẳng vào gã đàn ông, hơn sáu mươi cân thịnh nộ, chất chứa cơn phẫn uất dồn nén suốt hai ngày hai đêm. Giữa không trung, đúng lúc hai hàm sắp đớp vào người gã, nó nhận một cú đánh chặn đứng thân mình, khiến hai hàm răng va vào nhau đánh cạch một cái đau điếng. Nó lộn nhào, rơi xuống đất bằng lưng và sườn. Cả đời nó chưa từng bị đánh bằng dùi cui, và nó không hiểu chuyện gì. Với một tiếng gầm vừa như sủa, vừa như thét, nó lại đứng dậy và lao lên không trung. Và lại một cú đánh nữa, nó bị nện xuống đất nát người. Lần này nó biết đó là cây dùi cui, nhưng cơn điên của nó không biết thế nào là thận trọng. Cả chục lần nó lao tới, và cả chục lần cây dùi cui chặn đứng cú lao, đập nó xuống.

Sau một cú đánh đặc biệt dữ dội, nó lồm cồm bò dậy, choáng váng tới mức không lao lên được nữa. Nó loạng choạng đi quanh, máu chảy ra từ mũi, từ miệng, từ tai, bộ lông đẹp đẽ lấm tấm vệt nước dãi đẫm máu. Rồi gã đàn ông bước tới, cố ý giáng một cú khủng khiếp vào mũi nó. Mọi đau đớn nó đã chịu chẳng là gì so với cơn đau tột cùng này. Với một tiếng gầm dữ dội gần như sư tử, nó lại lao vào gã. Nhưng gã đàn ông chuyển dùi cui từ tay phải sang tay trái, bình thản chộp lấy hàm dưới của nó, đồng thời giật mạnh xuống và ra sau. Bấc vẽ một vòng tròn trọn vẹn trên không, rồi thêm nửa vòng nữa, rồi rơi đánh rầm xuống đất bằng đầu và ngực.

Lần cuối cùng nó lao tới. Gã đàn ông giáng cú đánh hiểm hóc mà gã đã cố tình để dành suốt nãy giờ, và Bấc khuỵu xuống, đổ gục, hoàn toàn bất tỉnh.

— Phải nói là gã ấy dạy chó không phải tay vừa đâu, một gã ngồi trên tường hăng hái kêu lên.

— Tao thà đi thuần ngựa hoang còn hơn, ngày nào cũng được, chủ nhật thì hai lần, người đánh xe đáp, rồi leo lên xe ngựa, thúc ngựa đi.

Bấc tỉnh lại, nhưng sức lực thì chưa. Nó nằm nguyên chỗ ngã, và từ đó nó nhìn gã áo len đỏ.

— "Gọi tên Bấc thì nó thưa", gã lẩm bẩm một mình, đọc lại lá thư của tay chủ quán báo tin gửi cái thùng cùng thứ bên trong. Rồi gã nói tiếp, giọng hiền hậu: Này, Bấc, con trai, chúng ta đã có một trận xô xát nho nhỏ, và tốt nhất là cho nó qua đi. Mày đã biết thân phận của mày, và tao biết phận tao. Ngoan ngoãn thì mọi chuyện sẽ êm xuôi, sung sướng cả. Hư đốn thì tao sẽ đánh cho mày lòi ruột. Hiểu chưa?

Vừa nói, gã vừa không chút sợ hãi vỗ lên cái đầu mà gã vừa đánh không thương tiếc. Và dù lông Bấc bất giác dựng lên khi bàn tay ấy chạm vào, nó vẫn chịu đựng, không phản kháng. Khi gã mang nước tới, nó uống ừng ực, và lát sau nó ngấu nghiến một bữa thịt sống thịnh soạn, từng miếng một, từ tay gã.

Nó đã bị đánh bại, nó biết thế. Nhưng nó không bị khuất phục. Nó đã thấy, một lần cho mãi mãi, rằng nó không có cơ hội nào trước một con người cầm dùi cui. Nó đã học được bài học ấy, và suốt quãng đời sau này, nó không bao giờ quên. Cây dùi cui ấy là một sự khải thị. Đó là lần đầu tiên nó được dẫn vào vương quốc của luật lệ nguyên thuỷ, và nó đã bước ra nửa đường để đón lấy. Những sự thật của cuộc đời mang một bộ mặt dữ dằn hơn. Nó đối mặt với bộ mặt ấy mà không khiếp nhược, nhưng là đối mặt với tất cả sự tinh ranh tiềm ẩn trong bản tính nó đã được đánh thức. Ngày tháng trôi qua, những con chó khác tới, trong thùng hay ở đầu sợi dây, có con ngoan ngoãn, có con lồng lộn gầm thét như nó lúc mới tới. Và tất cả, không trừ con nào, nó đều thấy rơi vào vòng thống trị của gã áo len đỏ. Hết lần này tới lần khác, nhìn từng màn tàn bạo ấy, bài học lại đóng sâu vào đầu Bấc: con người cầm dùi cui là kẻ đặt ra luật, là chủ nhân phải vâng lời, dù không nhất thiết phải xu nịnh. Điều sau cùng này Bấc chưa bao giờ phạm phải, dù nó có thấy những con chó bị đánh rồi quay ra liếm láp, ve vẩy đuôi, liếm tay gã. Nó cũng thấy một con chó không chịu xu nịnh mà cũng không chịu vâng lời, cuối cùng đã bị giết trong cuộc tranh giành ngôi chủ.

Thỉnh thoảng lại có những người lạ tới, nói chuyện với gã áo len đỏ, lúc sôi nổi, lúc ngọt ngào, đủ mọi kiểu. Và những lúc ấy, tiền chuyển tay giữa họ, rồi những người lạ dẫn đi một hay vài con chó. Bấc tự hỏi chúng đi đâu, vì chúng chẳng bao giờ quay lại. Nỗi sợ tương lai đè nặng lên nó, và lần nào không bị chọn, nó cũng mừng.

Vậy mà rốt cuộc, tới lượt nó cũng tới, dưới hình dạng một người đàn ông nhỏ thó, quắt queo, nói tiếng Anh lơ lớ và văng ra lắm câu cảm thán lạ lùng, thô kệch mà Bấc không hiểu.

— Trời đất quỷ thần ơi! ông ta kêu lên khi mắt vừa chạm tới Bấc. Con chó cừ khôi thế này! Hử? Bao nhiêu?

— Ba trăm, mà thế là cho không đấy, gã áo len đỏ đáp ngay. Mà đằng nào cũng là tiền nhà nước, ông chẳng có gì phải kêu ca, phải không, Pê-rôn?

Pê-rôn nhe răng cười. Xét giá chó đã bị đẩy lên tận trời vì nhu cầu bất thường, thì với một con vật tuyệt vời như thế, đó không phải cái giá vô lý. Chính phủ Ca-na-đa sẽ chẳng thiệt, mà công văn của họ cũng chẳng vì thế mà đi chậm. Pê-rôn rành chó, và khi nhìn Bấc, ông biết đây là con chó nghìn con có một. "Mười nghìn con có một ấy chứ", ông thầm nhủ.

Bấc thấy tiền chuyển tay giữa hai người, và nó không ngạc nhiên khi nó cùng Cơ-li, một con chó Niu-phao-lân hiền lành, bị người đàn ông nhỏ thó dắt đi. Đó là lần cuối nó thấy gã áo len đỏ. Và khi nó cùng Cơ-li đứng trên boong tàu Nác-oan nhìn Xi-át-tơn lùi xa dần, đó cũng là lần cuối nó thấy miền Nam ấm áp. Pê-rôn dẫn nó và Cơ-li xuống dưới tàu, giao cho một gã khổng lồ mặt đen tên là Phrăng-xoa. Pê-rôn là người Ca-na-đa gốc Pháp, nước da ngăm ngăm. Còn Phrăng-xoa là người Ca-na-đa gốc Pháp lai thổ dân, đen gấp đôi. Với Bấc, họ là một loại người mới, mà số phận đã định nó sẽ còn gặp nhiều nữa. Và tuy nó không nảy sinh chút tình cảm nào với họ, nó vẫn dần thật lòng kính nể họ. Nó nhanh chóng nhận ra Pê-rôn và Phrăng-xoa là những người công bằng, bình tĩnh và vô tư khi phân xử, lại quá thạo tính nết loài chó nên chó không lừa được họ.

Ở khoang giữa tàu Nác-oan, Bấc và Cơ-li nhập bọn với hai con chó khác. Một con to lớn, trắng như tuyết, quê ở quần đảo Xpít-béc-gơn, được một thuyền trưởng tàu săn cá voi mang đi, sau đó theo một đoàn khảo sát địa chất vào vùng hoang mạc giá lạnh. Nó thân thiện, theo một kiểu phản trắc. Nó cười vào mặt người ta trong khi đang tính một trò đểu cáng, chẳng hạn như khi nó ăn cắp thức ăn của Bấc ngay bữa đầu tiên. Khi Bấc nhảy tới trừng phạt nó, ngọn roi của Phrăng-xoa đã vun vút trong không khí, tới chỗ kẻ phạm tội trước. Bấc chẳng còn việc gì ngoài lấy lại khúc xương. Phrăng-xoa thế là công bằng, nó nhận định, và người đàn ông lai bắt đầu được nó đánh giá cao.

Con chó kia không làm thân với ai, cũng chẳng ai làm thân với nó. Nó cũng không tìm cách ăn cắp của những con mới tới. Nó là một gã u ám, cau có, và nó cho Cơ-li thấy rõ rằng nó chỉ muốn được để yên, rằng nếu không được để yên thì sẽ có chuyện. Nó tên là Đêvơ. Nó ăn rồi ngủ, hoặc ngáp giữa những lúc ăn ngủ, chẳng quan tâm tới điều gì. Ngay cả khi tàu Nác-oan băng qua eo biển Nữ hoàng Sác-lốt, chòng chành, nhồi lắc, chồm lên như bị ma ám, nó cũng mặc kệ. Khi Bấc và Cơ-li hoảng hốt, sợ gần phát điên, nó ngẩng đầu lên như bực mình, ban cho chúng một cái nhìn thờ ơ, ngáp một cái, rồi ngủ tiếp.

Ngày đêm con tàu rung lên theo nhịp đập không mệt mỏi của chân vịt. Và dù ngày nào cũng giống ngày nào, Bấc vẫn nhận ra thời tiết mỗi lúc một lạnh hơn. Cuối cùng, một buổi sáng, chân vịt im bặt, và cả tàu Nác-oan tràn ngập một bầu không khí náo nức. Nó cảm thấy điều ấy, những con chó khác cũng thế, và biết sắp có thay đổi. Phrăng-xoa buộc dây chúng lại, dẫn lên boong. Ngay bước đầu tiên trên mặt boong lạnh giá, chân Bấc lún vào một thứ gì trắng, nhão, rất giống bùn. Nó khịt mũi nhảy lùi lại. Thứ màu trắng ấy còn đang rơi qua không trung. Nó lắc mình, nhưng lại có thêm thứ ấy rơi lên người. Nó tò mò đánh hơi, rồi liếm một ít lên lưỡi. Nó cắn như lửa, rồi một giây sau đã biến mất. Điều đó làm nó bối rối. Nó thử lần nữa, kết quả vẫn thế. Những người đứng xem cười phá lên, và nó thấy xấu hổ, mà không biết vì sao. Vì đó là lần đầu tiên nó thấy tuyết.

— Hết chương 1 —

Mục lục Tiếng gọi nơi hoang dã

  1. 1Về với hoang sơ23 phút
  2. 2Luật của dùi cui và răng nanhĐang thu âm
  3. 3Con thú nguyên thuỷ thức dậyĐang thu âm
  4. 4Trận quyết đấu dưới trăngĐang thu âm
  5. 5Kẻ đã giành ngôi chúa tểĐang thu âm
  6. 6Những người chủ mớiĐang thu âm
  7. 7Trên lớp băng mụcĐang thu âm
  8. 8Vì yêu một con ngườiĐang thu âm
  9. 9Thác dữ và nửa tấn bột mìĐang thu âm
  10. 10Người anh em của rừngĐang thu âm
  11. 11Bài ca của bầy sóiĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảJack London (1876 – 1916)
Năm mất1916
Xuất bản lần đầu1903
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Call of the Wild, Jack London, 1903
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →