Chương 1: Lời thẻ ở miếu Lão Quân
Thử hỏi rồng trắng vì cớ gì, phải mang thân cá nhỏ nhoi? Tuy được thong dong nơi sông rạch, mất thế mây mưa, há chẳng khốn vì người đánh cá. Muốn biết lòng thiêng hay biến hoá, phải để lòng trống chẳng chủ trương. Chẳng phải vui buồn mà chợt mê, Trang Chu từng hoá bướm, Tiết Vĩ cũng thành cá.
Chuyện kể vào năm Càn Nguyên đời Đường Túc Tông, có một vị quan họ Tiết tên Vĩ, người huyện Ngô, từng đỗ tiến sĩ cuối năm Thiên Bảo. Lúc đầu làm huyện uý huyện Phù Phong, khá nổi tiếng, sau làm chủ bạ huyện Thanh Thành đất Thục. Phu nhân họ Cố là dòng họ lớn bậc nhất đất Ngô, không những dung mạo đoan trang mà tính tình lại dịu dàng. Vợ chồng tương đắc, kính nhau như khách.
Ở nhậm sở được ba năm thì quan huyện thăng chức đi nơi khác. Quan trên biết ông thanh liêm có tài, liền giao cho ông tạm giữ ấn huyện. Huyện Thanh Thành vốn nằm giữa núi sâu hang thẳm, ruộng đất cằn cỗi, nhiều năm mất mùa, dân nghèo, trộm cướp nổi lên. Từ khi Tiết thiếu phủ giữ ấn, ông lập phép bảo giáp, hễ có trộm cướp thì cùng sức lùng bắt. Lại lập trường nghĩa học dạy dỗ nhân tài. Lại mở kho nghĩa thương cứu giúp người côi cút goá bụa. Mỗi mùa xuân ông tự đi khắp các làng, khuyên dân cày cấy gieo trồng, lại lựa lời khuyên bảo họ làm người an phận. Vì thế khắp nơi lúa má được mùa, trộm cướp đều hoá thành dân lành. Huyện được trị đến mức đêm không đóng cửa, đường không ai nhặt của rơi. Dân chúng đội ơn nhớ đức, đặt thành bài ca khen ông: Thu đến thì gặt, xuân đến thì làm cỏ. Quan chẳng thúc thuế, đêm chẳng đóng cửa. Trăm họ vui nghề, lập trường dạy chữ. Dạy nuôi đều trọn, là ơn ông Tiết. Từ nay trẻ nhỏ, nguyện lấy tên ông. Đặt tên là gì? Con Tiết cháu Tiết.
Tiết thiếu phủ không những thanh liêm nhân từ, thương dân như con, mà đối với đồng liêu cũng khiêm cung nhún mình, việc gì cũng hậu đãi. Huyện này có một huyện thừa, một chủ bạ, hai huyện uý. Huyện thừa họ Trâu tên Bàng, cũng xuất thân tiến sĩ, lại là bạn đồng khoa của Tiết thiếu phủ. Hai huyện uý, một người họ Lôi tên Tế, một người họ Bùi tên Khoan. Ba vị quan này làm quan cũng đều thanh chính, vì thế hợp tính nhau. Mỗi khi rảnh việc công, họ hoặc bàn thơ, hoặc đánh cờ, hoặc trước hoa dưới trúc mở chén uống chút rượu, qua lại với nhau rất là thân thiết.
Một hôm đúng tối mùng bảy tháng bảy, Tiết thiếu phủ ở trong nha cùng phu nhân bày tiệc khất xảo. Nguyên đêm Thất tịch, bất kể nhà lớn nhà nhỏ, đều bày ít rượu quả làm tiệc khất xảo xỏ kim. Vì sao gọi là khất xảo xỏ kim? Chỉ vì Thiên Đế có một người con gái gọi là sao Chức Nữ, ngày đêm chăm chỉ dệt vải. Thiên Đế yêu nàng siêng năng, gả cho sao Khiên Ngưu làm vợ. Ai ngờ Chức Nữ từ khi lấy Ngưu Lang thì mải vui quyến luyến, lại thích trang điểm, ngày nào cũng chỉ chải đầu, không đưa thoi dệt cửi nữa. Thiên Đế nổi giận, phạt Chức Nữ ở phía đông sông Ngân, Ngưu Lang ở phía tây sông Ngân, mỗi năm chỉ cho gặp nhau một lần, chính là ngày mùng bảy tháng bảy. Đến ngày ấy, sai chim khách bắc cầu qua sông Ngân cho nàng qua. Vì thế người đời đợi đúng lúc nàng qua sông, đều dưới trăng sao lấy chỉ màu xỏ vào lỗ kim. Xỏ qua được thì được khéo, không xỏ qua được thì không được khéo, lấy đó bói chuyện khéo vụng cả năm. Các vị thử nghĩ, Ngưu Lang Chức Nữ mỏi mắt mong cả năm mới được gặp nhau, lại chỉ được ba bốn canh giờ, vội vàng kể nỗi nhớ nhung còn sợ nói không hết, rảnh đâu mà xuống nhân gian ban khéo? Há chẳng phải lời hoang đường sao.
Lại nói tối ấy Tiết thiếu phủ ở giữa sân cùng phu nhân mời nhau uống rượu, bất giác ngồi đến khuya mới đi ngủ. Không ngờ nhiễm phải chút sương gió lạnh, rồi thành bệnh. Khắp người nóng như than lửa đốt, mồ hôi ra như mưa. Dần dần ba bữa không ăn được, tinh thần sút kém, miệng chỉ nói:
— Ta bây giờ một khắc cũng không chịu nổi nữa rồi, các người giữ ta ở đây làm khổ làm gì? Chi bằng thả ta đi đi.
Các vị thử nghĩ, người ốm nói ra những lời ấy rõ ràng không phải tin tốt. Phu nhân họ Cố sợ mất mật, chẳng lẽ ngồi nhìn ông chết sao? Đương nhiên phải mời thầy hỏi bói, cầu thần khấn nguyện.
Nguyên trong huyện có núi Thanh Thành, là động thiên thứ năm của đạo gia. Trên núi có một ngôi miếu thờ tượng Lão Quân, linh thiêng lắm. Thật là cầu nắng được nắng, cầu mưa được mưa, cầu trai được trai, cầu gái được gái, hương khói thịnh nhất. Vì thế phu nhân viết sớ, sai người tới miếu Lão Quân cầu đảo. Lại nghe nói thẻ thiêng nhất, một là xin thần phù hộ cho thiếu phủ thêm phúc tiêu tai, hai là xin một quẻ thẻ để hỏi lành dữ. Lúc ấy ba vị đồng liêu nghe tin, đều mặc áo trắng thắt đai sừng, đi bộ lên núi dâng hương, tình nguyện giảm bớt tuổi thọ của mình để cứu thiếu phủ. Đồng liêu vừa về thì các bô lão cả huyện lại dẫn dân chúng cùng tới lạy cầu. Đủ thấy ngày thường thiếu phủ làm quan tốt, được lòng người đến thế.
Chỉ là thẻ xin được là thẻ thứ ba mươi hai. Lời thẻ rằng: Trăm dòng suối trong đổ vào sông lớn, bên dòng chẳng biết mộng hồn mát. Cần gì phải đi tìm Long Môn? Tự có cá thần dài ba thước.
Người được sai chép lời thẻ về nha cho phu nhân xem. Phu nhân không giải được, nghĩ: "Nghe nói ngày thường người ta xin thẻ đều như thấy tận mắt, sao thẻ ta xin lại nói tới con cá, chẳng dính dáng gì tới bệnh của tướng công? Lành hay dữ thật khó hiểu."
Vì thế lòng bà như mười lăm mười sáu cái gàu múc nước, lên lên xuống xuống, càng thêm lo buồn. Bà lại nghĩ: "Lời thẻ đã không thấy ra sao, hãy đi tìm một thầy thuốc về chữa mới là việc chính."
Bà liền sai người đi dò hỏi, thì biết ở phủ Thành Đô có một đạo sĩ tên Lý Bát Bách. Ông tự xưng là đệ tử thứ nhất của Tôn chân nhân, được truyền tám trăm phương thuốc bí truyền của long cung, vì thế người ta gọi là Lý Bát Bách. Ai mời ông chữa, tay đến bệnh lui, thần hiệu lắm. Trên cửa ông dán một đôi câu đối: Thuốc theo Hàn Khang không hai giá, hạnh trồng Đổng Phụng có nghìn cây.
Có điều mời ông khó mà được ông tới. Nếu ông chịu tới thì người bệnh đã có chút sinh cơ. Tiền tạ ông đòi lại khác người: có khi chưa mở hòm thuốc đã đòi mấy trăm lạng, có khi chữa khỏi rồi không lấy một đồng, chỉ đòi uống một bữa say. Có khi nghe gọi là tới ngay, có khi mời chết cũng không đi. Thật khó mà đoán được ông. Đại để chỉ cần lòng thành là ông chịu tới.
Phu nhân biết có thầy thuốc ấy, liền sai người tin cẩn mang lễ vật đêm ngày đi gấp mời Lý Bát Bách. Vừa đúng lúc ông đang ở trong châu, mời một lần là tới ngay. Phu nhân trong lòng mới hơi yên. Ai ngờ ông vừa vào cửa, chưa bắt mạch đã nói:
— Bệnh này tuy trông như chết, lại là không chết. Mời ta tới làm gì?
Phu nhân kể hết căn nguyên phát bệnh cùng lời thẻ xin ở miếu Lão Quân cho thầy thuốc biết, xin ông cho thuốc. Lý Bát Bách chỉ cười nhạt:
— Bệnh này xưa nay không có trong sách thuốc. Ta cũng chẳng có thuốc gì. Chỉ là sau khi chết, thường xuyên lấy tay sờ ngực ông ấy. Một ngày ngực chưa lạnh thì một ngày không được nhập quan. Đợi quá nửa tháng hai mươi ngày, ông ấy thèm ăn thì tự nhiên dần dần tỉnh lại. Lời thẻ miếu Lão Quân tuy linh, nhưng phải qua rồi mới nghiệm, hôm nay chưa đoán được.
Rốt cuộc ông không chịu cho thuốc, cứ thế bỏ đi. Cũng chẳng biết bệnh thiếu phủ quả thật không cần uống thuốc, tự nhiên vô sự? Hay bệnh đã nặng, không cho thuốc được, nên ông thoái thác mà đi? Đúng là: rồng xanh cùng hổ trắng đi chung, lành dữ chẳng biết ra sao.
Phu nhân thấy Lý Bát Bách bỏ đi, thở dài:
— Thầy thuốc nổi tiếng như thế còn không chịu cho thuốc, chẳng lẽ còn ai khác dám cho thuốc? Ắt bệnh không cứu được, chỉ còn thoi thóp đợi chết thôi.
Sốt bảy ngày bảy đêm, càng ngày càng nặng. Bỗng một trận mê man, ông nhắm mắt lại, gọi thế nào cũng không tỉnh. Phu nhân vừa khóc vừa sai người báo cho ba vị đồng liêu biết, lo việc hậu sự. Các vị đồng liêu đang tới hỏi thăm, nghe tin dữ ấy ai cũng rơi lệ, vội tới nha khóc trước xác một hồi, rồi mới gặp phu nhân, lại an ủi một phen. Vì đang đầu thu, trời còn nóng, mọi người chia nhau đi sắm áo liệm quan quách.
Đến ngày thứ ba, mọi thứ đủ cả, theo lẽ phải khâm liệm nhập quan. Lúc ấy phu nhân ôm xác khóc thảm thiết, thấy ngực quả còn hơi ấm, vì thế tin lời đạo sĩ Lý Bát Bách, còn muốn để trên giường. Người nhà đều nói:
— Xưa nay người chết ngực còn ấm ba bốn ngày cũng là thường, chứ đâu phải chết là lạnh ngay. Điều đó đâu có làm bằng được. Nay đang tháng bảy, nóng nực chưa lui. Lỡ gặp một tiếng sấm thì xác trương lên ngay, còn nhập quan sao được?
Phu nhân nói:
— Đạo sĩ Lý vốn bảo ngực một ngày chưa lạnh thì một ngày không được nhập quan. Nay ngực còn ấm, dù có không tin ông ấy, đợi đến nửa tháng hai mươi ngày, sao nỡ trong ba ngày đã liệm khi người còn ấm? Huống chi quan tài đã sắm sẵn, để ta tự mình ngày đêm canh giữ, đợi ngực vừa lạnh là nhập quan cũng chưa muộn. Trời ơi! Chỉ mong lời đạo sĩ Lý linh nghiệm, canh được tướng công tỉnh lại, thì chẳng những cứu được một mạng tướng công, mà còn cứu luôn cả mạng ta nữa.
Mọi người khuyên đi khuyên lại, phu nhân rốt cuộc không nghe. Cãi không lại bà, đành theo ý bà, để thiếu phủ trên giường, cẩn thận canh giữ.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn