Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Tín hiệu

của Vsevolod Garshin

⏱ 17 phút🎙️ Giọng Bảo Thiện📖 17.340 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Xê-mi-ôn I-va-nốp làm người gác đường sắt. Từ chòi…
  2. 2:12Thế này nhé, anh cứ tạm ở lại ga…
  3. 4:38Người đàn bà im một lúc rồi đáp:
  4. 6:13Người hàng xóm không ngoảnh lại, cứ thế đi.…
  5. 8:25Tôi không nóng tính, tôi nói đúng sự thật…
  6. 9:55Chừng hai giờ sau, anh đi tuần. Anh thấy…
  7. 11:44Va-xi-li đứng dậy, sửa soạn đi.
  8. 14:05Va-xi-li không ngoảnh lại, đi vào rừng mất.

Xê-mi-ôn I-va-nốp làm người gác đường sắt. Từ chòi gác của anh tới ga bên này là mười hai dặm, tới ga bên kia là mười dặm. Cách chừng bốn dặm, năm ngoái người ta mới mở một xưởng kéo sợi lớn, ống khói cao của nó đen sì sau cánh rừng. Còn gần hơn thế thì ngoài mấy chòi gác bên cạnh, chẳng có nhà cửa gì.

Xê-mi-ôn I-va-nốp là người ốm yếu, sức đã kiệt. Chín năm trước anh đi lính, làm lính hầu cho một sĩ quan và theo ông ta suốt một chiến dịch. Anh đã từng đói, từng rét, từng phơi mình dưới nắng, từng hành quân bốn năm chục dặm một ngày giữa nóng bức lẫn giá buốt. Có khi anh phải đi dưới làn đạn, nhưng nhờ trời, chưa viên nào trúng. Có lần trung đoàn đóng ở tuyến đầu, suốt một tuần liền đấu súng với quân Thổ. Hàng lính mình nằm bên này, qua một cái khe trũng là hàng lính Thổ, từ sáng tới tối bắn nhau lẹt đẹt. Viên sĩ quan của Xê-mi-ôn cũng nằm trong hàng ấy. Ngày ba lần, Xê-mi-ôn từ bếp trung đoàn dưới khe núi mang lên cho ông ta ấm xa-mô-va nóng và bữa ăn. Anh xách ấm xa-mô-va đi qua chỗ trống trải, đạn rít, đạn đập lách cách vào đá. Xê-mi-ôn sợ, anh khóc, nhưng chân vẫn bước. Các quan rất hài lòng về anh, lúc nào họ cũng có trà nóng.

Anh đi trận về lành lặn, chỉ có chân tay bắt đầu đau nhức. Từ đó anh nếm biết bao nhiêu là khổ. Về tới nhà thì ông bố già đã mất, thằng con trai mới lên bốn cũng chết vì đau cổ họng. Chỉ còn hai vợ chồng. Ruộng nương làm ăn không xuôi, mà chân tay sưng tấy thì cày bừa sao nổi. Ở làng không sống được nữa, hai vợ chồng bỏ đi tìm vận may ở nơi khác. Họ đã qua miền biên tuyến, qua Khéc-xôn, qua miền sông Đông, đâu cũng chẳng gặp may. Vợ đi ở cho người ta, còn Xê-mi-ôn thì vẫn lang thang như cũ.

Có lần anh được đi tàu hoả. Tới một ga, anh thấy ông trưởng ga trông quen quen. Xê-mi-ôn nhìn ông, ông cũng nhìn kỹ mặt Xê-mi-ôn. Hai người nhận ra nhau: đó là một sĩ quan trong trung đoàn cũ của anh.

— Anh là I-va-nốp phải không? Ông hỏi.

— Bẩm quan, đúng là con ạ.

— Sao anh lại ở đây?

Xê-mi-ôn kể lại đầu đuôi.

— Thế giờ anh định đi đâu?

— Bẩm quan, con cũng không biết ạ.

— Đồ ngốc, sao lại không biết?

— Bẩm quan, vì con chẳng còn nơi nào mà đi. Con phải đi tìm việc gì đó mà làm ạ.

Ông trưởng ga nhìn anh, nghĩ ngợi một lúc rồi bảo:

— Thế này nhé, anh cứ tạm ở lại ga đã. Anh có vợ rồi phải không? Vợ anh đâu?

— Bẩm quan, con có vợ rồi. Vợ con ở thành phố Cuốc-xcơ, đang đi ở cho một nhà buôn ạ.

— Vậy thì viết thư bảo vợ lên đây. Tôi sẽ xin cho cái vé không mất tiền. Ở đây sắp có một chòi gác trống, tôi sẽ nói giúp anh với ông trưởng cung đường.

— Đội ơn quan lắm ạ, Xê-mi-ôn đáp.

Thế là anh ở lại ga. Anh giúp việc trong bếp nhà ông trưởng ga, bổ củi, quét sân, quét sân ga. Hai tuần sau vợ anh tới, và Xê-mi-ôn ngồi xe goòng đẩy tay về chòi gác của mình. Chòi mới, ấm áp, củi muốn bao nhiêu có bấy nhiêu. Những người gác trước còn để lại một mảnh vườn rau nhỏ, hai bên đường ray lại có chừng nửa mẫu đất cày được. Xê-mi-ôn mừng lắm. Anh bắt đầu tính chuyện gây dựng cơ nghiệp, mua một con bò, một con ngựa.

Người ta phát cho anh đủ đồ nghề: cờ xanh, cờ đỏ, đèn lồng, tù và, búa, cờ lê để vặn ốc, xà beng, xẻng, chổi, bu lông, đinh đường. Lại phát cho hai cuốn sổ nhỏ ghi điều lệ và bảng giờ tàu chạy. Những ngày đầu Xê-mi-ôn thức trắng đêm, cứ lẩm nhẩm học thuộc bảng giờ tàu. Tàu còn hai tiếng nữa mới tới, anh đã đi tuần hết đoạn đường của mình, rồi ngồi trên ghế cạnh chòi mà nhìn, mà lắng tai nghe xem đường ray có rung không, tàu có đang tới không. Anh học thuộc lòng cả điều lệ, dù đọc chữ còn kém, phải đánh vần từng tiếng, nhưng rồi anh cũng thuộc.

Bấy giờ là mùa hè. Việc chẳng nặng nhọc gì, không phải xúc tuyết, mà tuyến đường ấy tàu cũng thưa. Mỗi ngày đêm Xê-mi-ôn đi tuần hết dặm đường của mình hai lần, chỗ này thử vặn lại con ốc, chỗ kia san lại đá dăm, xem xét các ống thoát nước, rồi về nhà lo việc nhà. Việc nhà chỉ có mỗi một điều vướng: muốn làm gì cũng phải xin ông đốc công, ông đốc công lại trình lên ông trưởng cung đường, đến khi lời xin được trả về thì thời vụ đã qua mất rồi. Hai vợ chồng Xê-mi-ôn bắt đầu thấy buồn chán.

Chừng hai tháng trôi qua, Xê-mi-ôn bắt đầu làm quen với những người gác bên cạnh. Một người là ông lão già khọm, người ta định thay ông mãi, ông ra khỏi chòi đã khó, bà vợ phải đi tuần thay ông. Người gác kia, chòi ở gần ga hơn, là một người còn trẻ, gầy gò mà gân guốc. Lần đầu anh ta với Xê-mi-ôn gặp nhau trên đường ray, ở quãng giữa hai chòi, lúc đang đi tuần. Xê-mi-ôn bỏ mũ ra, cúi chào:

— Chúc bác hàng xóm mạnh khoẻ.

Người hàng xóm liếc nhìn anh.

— Chào, anh ta nói.

Rồi quay lưng bỏ đi. Sau đó đến lượt hai bà vợ gặp nhau. A-ri-na, vợ Xê-mi-ôn, chào người đàn bà bên cạnh, chị ta cũng chẳng nói chuyện nhiều, bỏ đi luôn. Có lần Xê-mi-ôn gặp chị ta.

— Này chị, anh nói, sao ông nhà chị kiệm lời thế?

Người đàn bà im một lúc rồi đáp:

— Thì anh ấy biết nói gì với anh? Ai cũng có chuyện của người nấy. Anh cứ đi đi.

Thế nhưng qua thêm chừng một tháng nữa, hai người cũng quen nhau. Xê-mi-ôn gặp Va-xi-li trên đường ray, hai người ngồi xuống mép đường, hút tẩu và kể cho nhau nghe chuyện đời mình. Va-xi-li phần nhiều ngồi im, còn Xê-mi-ôn thì kể chuyện làng, chuyện ra trận.

— Đời tôi, anh nói, đã nếm biết bao là khổ, mà tôi đã sống được bao nhiêu năm đâu. Trời chẳng cho tôi gặp may. Ông trời đã định cho ai số phận nào thì người ấy chịu số phận ấy. Thế đấy, anh Va-xi-li Xtê-pa-nứch ạ.

Va-xi-li Xtê-pa-nứch gõ cái tẩu vào thanh ray cho rơi tàn, đứng dậy nói:

— Không phải số phận ăn mòn đời anh với tôi đâu, mà là người ta. Trên đời này không có con thú nào dữ tợn và độc ác hơn con người. Sói không ăn thịt sói, mà người thì ăn tươi nuốt sống người.

— Thôi anh ơi, sói vẫn ăn thịt sói đấy, anh đừng nói thế.

— Nhân câu chuyện thì tôi nói vậy. Nhưng đằng nào thì cũng không có giống nào ác hơn. Giá không có cái ác, cái tham của con người thì còn sống được. Đứa nào cũng chực túm lấy chỗ thịt sống của anh, cắn một miếng, nuốt chửng đi.

Xê-mi-ôn ngẫm nghĩ.

— Tôi chẳng biết, anh ạ, anh nói. Có thể là như thế thật. Mà nếu có thế thật thì cũng là do trời định.

— Nếu đã vậy, Va-xi-li nói, thì anh với tôi chẳng còn gì mà nói với nhau nữa. Chuyện xấu xa gì cũng đổ cho trời, còn mình thì ngồi đấy mà chịu, thế thì không phải là người nữa, anh ạ, mà là con vật. Tôi nói với anh thế thôi.

Anh ta quay lưng bỏ đi, chẳng chào. Xê-mi-ôn cũng đứng dậy.

— Bác hàng xóm, anh gọi theo, sao bác lại gắt với tôi?

Người hàng xóm không ngoảnh lại, cứ thế đi. Xê-mi-ôn nhìn theo hồi lâu, tới khi Va-xi-li khuất ở chỗ đường hào rẽ ngoặt. Anh về nhà bảo vợ:

— A-ri-na này, nhà mình có ông hàng xóm, đúng là thuốc độc chứ chẳng phải người.

Tuy vậy hai người không giận nhau. Họ lại gặp nhau, lại nói chuyện như trước, và vẫn chỉ về một chuyện ấy.

— Này anh, Va-xi-li nói, giá không có người ta, thì anh với tôi đâu có phải ngồi trong mấy cái chòi này.

— Chòi thì sao, chòi vẫn sống được đấy chứ.

— Sống được, sống được! Anh thật là! Sống lắm mà chẳng gom được gì, nhìn lắm mà chẳng thấy được gì. Người nghèo thì ở chòi hay ở đâu cũng vậy, sống gì mà sống! Bọn lột da ấy nó ăn thịt anh. Vắt cho kiệt nhựa, rồi khi anh già thì vứt đi như cái bã cho lợn ăn. Anh lĩnh lương bao nhiêu?

— Cũng ít thôi, anh Va-xi-li Xtê-pa-nứch ạ. Mười hai rúp.

— Còn tôi mười ba rúp rưỡi. Cho tôi hỏi anh, tại sao? Theo điều lệ thì ban quản trị quy định cho mọi người như nhau: mười lăm rúp một tháng, có củi sưởi, có dầu thắp. Vậy ai định cho anh với tôi mười hai hay mười ba rúp rưỡi? Ba rúp hay một rúp rưỡi còn lại ấy, để bôi mỡ vào bụng đứa nào, chui vào túi đứa nào? Cho tôi hỏi anh nào! Thế mà anh bảo sống được! Anh hiểu cho, đây đâu phải chuyện một rúp rưỡi hay ba rúp. Giả sử họ có trả đủ mười lăm rúp đi nữa. Tháng trước tôi lên ga, ông giám đốc đi ngang qua, tôi được thấy mặt. Được vinh hạnh đấy. Ông ấy ngồi riêng một toa, bước ra sân ga, đứng đấy, sợi dây chuyền vàng vắt ngang bụng, hai má đỏ au như căng mọng. Uống no máu chúng ta rồi đấy. Chà, giá mà có sức, có quyền! Nhưng tôi sẽ chẳng ở đây lâu đâu, tôi sẽ đi, đi đâu thì đi.

— Anh đi đâu được, anh Xtê-pa-nứch? Đang tốt thì đừng đi tìm cái tốt hơn. Ở đây anh có nhà, có chỗ ấm, lại có chút đất. Vợ anh lại chịu làm…

— Đất! Giá anh được xem mảnh đất của tôi. Trên ấy chẳng có lấy một cái que. Mùa xuân tôi trồng ít bắp cải, thế mà ông đốc công cũng mò tới. Ông ấy bảo: “Cái gì đây? Sao không trình báo? Sao không xin phép? Nhổ đi, đừng để sót cây nào.” Ông ấy say rượu. Lần khác thì ông chẳng nói gì đâu, nhưng hôm ấy cứ nảy ra trong đầu thế. “Phạt ba rúp!”

Va-xi-li im một lúc, rít mấy hơi tẩu rồi nói khẽ:

— Chỉ chút nữa thôi là tôi đánh chết ông ta rồi.

— Ấy, anh hàng xóm, tôi bảo thật, anh nóng tính quá.

— Tôi không nóng tính, tôi nói đúng sự thật và tôi suy nghĩ cho phải lẽ. Rồi cái mặt đỏ ấy sẽ biết tay tôi! Tôi sẽ kiện lên tận ông trưởng cung đường. Rồi xem!

Và anh ta kiện thật.

Có lần ông trưởng cung đường đi xem xét tuyến đường. Ba ngày sau sẽ có mấy quan lớn ở Pê-téc-bua đi qua để thanh tra, nên trước khi họ tới, mọi thứ phải được sửa sang cho tề chỉnh. Người ta rải thêm đá ba-lát, san cho phẳng, xem lại tà vẹt, đóng lại đinh đường, vặn lại ốc, sơn lại cột mốc, ra lệnh rắc cát vàng ở các chỗ chắn tàu. Bà gác chòi bên cạnh lôi cả ông chồng già ra nhổ cỏ. Xê-mi-ôn làm suốt một tuần, đâu ra đấy cả, lại còn vá cái áo khoác của mình, chải cho sạch, lấy gạch đánh tấm phù hiệu bằng đồng cho tới sáng loáng. Va-xi-li cũng làm.

Ông trưởng cung đường tới trên chiếc goòng. Bốn người thợ quay tay quay, bánh răng rì rì, chiếc xe lao đi hai chục dặm một giờ, bánh xe rít lên. Xe vọt tới chòi của Xê-mi-ôn. Xê-mi-ôn chạy ra, báo cáo theo kiểu nhà binh. Mọi thứ đều đâu vào đấy.

— Anh ở đây lâu chưa? Ông trưởng hỏi.

— Bẩm quan, từ mùng hai tháng năm ạ.

— Được. Cảm ơn. Còn ở chòi số một trăm sáu mươi tư là ai?

Ông đốc công, ngồi cùng trên goòng, đáp:

— Va-xi-li Xpi-ri-đốp ạ.

— Xpi-ri-đốp, Xpi-ri-đốp… À, cái anh năm ngoái từng bị các ông ghi sổ đấy phải không?

— Bẩm, chính anh ta ạ.

— Thôi được, để xem anh Va-xi-li Xpi-ri-đốp này. Đi!

Thợ đè tay lên tay quay, chiếc goòng chạy đi. Xê-mi-ôn nhìn theo, nghĩ bụng: “Rồi sắp có chuyện giữa họ với anh hàng xóm đây.”

Chừng hai giờ sau, anh đi tuần. Anh thấy có người từ phía đường hào đi dọc đường ray lại, trên đầu như có cái gì trắng trắng. Xê-mi-ôn nhìn kỹ thì ra Va-xi-li. Tay chống gậy, vai đeo một cái tay nải nhỏ, má buộc khăn.

— Anh hàng xóm, đi đâu thế? Xê-mi-ôn gọi.

Va-xi-li tới thật gần. Mặt anh ta cắt không còn hột máu, trắng như vôi, mắt dại đi. Vừa mở miệng, giọng đã đứt quãng:

— Lên thành phố, anh ta nói, lên Mát-xcơ-va… lên ban quản trị.

— Lên ban quản trị… Ra thế! Vậy là anh đi kiện à? Thôi bỏ đi, anh Va-xi-li Xtê-pa-nứch, quên đi…

— Không, anh ạ, tôi không quên đâu. Muộn rồi, quên sao được. Anh xem đây, nó đánh vào mặt tôi, đánh tới toé máu. Còn sống ngày nào tôi không quên ngày ấy, tôi không để yên thế đâu. Phải dạy cho chúng nó biết, lũ hút máu ấy…

Xê-mi-ôn nắm lấy tay anh ta:

— Thôi đi anh Xtê-pa-nứch, tôi nói thật lòng, anh chẳng làm cho khá hơn được đâu.

— Khá hơn cái gì! Tôi biết tôi chẳng làm cho khá hơn. Anh nói đúng về cái số phận đấy. Cho mình thì chẳng khá hơn, nhưng mà phải đứng ra bênh lẽ phải, anh ạ.

— Thế anh kể đi, chuyện bắt đầu từ đâu?

— Bắt đầu từ đâu à… Ông ấy xem xét mọi thứ, bước xuống goòng, ngó vào chòi. Tôi biết trước là ông ấy sẽ hỏi gắt, nên tôi đã sửa sang mọi thứ đâu ra đấy. Ông ấy sắp đi thì tôi trình đơn kiện. Ông ấy quát ngay. Ông bảo: “Đây là cuộc thanh tra của chính phủ, đồ thế này thế nọ, mày lại đi kêu ca chuyện vườn rau! Đây là các ông cố vấn cơ mật, mày lại lò dò với cái bắp cải!” Tôi không nhịn được, nói lại một câu, cũng chẳng phải nặng lời gì lắm, nhưng ông ấy thấy bị xúc phạm. Ông ấy giáng cho tôi một cái… Cái sự nhẫn nhịn khốn kiếp của chúng mình! Lúc ấy lẽ ra phải… thế mà tôi cứ đứng trơ ra, như thể chuyện đó là đương nhiên. Họ đi rồi, tôi mới hoàn hồn, rửa mặt rồi đi luôn.

— Thế còn cái chòi?

— Vợ tôi ở lại. Cô ấy không lơ là đâu. Mà kệ chúng nó với cái đường sắt của chúng nó!

Va-xi-li đứng dậy, sửa soạn đi.

— Chào anh, I-va-nứch. Tôi chẳng biết có tìm được ai xử cho mình không.

— Chẳng lẽ anh đi bộ?

— Ra ga tôi sẽ xin đi nhờ tàu hàng. Mai là tới Mát-xcơ-va.

Hai người hàng xóm chào nhau. Va-xi-li đi, rồi biệt tăm một thời gian dài. Vợ anh làm thay anh, đêm ngày không ngủ, mỏi mòn chờ chồng. Đến ngày thứ ba thì đoàn thanh tra đi qua: một đầu máy, một toa hành lý và hai toa hạng nhất. Va-xi-li vẫn chưa về. Ngày thứ tư Xê-mi-ôn gặp vợ anh ta, mặt sưng lên vì khóc, mắt đỏ hoe.

— Anh ấy về chưa? Xê-mi-ôn hỏi.

Chị ta chỉ khoát tay, không nói gì, đi về phía chòi mình.

Hồi còn bé, Xê-mi-ôn học được cách làm sáo bằng cành liễu. Anh đốt rỗng ruột que liễu, khoan lỗ ở những chỗ cần khoan, làm cái lưỡi gà ở đầu, rồi chỉnh cho thật khéo, muốn thổi bài gì cũng được. Lúc rảnh anh làm được khối sáo, gửi một người trưởng tàu hàng quen mang ra chợ thành phố bán, người ta trả mỗi cái hai cô-pếch.

Ngày thứ ba sau cuộc thanh tra, anh để vợ ở nhà đón chuyến tàu sáu giờ chiều, còn mình cầm dao vào rừng chặt que. Anh đi tới cuối đoạn đường của mình, ở chỗ ấy đường ray rẽ ngoặt gắt, rồi xuống khỏi nền đường, đi qua rừng xuống dốc. Cách đấy nửa dặm có một cái đầm lầy lớn, quanh đầm mọc những bụi liễu tuyệt nhất để làm sáo. Anh chặt được cả một bó que rồi đi về. Anh đi xuyên rừng. Mặt trời đã xuống thấp. Rừng im phăng phắc, chỉ nghe tiếng chim ríu rít và tiếng cành khô gãy răng rắc dưới chân.

Đi thêm một quãng nữa, sắp tới đường ray, thì anh bỗng nghe như có tiếng gì khác nữa: như có tiếng sắt chạm vào sắt leng keng ở đâu đây. Xê-mi-ôn rảo bước. Lúc ấy trên đoạn đường của anh đâu có sửa chữa gì. “Thế là thế nào nhỉ?” anh nghĩ.

Anh ra tới bìa rừng. Trước mặt anh, nền đường sắt nhô cao. Trên đó, ngay trên đường ray, có một người ngồi xổm đang làm gì đó. Xê-mi-ôn khẽ khàng leo lên phía người ấy, anh nghĩ chắc có kẻ tới ăn trộm ốc. Anh nhìn thì người kia cũng vừa đứng dậy, trong tay cầm một cái xà beng. Người ấy luồn xà beng dưới thanh ray, rồi bẩy mạnh sang một bên.

Mắt Xê-mi-ôn tối sầm lại. Anh muốn hét lên mà không hét được. Anh nhận ra Va-xi-li, liền cắm cổ chạy tới, còn Va-xi-li thì ôm xà beng với cờ lê lăn lông lốc xuống phía bên kia nền đường.

— Anh Va-xi-li Xtê-pa-nứch! Anh ơi, anh quay lại đi! Đưa tôi cái xà beng! Mình đặt lại thanh ray, chẳng ai biết đâu. Quay lại đi anh, cứu lấy linh hồn anh khỏi tội lỗi.

Va-xi-li không ngoảnh lại, đi vào rừng mất.

Xê-mi-ôn đứng bên thanh ray bị bẩy lệch, bó que rơi khỏi tay. Chuyến tàu sắp tới không phải tàu hàng, mà là tàu khách. Mà chẳng có cách gì chặn nó lại: anh không có cờ. Một mình anh không đặt lại được thanh ray, tay không thì cũng chẳng đóng được đinh. Phải chạy, nhất định phải chạy về chòi lấy đồ nghề. Lạy Chúa, xin Chúa giúp con!

Xê-mi-ôn chạy về phía chòi, thở hổn hển. Anh chạy, chỉ chực ngã. Anh ra khỏi rừng, tới chòi chỉ còn chừng trăm sải, thì nghe tiếng còi xưởng kéo sợi rúc lên. Sáu giờ. Mà sáu giờ hai phút là tàu tới. Lạy Chúa! Xin cứu lấy những linh hồn vô tội!

Xê-mi-ôn như thấy rõ trước mắt: bánh trái đầu máy va vào chỗ đầu ray bị bẩy, chiếc tàu rùng mình, nghiêng đi, rồi xé tung tà vẹt mà đập tan nát. Mà chỗ ấy lại là khúc cua, lại là nền đường cao, lao xuống là mười một sải. Trong toa hạng ba thì người chật như nêm, có cả trẻ nhỏ. Giờ đây họ đang ngồi cả trong ấy, chẳng nghĩ ngợi gì. Lạy Chúa, xin soi sáng cho con! Không, chạy về tới chòi rồi quay lại thì không kịp nữa…

Chưa tới chòi, Xê-mi-ôn quay lại, chạy còn nhanh hơn lúc trước. Anh chạy gần như mê đi, chẳng biết rồi sẽ ra sao. Anh chạy tới chỗ thanh ray bị bẩy, bó que của anh vẫn nằm đó thành đống. Anh cúi xuống, chộp lấy một cái, chính anh cũng không hiểu để làm gì, rồi chạy tiếp. Anh nghe như tàu đã đến. Anh nghe tiếng còi xa xa, nghe đường ray bắt đầu khe khẽ rung lên đều đều. Không còn sức chạy nữa. Anh dừng lại, cách chỗ khủng khiếp ấy chừng trăm sải. Và đúng lúc ấy, như có một luồng sáng rọi vào đầu anh.

Anh bỏ mũ, lấy trong mũ ra chiếc khăn vải bông. Anh rút con dao giắt trong ống ủng, làm dấu thánh. Lạy Chúa, xin ban phước!

Anh đâm dao vào cánh tay trái, phía trên khuỷu. Máu phun ra, chảy thành dòng nóng hổi. Anh nhúng khăn vào máu cho ướt đẫm, giũ ra, căng ra, buộc vào đầu que, và giương lên lá cờ đỏ của mình.

Anh đứng đó, vẫy lá cờ. Đoàn tàu đã hiện ra. Người lái tàu không thấy anh, tàu sẽ tới gần, mà chỉ còn trăm sải thì không hãm kịp một đoàn tàu nặng!

Máu cứ chảy, chảy mãi. Anh ép vết thương vào sườn, cố bịt lại, nhưng máu không cầm. Hẳn là anh đâm sâu quá. Đầu anh quay cuồng, trước mắt anh như có bầy ruồi đen bay lượn. Rồi tối sầm hẳn. Tai anh ù đi như có tiếng chuông. Anh không thấy đoàn tàu, không nghe tiếng ầm ầm nữa. Trong đầu anh chỉ còn một ý nghĩ: “Mình sẽ không đứng vững, mình sẽ ngã, sẽ đánh rơi lá cờ. Tàu sẽ cán qua người mình… Lạy Chúa, xin giúp con, xin cho người tới thay con…”

Rồi mắt anh tối đen, lòng anh trống rỗng, và anh buông rơi lá cờ. Nhưng lá cờ máu không rơi xuống đất. Một bàn tay nào đó đỡ lấy nó, giơ cao lên, đón đầu đoàn tàu đang tới. Người lái tàu trông thấy, đóng van hơi, cho đầu máy chạy lùi. Đoàn tàu dừng lại.

Người ta từ các toa nhảy xuống, xúm lại thành đám đông. Họ thấy một người nằm đó, máu me đầm đìa, bất tỉnh. Bên cạnh có một người khác đứng, tay cầm cái que buộc mảnh vải đẫm máu.

Va-xi-li đưa mắt nhìn mọi người một lượt, rồi cúi đầu:

— Các ông trói tôi lại, anh ta nói. Tôi đã bẩy thanh ray.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảVsevolod Garshin (1855 – 1888)
Năm mất1888
Xuất bản lần đầu1887
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Сигнал, 1887
Giọng đọcBảo Thiện — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →