Truyện Đỉnh

📚 Tiểu thuyết theo chương

Hồi 4: Tiêu Sơn kết nghĩa

Tiêu Sơn tráng sĩ · Chương 4/49 · của Khái Hưng

⏱ 12 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 11.913 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Đã lâu nay cửa tam quan chùa Tiêu Sơn…
  2. 2:10hoành hành dễ dàng ở vùng Kinh Bắc, vì…
  3. 4:05chờ ở chân đồi. Hai người lớn tiếng chào…
  4. 5:30Bạch sư ông, cụ Phổ Mịch nhờ ơn Phật…
  5. 6:50Ngu đệ vẫn được nghe đại danh của quan…
  6. 8:09Ở chùa này cũng có thờ Quan Công đấy…
  7. 9:32Quang Ngọc bê xuống một bình rượu lớn và…
  8. 11:05cũng như Quang Ngọc. Đến lượt Lê Báo. Chàng…

Chương 4: Hồi 4: Tiêu Sơn kết nghĩa

Đã lâu nay cửa tam quan chùa Tiêu Sơn rào kín hẳn hàng ba, bốn lần tre, hóp

và chông.

Khách thập phương phải đi qua một con đường vòng chạy theo chu vi trái đồi,

rồi rẽ ngoặt ra phía bên. Ở đó có một cái cổng nhỏ hẹp nhưng xây rất kiên cố. Qua

lần cổng, một hàng bậc gạch cao và giốc đưa đến nhà trai. Như thế, đứng trên

ngọn đồi hay trong lầu Tiêu Lĩnh nhìn xuống có thể biết ai sắp đến chùa, nhất là

có một cái lạch nước rất sâu ngăn chận đồi ra với con đường vòng. Cái lạch ấy, sư

Phổ Tĩnh cho đào để lấy đất đắp bức tường dài bao bọc quanh đồi. Và cũng nhờ

việc to tát ấy mà nhà sư đã được dân làng nức nở ca tụng công đức. Họ cho nhà sư

đắp tường đào hào như thế không những chỉ có một mục đích giữ chùa, mà còn có

mục đích che chở cho dân quanh vùng trong khi nhiễu loạn, vì hạt ấy, họ sợ hãi

bọn Nguyễn Đoàn, Phạm Thái lắm, tuy chỉ sợ bóng sợ gió.

Ý chừng Phổ Tĩnh thiền sư cũng biết vậy, nên ngay ở cửa tam quan, có dán

một tờ yết thị nói cửa từ bi không hẹp, ai sợ quân cường đạo cướp bóc cứ vào chùa

nương náu ít ngày, nhà chùa sẵn sàng lòng dung nạp.

Kỳ thực chỉ có đồ đảng của Phổ Tĩnh là hay lui tới cửa chùa và tờ yết thị kia

không có mục đích gì khác là để che mắt quan quân. Chẳng thế có khi trong chùa

tụ họp đến hàng trăm người mà viên phân phủ Từ Sơn vẫn không lưu ý tới, cho

rằng đó toàn là những bọn quê mùa yếu hèn, nhút nhát đến ẩn núp. Không những

thế, viên phân phủ còn nhân tờ chiếu của vua Quang Trung bắt bỏ hết chùa nhỏ

trong các làng để dựng một ngôi chùa lớn ở mỗi phủ, mỗi huyện, mà đệ tờ bẩm lên

quan trấn thủ xin lấy chùa Tiêu Sơn làm chùa chính thức được trụ trì, ở chùa ấy.

Tuy việc tư xin bị đình bãi, vì từ khi vua Quang Trung thăng hà, vua Quang Toàn

và thái sư Bùi Đắc Tuyên không còn lưu tâm gì đến công việc cải cách thiền học

nữa, nhưng lòng tín nhiệm của quan quân hạt Kinh Bắc đối với Phổ Tĩnh thiền sư,

nhờ việc đó mà ngày một thêm vững chặt.

Lòng tín nhiệm hầu hoàn toàn ấy đã giúp đồ đảng bí mật của Quang Ngọc

hoành hành dễ dàng ở vùng Kinh Bắc, vì những viên kiện tướng của chàng đều là

các sư ông, sư bác mà tay quan trọng nhất là Phạm Thái tức sư ông Phổ Chiêu

chùa Liên Đài, làng Nghiêm Xá.

Chiều hôm trước nhân sư bác chùa Đình Bảng đến báo có một bà hoàng phi bị

bắt giải về giam ở phủ Từ Sơn, Quang Ngọc liền hốt hoảng chít vội cái khăn

vuông xuống tận mắt và khoác vội vào mình cái mền nâu cũ, cho người ta không

nhận được ra đi.

Nguyên chàng vẫn biết rằng từ khi thành Thăng Long mới vỡ, người em thứ

ba vua Lê là Lan quận công Duy Chí đem bà hoàng phi họ Nguyễn chạy lên

Tuyên Quang rồi chiêu dụ những người thổ hào cùng nhau lo toan việc hưng phục.

Nhưng Duy Chí mới chống chọi với quân Tây Sơn được vài tháng ở Bắc Lạc thì bị

bắt bỏ cũi giải về Phú Xuân đầu hàng cùng với hết thảy các tướng tá. Hoàng Phi

liền rời Tuyên quang trở về hạt Kinh Bắc ẩn núp ở trong các nhà bình dân. Quân

Tây Sơn thường đi lùng bắt mà không được, vì người Kinh Bắc vẫn còn mến tiếc

nhà Lê, không ai chịu tố cáo nơi hoàng phi trú ẩn.

Khi đã dò biết đích xác rằng hoàng phi bị bắt, Quang Ngọc vào hàng cơm nhà

Ngỗng ở phố phủ, định sai chủ quán, một đảng viên của đảng Tiêu Sơn, đưa ngay

tin đến Nghiêm xá cho Phạm Thái. Chẳng ngờ gặp giữa lúc Lê Báo đang uống

rượu và nói nhiều câu khảng khái. Chàng liền nán ngồi lại để xem ông khách trẻ

tuổi kia là người thế nào, nhất chàng lại như bị cái sức vóc vạm vỡ và nét mặt tươi

như hoa của kẻ kia lưu luyến.

Việc cần kíp thứ nhứt của Quang Ngọc khi đã đưa Lê Báo về tới chùa là viết

thư sai người tức tốc đến Kinh Bắc giao Nhị Nương đem về Nghiêm Xá cho Phạm

Thái. Chàng biết tất có binh mã đuổi theo con đường Từ Sơn - Kim Lũ, nên chàng

không cho người mang thư đi lối ấy. Chàng lại biết đàn bà, con gái ít khi bị ngờ

vực, khám xét, nên việc thông tin tức chàng thường giao cho bọn họ.

Vào khoảng cuối giờ Tỵ, Phạm Thái tới chùa Tiêu Sơn. Quang Ngọc đã đứng

chờ ở chân đồi. Hai người lớn tiếng chào nhau: "A di đà phật!"

— Lê Báo đâu?

Quang Ngọc cũng khe khẽ đáp lại:

— Trong chùa.

— Có việc gì quan hệ nữa không?

— Có, chốc nói chuyện.

Lên đến đầu bực thang gạch, nghe có tiếng mõ lớn thưa thớt rời rạc. Phạm

Thái mỉm cười, theo Quang Ngọc qua cái cửa nách bước vào chùa trên. Một nhà

sư đầu mới cạo nhẵn thín, khoác áo cà sa ngồi ở cái bục gỗ trước bàn thờ, miệng

lẩm nhẩm đọc kinh, tay uể oải gõ mõ. Hình như nhà sư chú hết tinh thần vào sự

tụng niệm, nên không biết có hai người vừa vào, tuy họ đã cất tiếng chào: " A di đà

phật! "

Thấy người kia không nhúc nhích, Quang Ngọc đưa mắt liếc Phạm Thái, mỉm

cười rồi lại gần bàn thờ gọi:

— Lê Báo?

Lê Báo vờ không nghe rõ, vẫn ngồi đọc kinh, mắt chăm chăm để vào quyển

sách chữ lớn mở đặt trên giá. Quang Ngọc cáu tiết, đến sau lưng ghé vào tai nói:

— Mới tu được một buổi mà đã mộ đạo thế ư?

Bấy giờ Lê Báo mới rời quyển kinh, ngước mắt nhìn lên, nhoẻn miệng cười:

— Không, đệ có đọc kinh đâu, đệ ngâm thơ đó chứ!

Cả ba người cùng cười ồ. Bỗng một chú tiểu ở ngoài đi vào để thắp hương.

Các nhà sư lại im bặt, nét mặt người nào người ấy đều có vẻ thành kính, nhu mì,

kín đáo. Phổ Tĩnh vờ hỏi Lê Báo:

— Sư cụ bên ấy vẫn được mạnh đấy chứ?

Lê Báo hấp tấp đáp lại:

— Thưa ngài....

Phổ Chiêu vẻ mặt nghiêm trang vội đỡ lời:

— Bạch sư ông, cụ Phổ Mịch nhờ ơn Phật tổ vẫn được mạnh như thường.

Phổ Tĩnh mỉm cười rồi quay ra bảo chú tiểu, ý chừng mới tu ở chùa này:

— Gọi chú Mộc!

Một lát sau, bước vào một người to lớn, gân cốt nở nang, cặp mắt tròn xoe, da

dẻ hồng hào.

Phổ Tĩnh hất hàm hỏi:

— Nó mới đến, chú đã biết tâm địa ra sao mà dám cho lên chùa trông nom việc

đèn nhang?

— Bạch sư ông, nó ở trong bọn thủ túc chân thành của đệ tử. Đệ tử xin cam

đoan chịu hết trách nhiệm.

Phổ Tĩnh hơi gắt:

— Đành vậy, nhưng cứ phòng bị trước thì vẫn hơn. Tiệc đã sửa soạn xong

chưa?

— Bạch sư ông đã.

— Có nhiều rượu ngon đấy chứ?

— Bạch sư ông đủ cả. Đệ tử đã cho xong đâu đấy ở trên lầu Tiêu Lĩnh.

— Được, ta không cần đến chú nữa.

Chú tiểu lễ phép cúi đầu chào, đi ra. Phổ Tĩnh đóng cửa cẩn thận mà nói rằng:

— Thôi, bây giờ chúng ta không còn lo sợ điều gì, cứ việc bình tĩnh mà đánh

chén, vì muốn lên Tiêu Lĩnh tất phải qua chùa, mà cửa chùa thì đóng khóa kiên cố

lắm.

Thấy Phạm Thái thì thầm nói chuyện với Lê Báo, Quang Ngọc quay lại hỏi hai

người:

— Chỗ quen biết cả đấy. Mà dù chưa quen biết thì rồi cũng phải quen biết. Anh

hùng trong thiên hạ phỏng được bao người, sao không cùng nhau làm việc đại

nghĩa.

Phạm Thái đáp:

— Ngu đệ vẫn được nghe đại danh của quan Thiêm thơ khu mật viện sự. Nay

được gặp ngài thực lấy làm hân hạnh.

Quang Ngọc thẳng thắn cười lớn:

— Ngài! Cái tiếng xưng hô ấy không được ổn bỏ nó đi.

Lê Báo cũng nói:

— Phải, chỗ anh em sao lại gọi thế?

Quang Ngọc bàn:

— Muốn chính kỳ danh, trước hết phải chính kỳ vị. Ngày xưa anh em Lưu,

Quan, Trương kết nghĩa tại vườn đào, rồi lập nên cơ nghiệp kinh thiên động địa.

Vậy ngày nay, sao chúng ta không theo gương ấy mà cũng kết nghĩa làm anh em?

Lê Báo vỗ tay, thét vang như tiếng lệnh:

— Ồ! Phải đấy! Hay! Hay! Ý đại huynh hay lắm!

Phạm Thái mỉm cười:

— Trong ba anh em mình chẳng biết có ai giống Lưu Huyền Đức, Quan Vân

Trường không, như giống Trương Dực Đức thì Lê hiền hữu thực là giống như đúc.

Vậy đệ xin làm em út chứ sao?

Quang Ngọc hỏi:

— Hiền hữu niên canh bao nhiêu?

— Mười chín tuổi.

— Thế thì hiền hữu là em út hẳn đi rồi, vì Phạm quân hơn hiền hữu một tuổi.

Phạm Thái khiêm tốn:

— Nhưng Lê hiền hữu giòng dõi tôn thất nhà Lê, ngu đệ xin nhường làm anh.

Phổ Tĩnh vội gạt:

— Không được, chỉ có một điều đáng kể: Ai hơn tuổi là anh.

— Hiền huynh đã dạy như thế, thì hai em hẳn phải vâng theo. Vậy bây giờ

chúng ta phải thề ra sao?

Lê Báo hỏi:

— Ở chùa này cũng có thờ Quan Công đấy chứ?

Quang Ngọc cười:

— Chùa nào lại chẳng thờ đức Thánh Quan.

— Thế thì hay lắm. Chúng ta cứ đến trước bàn thờ ông ấy mà thề.

— Phải đấy, phải đấy!

Ba người liền cùng nhau lại bàn thờ Quan Công. Lê Báo bảo hai bạn:

— Trông Quan Vân Trường lẫm liệt oai phong lắm nhỉ! Có lẽ vẻ lẫm liệt oai

phong ấy là nhờ ở bộ mặt đỏ, mà muốn có một bộ mặt đỏ tất phải uống nhiều

rượu. Vậy trước khi phát thệ, sao ta không đem rượu lên dâng ngài rồi cùng nhau

uống thực say đã?

Quang Ngọc cười:

— Vì say rượu hiền hữu suýt bị thiệt mạng ở tửu quán, thế mà vẫn không chừa?

Lê Báo lấy làm xấu hổ với Phạm Thái, nói chữa thẹn:

— Hiền huynh ngu đệ say à? Ngu đệ uống gấp năm, gấp mười thế cũng

chẳng thấm vào đâu. Chẳng qua giữa lúc bất ngờ bị chúng nó đẩy cái bàn vào

người, nên ngu đệ ngã đó mà thôi.

Phạm Thái vốn thích rượu mà uống bao nhiêu cũng không say, liền đỡ lời bạn:

— Lê hiền hữu nói rất đúng. Lễ phát thệ long trọng này không có rượu sao

được?

Dứt lời, Quang Ngọc đi thẳng lên lầu Tiêu Lĩnh. Ở lại trước bàn thờ Quan

Công, Phạm Thái sẽ bảo Lê Báo:

— Nghe nói tửu lượng hiền hữu khá lắm.

— Vâng, cũng khá. Hôm nay xin uống thi.

— Thi cái gì chứ thi uống rượu thì không bao giờ ngu đệ dám nhận lời.

— Sao vậy?

— Vì kẻ tu hành phải giới tửu.

— Thế thì buồn lắm nhỉ?

Quang Ngọc bê xuống một bình rượu lớn và hỏi hai người:

— Ngần này đã đủ chưa?

Lê Báo đáp:

— Cũng tiềm tiệm. Nhưng rượu có ngon không đấy? Chứ rượu của thằng cha

chủ quán, ngu đệ uống hôm qua không thể nuốt được.

Phạm Thái cười:

— Ấy là không thể nuốt được đấy, chứ nuốt được thì không biết hiền hữu say

tới đâu?

Quang Ngọc cũng cười:

— Hai chú không ngại. Rượu đây tôi thửa mãi tận ở Thủ Khôi chính hiệu hoàng

cúc. Nhưng ta làm lễ đã rồi hãy hay.

Quang Ngọc nói:

— Bây giờ mỗi người thề một câu. Tôi hơn tuổi được hai hiền đệ tôn làm anh

xin thề trước.

Chàng liền quỳ trước bàn thờ Quan Công và dõng dạc khấn rằng:

— Ngày xưa Quan thánh đế có kết nghĩa với Lưu Huyền Đức, Trương Dực Đức

tại vườn đào, thề cùng sống cùng chết để cùng nhau phò nhà Hán, cứu giúp muôn

dân. Ngày nay ở nước Việt Nam chúng tôi trăm họ loạn lạc, bị lầm than chẳng

kém đời Hậu Hán, hai anh em lũ giặc Tây Sơn đem quân đi ăn cướp phá đánh đuổi

vua chúng tôi phải chạy trốn sang bên quý quốc, giết cha chúng tôi, giết họ hàng

chúng tôi, vậy trước bàn thờ ba chúng tôi là Trần Quang Ngọc, hai mươi

nhăm tuổi, Phạm Thái hai mươi tuổi, Lê Báo mười chín tuổi, xin theo gương ngài

cùng họ Lưu, họ Trương, kết nghĩa anh em, trước là để phò nhà Lê, sau nữa là để

rửa thù cho cha chúng tôi. Tôi thề rằng tôi coi Phạm Thái, Lê Báo như hai anh em

ruột, cũng hai người sống chết có nhau. Nếu tôi ở không đúng lời thề xin chết như

thế nầy.

Dứt lời chàng bẻ hương ra làm hai đoạn mà vứt xuống đất. Phạm Thái thề

cũng như Quang Ngọc. Đến lượt Lê Báo. Chàng rót thêm vào chén rượu thờ, rồi tự

rót cho mình một chén đầy giốc một hơi cạn. Đoạn chàng bảo hai người:

— Hai hiền huynh thề như thế không được, nghe ngu đệ đây nè.

Tức thì chàng vào quì trước bàn thờ và lớn tiếng khấn:

— Tôi đây Lê Báo tuy mới mười chín tuổi đầu nhưng trong ba năm nay tôi đã đi

chu du khắp nước, vì vậy tôi biết dân tình rất khổ sở. Tôi nhớ sách Mạnh Tử có

câu: dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh. Thế mà họ coi nước như tư sản của

họ, không tưởng gì đến dân, đến xã tắc nữa. Vì vậy ba chúng tôi là Trần Quang

Ngọc, Phạm Thái, Lê Báo cùng nhau kết anh em để ra tay tôn phò một vị nhân quân

biết coi dân làm trọng. Tôi thề rằng (vừa nói vừa rót rượu vào chén) tôi xin giữ

trọn đạo làm em út dốc lòng tuân theo mệnh lệnh của đảng trưởng là ông anh cả

Trần Quang Ngọc của tôi, nếu tôi trái lời thề ấy thì nguồn ngày xanh của tôi cũng

cạn như chén rượu này.

Cùng với câu thề, chén rượu cùng hết. Quang Ngọc và Phạm Thái đưa mắt

nhìn nhau mỉm cười. Rồi Quang Ngọc rót ba chén rượu đầy mà nói rằng:

— Xin uống cạn chén rượu để chúc cho tình huynh đệ chúng ta ngày thêm bền

chặt với non sông Nam Việt.

Uống xong Phạm Thái khen:

— Rượu của hiền huynh ngon lắm.

Lê Báo nghĩ thầm: "Đã giới tửu mà còn biết rượu ngon?"

Quang Ngọc mời hai bạn lên lầu Tiêu Lĩnh dự tiệc. Lê Báo sợ bỏ quên mất

bình rượu, vội vàng bê theo.

— Hết chương 4 —

Mục lục Tiêu Sơn tráng sĩ

  1. 1Hồi 1: Người khách lạ14 phút
  2. 2Hồi 2: Bến Lo12 phút
  3. 3Hồi 3: Sư ông10 phút
  4. 4Hồi 4: Tiêu Sơn kết nghĩa12 phút
  5. 5Hồi 5: Trên lầu Tiêu Lĩnh19 phút
  6. 6Hồi 6: Quan quân11 phút
  7. 7Hồi 7: Bà hoàng phi họ Nguyễn9 phút
  8. 8Hồi 8: Cửa Bắc10 phút
  9. 9Hồi 9: Trong rừng Đình Bảng13 phút
  10. 10Hồi 10: Chín và sống12 phút
  11. 11Hồi 11: Cái võng thịt9 phút
  12. 12Hồi 12: Tờ phả khuyến13 phút
  13. 13Hồi 13: Quần sư tụ hội11 phút
  14. 14Hồi 14: Cái trống lớn10 phút
  15. 15Hồi 15: Ai lên xứ Lạng cùng anh9 phút
  16. 16Hồi 16: Sông nước6 phút
  17. 17Hồi 17: Một nhà ẩn sĩ11 phút
  18. 18Hồi 18: Sấm12 phút
  19. 19Hồi 19: Đả lôi đài9 phút
  20. 20Hồi 20: Vua Chiêu Thống12 phút
  21. 21Hồi 21: Thanh Xuyên hầu5 phút
  22. 22Hồi 22: Tâm sự7 phút
  23. 23Hồi 23: Cái cũi người7 phút
  24. 24Hồi 24: Nguyễn công tử8 phút
  25. 25Hồi 25: Tướng ấy là ai?8 phút
  26. 26Hồi 26: Mưu mô8 phút
  27. 27Hồi 27: Bại lộ3 phút
  28. 28Hồi 28: Đường hầm7 phút
  29. 29Hồi 29: Ma hiện hồn14 phút
  30. 30Hồi 30: Việc lớn7 phút
  31. 31Hồi 31: Chùa Non Nước9 phút
  32. 32Hồi 32: Bi ai7 phút
  33. 33Hồi 33: Kiến Xuyên hầu8 phút
  34. 34Hồi 34: Long Cơ7 phút
  35. 35Hồi 35: Thử tài8 phút
  36. 36Hồi 36: Rượu tiễn chưa tàn7 phút
  37. 37Hồi 37: Cảnh điêu tàn9 phút
  38. 38Hồi 38: Quán Bạch PhượngĐang thu âm
  39. 39Hồi 39: Cô hàng trầu nước10 phút
  40. 40Hồi 40: Chủ quán6 phút
  41. 41Hồi 41: Hành hìnhĐang thu âm
  42. 42Hồi 42: Thầy tướng sốĐang thu âm
  43. 43Hồi 43: Tìm bạn đồng chíĐang thu âm
  44. 44Hồi 44: Sơ kính tân trangĐang thu âm
  45. 45Hồi 45: Quyển phóngĐang thu âm
  46. 46Hồi 46: Kén rểĐang thu âm
  47. 47Hồi 47: Nói chuyện văn chươngĐang thu âm
  48. 48Hồi 48: Khóc Trương Quỳnh NhưĐang thu âm
  49. 49Hồi 49: Trên đường thiên lýĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảKhái Hưng (1896 – 1947)
Năm mất1947
Xuất bản lần đầu1937
Tình trạngHết thời hạn bảo hộ quyền tài sản tại Việt Nam từ 01/01/1998
Nguồn văn bảnBản đánh máy công khai (ebook downloadsachmienphi.com qua metaisach.com) đối chiếu từng chữ với truyenfull
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →