Từ khi trời đất mới mở, đạo trời thành con trai, đạo đất thành con gái. Tạo hoá tuy không thiên vị, nhưng âm dương cũng chia ngôi. Dương động âm tĩnh, dương ở ngoài âm ở trong. Cho nên con trai lo việc bốn phương, con gái lo việc trong nhà. Người lo việc bốn phương đội mũ thắt đai, gọi là trượng phu, ra làm tướng vào làm tể tướng, việc gì cũng làm, phải học rộng biết xưa nay, hiểu quyền biến. Người lo việc trong nhà thì chải đầu mặc váy, việc trong ngày chẳng qua cơm nước giếng cối, việc cả đời chẳng qua sinh con đẻ cái. Vì thế con gái nhà quyền quý tuy có đọc sách biết chữ, cũng chỉ cần biết dăm cái tên, ghi dăm khoản sổ sách. Họ không đi thi, không cầu danh tiếng, việc thơ văn chẳng dính dáng gì.
Tuy vậy, tư chất mỗi người mỗi khác. Có cô gái ngu, dạy biết hai chữ mà khó như lên trời. Có cô gái thông minh, nhìn qua là thuộc, không dạy cũng biết, làm thơ tranh hơn với Lý Bạch, Đỗ Phủ, làm phú tranh tài với Ban Cố, Tư Mã Tương Như. Ấy là khí thiêng núi sông tình cờ không đúc vào con trai mà đúc vào con gái. Như Ban Chiêu là em gái Ban Cố, viết nối bộ sử nhà Hán thay anh. Lại có Thái Diễm làm khúc Hồ già mười tám phách truyền đến đời sau. Đời Tấn có Tạ Đạo Uẩn cùng các anh vịnh tuyết, có câu ví tuyết như bông liễu bay theo gió, các anh đều không bằng. Đời Đường có Thượng Quan Uyển Nhi, vua Trung Tông sai bà chấm thơ của các quan, khen chê đâu ra đấy.
Đến đời Tống ta, đàn bà xuất sắc càng nhiều, trong đó nổi nhất là Lý Dịch An và Chu Thục Chân. Hai người đều là bậc đứng đầu văn chương trong chốn khuê phòng. Nói đến chuyện kén chồng xứng vợ, đáng ra phải gặp được tài tử thông minh. Khổ nỗi ông Tơ bà Nguyệt ghi lầm sổ nhân duyên, cả hai đều lấy phải người không tài không học, nên nỗi oán hận thường hiện ra trong thơ. Như bài Thanh thanh mạn thương thu của Lý Dịch An, mở đầu bằng những tiếng tìm tìm kiếm kiếm, lạnh lạnh lẽo lẽo, thê thê thảm thảm, kết lại bằng câu hỏi một chữ sầu sao nói cho hết. Còn Chu Thục Chân một đêm thu chồng đi vắng, ngồi một mình dưới đèn nghe mưa ngoài song, làm bài thơ than khóc mỏi mắt đứt ruột, sợ hoàng hôn đến, một ngọn đèn tàn bầu bạn đêm dài. Về sau thơ bà khắc thành tập, đặt tên là Đoạn trường tập, tức tập thơ đứt ruột.
Người kể chuyện vì sao chỉ kể hai người lấy chồng không xứng ấy? Chỉ vì nay muốn kể chuyện một cô gái thông minh lấy được người chồng thông minh, một xướng một hoạ, sinh ra bao nhiêu chuyện hay, để văn nhân nghe thêm hứng, khuê phòng có thêm chuyện đẹp.
Ở Mi Châu, đất Tứ Xuyên, xưa gọi là quận Thục, lại gọi là Mi Sơn. Núi có Mô Di, Nga Mi, sông có Mân Giang, Hoàn Hồ, khí thiêng núi sông đúc vào người. Nơi ấy sinh ra một bậc danh nho học rộng, họ Tô, tên Tuân, tự là Minh Doãn, hiệu là Lão Tuyền, người đương thời gọi là ông Tô già. Ông Tô già sinh hai con trai, gọi là Tô lớn và Tô nhỏ. Tô lớn tên Thức, tự Tử Chiêm, hiệu Đông Pha. Tô nhỏ tên Triệt, tự Tử Do, hiệu Dĩnh Tân. Hai con đều có tài văn võ, học rộng biết xưa nay, cùng đỗ một khoa, tiếng tăm vang triều đình, đều làm Hàn lâm học sĩ. Thiên hạ gọi hai anh em là Nhị Tô, gọi cả cha con là Tam Tô.
Lại còn một điều lạ nữa: khí thiêng núi sông lại dồn cả vào một nhà. Hai người con trai chưa phải hiếm, ông lại sinh thêm một cô con gái, tên là Tiểu Muội, thông minh tuyệt thế không ai bằng, nghe một biết hai, hỏi mười đáp mười. Vì cha và anh đều là đại tài tử, sớm tối bàn luận toàn kinh sử, mắt thấy tai nghe chẳng ít thơ từ ca phú. Xưa nay vẫn nói gần son thì đỏ, gần mực thì đen, huống chi Tiểu Muội tư chất hơn người gấp mười, việc gì mà chẳng hiểu!
Năm mười tuổi, nàng theo cha anh ở nhà trọ nơi kinh thành. Trong sân có một cây hoa tú cầu, đang tiết xuân, hoa nở rộ. Lão Tuyền ngắm một hồi, lấy giấy bút đề thơ. Mới viết được bốn câu thì có người báo khách đến, Lão Tuyền gác bút đứng dậy. Tiểu Muội thong thả đi vào thư phòng của cha, thấy trên bàn có bốn câu thơ, đại ý: trời khéo tạc nên một gò ngọc lung linh, rực rỡ trước mắt mà vẫn thanh u; mây trắng như từ trong cành bay ra, trăng sáng như dừng lại ở chỗ này.
Tiểu Muội đọc xong, biết là thơ vịnh hoa tú cầu, nhận ra nét chữ của cha, chẳng cần nghĩ ngợi, viết nối luôn bốn câu: từng cánh tách ra như cánh bướm, từng chùm tròn lại như quả cầu pha lê; nếu mượn được gió thơm đưa hương, thì đâu cần ghen với hoa mai đầu núi. Viết xong nàng để thơ trên bàn như cũ, thong thả về phòng.
Lão Tuyền tiễn khách ra cửa, quay lại thư phòng, đang định viết nối cho xong bài thì thấy bài thơ đã đủ, đọc lên lời ý đều hay. Ngờ là bút của con gái, gọi đến hỏi, quả đúng là nàng viết. Lão Tuyền than:
— Tiếc thay là con gái! Nếu là con trai, chẳng phải lại thêm một người nổi danh trong khoa thi đặc biệt sao!
Từ đó ông càng quý con gái, để mặc nàng đọc sách học rộng, không bắt làm kim chỉ nữa. Thấm thoắt nàng đã mười sáu tuổi. Ông quyết chí kén trong thiên hạ một tài tử xứng đôi, nhưng gấp gáp thì khó tìm.
Một hôm, tể tướng Vương Kinh công sai người hầu mời Lão Tuyền đến phủ chuyện trò. Vương Kinh công tên An Thạch, tự Giới Phủ. Lúc chưa đỗ đạt đã có tiếng hiền, nhưng ngày thường hay không rửa mặt, không thay áo, trên người đầy chấy rận. Lão Tuyền ghét ông không gần tình người, sau này ắt thành gian thần, từng viết bài Biện gian luận để chê. Kinh công để bụng giận. Về sau thấy hai anh em Tô lớn Tô nhỏ liền đỗ khoa đặc biệt, ông bèn bỏ oán làm lành. Lão Tuyền cũng vì Kinh công làm tể tướng, sợ cản đường tiến thân của hai con, nên không khỏi gượng lòng kết giao. Thật đúng là người xưa kết bạn vì ý khí, người nay kết bạn vì thế lợi.
Hôm ấy Lão Tuyền đến phủ theo lời mời, chẳng qua bàn chuyện xưa nay, luận việc thời sự một hồi, rồi lấy rượu ra cùng uống, bất giác say mèm. Kinh công tình cờ khoe:
— Con trai tôi là Vương Bàng đọc sách chỉ một lượt là thuộc lòng.
Lão Tuyền đang say, đáp:
— Con nhà ai mà phải đọc đến hai lượt!
Kinh công nói:
— Lão phu lỡ lời, chẳng nên múa rìu qua mắt thợ.
Lão Tuyền nói:
— Chẳng những con trai tôi chỉ đọc một lượt, đến con gái tôi cũng chỉ một lượt.
Kinh công giật mình:
— Chỉ biết lệnh lang tài cao, không biết còn có lệnh ái. Khí thiêng Mi Sơn đều về nhà ông cả rồi!
Lão Tuyền hối vì đã lỡ lời, vội cáo về. Kinh công sai tiểu đồng lấy ra một quyển văn, đưa cho Lão Tuyền nói:
— Đây là bài tập của con trai tôi, phiền ông chấm giúp.
Lão Tuyền cất vào tay áo, vâng dạ ra về. Về nhà ngủ đến nửa đêm tỉnh rượu, nhớ lại chuyện ban ngày: "Không nên khoe tài con gái. Nay Giới Phủ đưa bài văn của con trai nhờ ta chấm, ắt là vì chuyện hỏi vợ. Mối này ta không muốn, nhưng lại không có cách gì từ chối."
Trầm ngâm đến sáng, rửa mặt chải đầu xong, ông đem bài văn của Vương Bàng ra xem lần lượt, thật là bài nào cũng như gấm, chữ nào cũng như ngọc, bất giác lại động lòng mến tài. "Nhưng không biết duyên phận con gái thế nào? Ta đưa quyển văn này cho con xem, xem nó có thích hay không."
Ông bèn giấu tên, dặn a hoàn:
— Quyển văn này là của một danh sĩ trẻ đưa đến nhờ ta chấm. Ta không rảnh, đưa sang tiểu thư, bảo tiểu thư chấm xong thì mau trả lời.
A hoàn dâng văn lên tiểu thư, chuyển lời ông dặn. Tiểu Muội nhỏ nước mài son, từ đầu phê điểm, chốc lát đã xong, than:
— Văn hay! Ắt là tài tử sáng dạ viết ra. Nhưng khí thiêng đã tiết ra hết, hoa mà không quả, e không phải người sống lâu.
Rồi phê lên bìa quyển: "Mới lạ đẹp đẽ là chỗ hay, kín đáo ung dung là chỗ kém. Đỗ khoa cao thì thừa sức, hưởng tuổi thọ thì không đủ."
Về sau Vương Bàng mười chín tuổi đỗ đầu khoa thi, chẳng bao lâu thì chết trẻ. Đủ thấy Tiểu Muội biết người tinh tường. Đó là chuyện về sau.
Lại nói Tiểu Muội viết xong lời phê, bảo a hoàn đem quyển văn trả cha. Lão Tuyền vừa thấy đã kinh hãi:
— Lời phê này sao trả lời Giới Phủ được! Ắt ông ấy trách.
Quyển văn nhất thời đã bị làm bẩn bìa, chẳng biết làm sao. Vừa hay người hầu phủ tướng đến cửa:
— Vâng lệnh tướng công, đến lấy quyển văn hôm qua, gặp mặt ông, còn có lời thưa.
Lão Tuyền lúc ấy cuống cả tay chân, đành cắt bỏ bìa quyển, thay bìa mới, phê lời tốt vào, tự tay giao cho người hầu. Người hầu nói:
— Tướng công còn dặn hỏi một lời: quý tiểu thư đã hứa hôn với ai chưa? Nếu chưa, phủ tướng muốn kết thông gia.
Lão Tuyền nói:
— Phủ tướng hỏi cưới, lão phu đâu dám không theo. Chỉ là con gái tôi xấu xí, sợ không xứng chỗ lầu vàng. Phiền ông khéo nói lại, cứ dò hỏi sẽ biết, chẳng phải lão phu thoái thác.
Người hầu vâng lệnh về thưa Kinh công. Kinh công thấy bìa quyển đã thay, đã có ba phần không vui. Lại sợ Tô tiểu thư quả thật dung mạo không đẹp, không vừa ý con trai, bèn lén sai người dò hỏi.
Thì ra học sĩ Tô Đông Pha thường cùng Tiểu Muội trêu chọc nhau. Đông Pha râu xồm cả mặt, Tiểu Muội chế rằng: tìm mãi mấy lần không thấy cái miệng đâu, bỗng nghe trong đám lông có tiếng vọng ra. Tiểu Muội trán dô, Đông Pha chế lại: người chưa ra khỏi sân được ba năm bước, cái trán đã đến trước nhà rồi. Tiểu Muội lại chế cái cằm dài của Đông Pha: giọt nước mắt tương tư từ năm ngoái, đến nay vẫn chưa chảy tới má. Đông Pha thấy mắt Tiểu Muội hơi sâu, lại đáp: lau mặt mấy lần chẳng chạm tới đáy, để lại hai dòng suối long lanh.
Người dò hỏi nghe được mấy câu ấy, về thưa Kinh công:
— Tô tiểu thư tài thật là cao tuyệt, còn dung mạo thì cũng chỉ thường thôi.
Kinh công bèn gác chuyện hỏi vợ lại.
Tuy vậy, vì chuyện phủ tướng hỏi cưới, tiếng tài của Tiểu Muội đồn khắp kinh thành. Về sau nghe chuyện với phủ tướng không thành, người mến danh đến hỏi nhiều không kể xiết. Lão Tuyền bảo ai cũng nộp văn, đưa cho con gái tự xem. Có bài bị nàng gạch một nét bỏ đi, có bài chấm không được hai ba câu. Trong đó chỉ có một quyển văn viết hay, bìa ghi tên là Tần Quán. Tiểu Muội phê bốn câu: hôm nay là tú tài thông minh, ngày sau là học sĩ phong lưu; tiếc là cùng thời với hai anh họ Tô, không thì tung hoành một đời.
Lời phê nói rõ tài văn Tần Quán chỉ dưới hai anh họ Tô, ngoài hai anh ra chẳng ai bằng. Lão Tuyền xem, biết con gái đã chọn người này, bèn dặn người gác cổng:
— Hễ tú tài Tần Quán đến thì mau mời vào. Còn những người khác thì từ chối hết.
Ngờ đâu những người nộp văn đều đến chờ tin, chỉ có Tần Quán là không đến. Vì sao vậy? Tú tài Tần Quán tự là Thiếu Du, người huyện Cao Bưu, phủ Dương Châu. Bụng chứa vạn lời, mắt coi không cả thiên hạ. Cả đời chỉ phục anh em họ Tô, còn lại chẳng để vào mắt. Nay mến tài Tiểu Muội, tuy cũng đem ngọc đi bán, nhưng sợ tổn danh tiếng mình, không chịu theo đám đông đi dò tin. Lão Tuyền thấy Tần Quán không đến, trái lại nhờ người đến chỗ trọ của chàng ngỏ ý. Thiếu Du thầm mừng.
Chàng lại nghĩ: "Tài của Tiểu Muội chỉ nghe đồn, chưa thử tận mặt. Lại nghe nói dung mạo không đẹp, trán dô, mắt sâu, chẳng biết mặt mũi ra sao? Làm sao gặp được một lần mới yên lòng." Dò biết ngày mồng một tháng ba, tiểu thư sẽ đi thắp hương ở miếu Đông Nhạc, chàng định nhân dịp ấy đổi trang phục, nhìn cho rõ. Thật đúng là mắt thấy mới là chắc, nghe đồn chưa hẳn thật.
Xưa nay đàn bà nhà quyền quý vào miếu dâng hương, không đi sớm thì đi tối. Vì sao? Sớm thì người chưa đến, tối thì người đã về. Tần Thiếu Du ngày mồng một tháng ba, từ canh năm đã dậy chải đầu rửa mặt, ăn mặc làm một đạo sĩ đi khất thực: đầu quấn khăn vải xanh, sau tai đeo hai vòng đá giả ngọc, mình mặc áo đạo sĩ vải đen, lưng thắt dây vàng, chân đi tất sạch giày cỏ, cổ đeo một chuỗi tràng hạt to bằng ngón cái, tay bưng một cái bát sơn vàng, sáng sớm đã đến trước miếu Đông Nhạc chờ.
Trời vừa hửng sáng, kiệu Tô tiểu thư đã đến. Thiếu Du tránh ra một bước, để kiệu vào miếu, dừng ở hành lang bên trái. Tiểu Muội ra khỏi kiệu lên điện, Thiếu Du đã trông thấy. Tuy không phải yêu kiều diễm lệ, nhưng cũng thanh nhã điềm đạm, chẳng chút vẻ tục. "Chỉ chưa biết tài thật thế nào?"
Chừng thắp hương xong, Thiếu Du men theo hành lang đi lên, gặp nàng bên trái điện, chắp tay hỏi:
— Tiểu thư có phúc có thọ, xin mở lòng từ bi.
Tiểu Muội đáp ngay:
— Đạo nhân có đức gì tài gì, dám xin bố thí!
Thiếu Du lại chắp tay:
— Chúc tiểu thư thân như cây thuốc, trăm bệnh không sinh.
Tiểu Muội vừa đi vừa đáp:
— Mặc đạo nhân miệng nhả hoa sen, nửa đồng cũng không cho.
Thiếu Du theo đến tận trước kiệu, lại chắp tay:
— Cô nương cả ngày vui vẻ, sao lại buông tay rời núi báu?
Tiểu Muội thuận miệng đáp:
— Lão đạo điên tham lam như vậy, đâu có hang vàng theo người!
Tiểu Muội vừa nói vừa lên kiệu. Thiếu Du quay người, miệng lẩm bẩm một câu:
— Lão đạo điên mà được sánh đôi với cô nương, thật là muôn phần may mắn!
Tiểu Muội lên kiệu rồi, chẳng để ý. Ông lão quản gia đi theo lại nghe được, giận đạo sĩ láo xược, đang định quay lại gây chuyện, thì thấy dưới hành lang có một đứa tiểu đồng tóc trái đào bước ra, gọi đạo sĩ:
— Tướng công vào đây thay áo.
Đạo sĩ đi trước, tiểu đồng theo sau. Ông lão quản gia lén véo đứa tiểu đồng một cái, hỏi khẽ:
— Đằng trước là tướng công nào thế?
Tiểu đồng nói:
— Là Tần Thiếu Du tướng công ở Cao Bưu.
Ông lão bèn không nói gì nữa. Về nhà, ông kể với vợ. Câu chuyện truyền vào trong, Tiểu Muội mới biết đạo sĩ quyên tiền là Tần Thiếu Du giả trang, chỉ cười một tiếng, dặn a hoàn đừng lắm miệng.
Chuyện chia hai ngả. Lại nói Tần Thiếu Du hôm ấy được nhìn thoả thích dung mạo Tiểu Muội không hề xấu, lại thêm đối đáp nhanh như tiếng vang, tài thì khỏi phải nói. Chàng chọn ngày tốt thân đến hỏi vợ. Lão Tuyền ưng thuận, tất nhiên làm lễ nạp tài nạp lụa ngay.
Thiếu Du muốn cưới ngay, Tiểu Muội không chịu. Nàng xem văn Tần Quán biết chắc sẽ đỗ, kỳ thi đã gần, muốn đợi chàng mũ đen hốt ngà rồi mới vào phòng hoa chúc. Thiếu Du đành nghe theo. Đến ngày mồng ba tháng ba, kỳ thi lớn của bộ Lễ, Tần Quán một lần thi đã thành danh, đỗ khoa đặc biệt. Chàng đến nhà họ Tô lạy bố vợ, thưa luôn chuyện cưới. Vì chỗ trọ không có ai, chàng muốn làm lễ hoa chúc ngay ở nhà họ Tô. Lão Tuyền cười nói:
— Hôm nay yết bảng, cởi áo trắng khoác áo xanh, chính là ngày đại cát, cần gì chọn ngày khác. Ngay tối nay cưới ở nhà trọ của ta, chẳng hay sao!
Học sĩ Đông Pha đứng bên tán thành. Đêm ấy chàng cùng Tiểu Muội lạy đường, thành mối duyên trăm năm. Thật đúng là gái thông minh được chồng thông minh, đỗ khoa lớn xong lại đỗ khoa nhỏ, tức là đêm động phòng.
Đêm ấy trăng sáng như ban ngày. Thiếu Du ở nhà ngoài tiệc xong, đang định vào phòng, thì thấy cửa phòng đóng chặt. Giữa sân bày một cái bàn nhỏ, trên bàn có giấy mực bút nghiên, ba phong thư, ba cái chén: một chén ngọc, một chén bạc, một chén sành. Một a hoàn áo xanh đứng hầu bên cạnh. Thiếu Du nói:
— Phiền em nói với tiểu thư, tân lang đã đến, sao không mở cửa?
A hoàn nói:
— Vâng lệnh tiểu thư, ở đây có ba đề bài, thi ba lần đều đỗ mới được vào phòng. Ba phong thư này là đề bài ở trong.
Thiếu Du chỉ ba cái chén hỏi:
— Còn cái này là ý gì?
A hoàn nói:
— Chén ngọc đựng rượu, chén bạc đựng trà, chén sành đựng nước lã. Ba lần đều đỗ thì mời uống ba chén rượu ngon trong chén ngọc, rồi vào phòng thơm. Đỗ hai trượt một thì uống trà trong chén bạc cho đỡ khát, đợi tối mai thi lại. Đỗ một trượt hai thì nhấp một ngụm nước lã trong chén sành, phạt ra phòng ngoài đọc sách ba tháng.
Thiếu Du cười nhạt:
— Tú tài khác đi thi thì xin đề cho dễ. Hạ quan đây đã từng thi khoa đặc biệt, văn như tiền đồng xanh, vạn lần chọn vạn lần trúng. Đừng nói ba đề, đến ba trăm đề ta cũng chẳng sợ!
A hoàn nói:
— Tiểu thư nhà em không như những ông quan chấm thi mù mắt, chi hồ giả dã cho qua chuyện đâu. Đề của tiểu thư khó lắm! Đề thứ nhất là một bài tứ tuyệt, tân lang cũng phải làm một bài, hợp ý ra đề mới đỗ. Đề thứ hai là bốn câu thơ giấu bốn người xưa, đoán không sai một ai mới đỗ. Đến đề thứ ba thì dễ, chỉ cần làm một vế đối bảy chữ, đối hay là được uống rượu ngon vào phòng thơm.
Thiếu Du nói:
— Xin đề thứ nhất.
A hoàn mở phong thư thứ nhất, mời tân lang tự xem. Thiếu Du nhìn, bên trong là một tờ giấy hoa, viết bốn câu thơ: đồng sắt ném vào lò lửa lớn, kiến mối bò lên bức tường vôi, âm dương không có hai nghĩa, trời đất có ta ở chính giữa.
Thiếu Du nghĩ: "Đề này người khác chắc chắn đoán không ra. Chỉ vì ta từng giả làm đạo sĩ đi quyên ở miếu Đông Nhạc để xem mặt tiểu thư, nên mới hiểu. Bốn câu này ngầm chứa bốn chữ hoá duyên đạo nhân, tức đạo sĩ đi quyên, rõ ràng là chế ta." Đồng sắt vào lò là bị nung chảy, ấy là chữ hoá. Kiến bò men tường là chữ duyên, nghĩa là men theo. Âm dương chẳng hai nghĩa là chữ đạo. Ta đứng giữa trời đất là chữ nhân, tức người.
Chàng bèn đứng dưới trăng cầm bút viết sau đề một bài thơ, mà chữ đầu bốn câu ghép lại cũng chính là bốn chữ hoá duyên đạo nhân. Đại ý: tạo hoá có ý gì mà giục xuân về, duyên đến thì vườn danh hoa tự nở, ai cũng bảo gió đông vốn đã có chủ, nên người người chẳng dám bước lên đài hoa. Câu thơ vừa nhận mình là đạo sĩ quyên tiền hôm nọ, vừa ngầm nói hoa đã có chủ rồi.
A hoàn thấy làm xong, gấp tờ giấy hoa thứ nhất làm ba, nhét qua khe cửa sổ, gọi to:
— Tân lang nộp bài, xong kỳ thứ nhất!
Tiểu Muội đọc thơ, thấy chữ đầu mỗi câu ghép lại đúng là bốn chữ hoá duyên đạo nhân, mỉm cười.
Thiếu Du lại mở phong thư thứ hai, cũng là một tờ giấy hoa, đề bốn câu: hơn cha hơn ông, có việc làm nên; đục vách trộm ánh sáng, đêm đọc sách; theo đường kim khâu áo, thường nhớ mẹ; ông lão suốt ngày tựa cửa trông.
Thiếu Du xem, chẳng cần suy nghĩ, ghi rõ từng câu: câu thứ nhất là Tôn Quyền, câu thứ hai là Khổng Minh, câu thứ ba là Tử Tư, câu thứ tư là Thái Công Vọng.
Cái hay của đề là ở chữ. Hơn cả ông là đứa cháu có quyền, mà cháu là tôn, quyền là quyền, nên là Tôn Quyền. Đục vách là cái lỗ, tức chữ khổng, trộm ánh sáng là chữ minh, nên là Khổng Minh. Con nhớ mẹ, con là tử, nhớ là tư, nên là Tử Tư. Ông lão suốt ngày ngóng trông, ông lão là thái công, ngóng trông là vọng, nên là Thái Công Vọng. A hoàn lại đưa vào qua khe cửa sổ.
Thiếu Du miệng tuy không nói, lòng nghĩ: "Hai đề rõ ràng không làm khó được ta. Đề thứ ba là câu đối, ta năm sáu tuổi đã biết đối, chẳng khó gì." Chàng mở tờ giấy hoa thứ ba, bên trong ra vế đối: đóng cửa đẩy ra trăng trước cửa sổ.
Mới xem thì thấy dễ, nghĩ kỹ lại mới thấy vế ra thật khéo. Đóng cửa sổ lại thì như đẩy ánh trăng ra ngoài. Nếu đối tầm thường thì chẳng thấy tài gì. Chàng nghĩ trái nghĩ phải, không tìm được vế đối. Nghe trên chòi canh trống canh ba sắp hết, nghĩ mãi không ra, càng thêm cuống.
Lại nói lúc ấy Đông Pha vẫn chưa ngủ, đến dò tin em rể. Thấy Thiếu Du đi vòng quanh giữa sân, miệng cứ ngâm mãi bảy chữ đóng cửa đẩy ra trăng trước cửa sổ, tay phải làm dáng đẩy cửa. Đông Pha nghĩ: "Ắt là Tiểu Muội lấy vế này làm khó, Thiếu Du bị nó vây rồi! Ta không giải vây thì ai se duyên cho!" Ông vội nghĩ, cũng chưa ra vế đối hay.
Giữa sân có một cái vại trồng hoa, đựng đầy nước trong. Thiếu Du đi một hồi, tình cờ tựa vào vại nhìn nước. Đông Pha trông thấy, chợt loé lên một ý, nói thầm:
— Có rồi!
Định bảo cho chàng đối, lại sợ Tiểu Muội biết, làm mất thể diện em rể, không hay. Đông Pha bèn đứng xa xa, ho một tiếng, nhặt dưới đất một mảnh gạch nhỏ ném vào vại. Nước bị mảnh gạch đập vào bắn lên mấy giọt, té vào mặt Thiếu Du. Bóng trời bóng trăng dưới nước tan tác lẫn lộn. Thiếu Du lập tức tỉnh ngộ, cầm bút đối:
— Ném đá xé toang trời đáy nước.
Một bên đóng cửa đẩy trăng ra, một bên ném đá xé trời tan, đối nhau từng chữ, chỉnh mà hay.
A hoàn vừa nộp bài thi thứ ba, chỉ nghe kẹt một tiếng, cửa phòng mở toang. Bên trong lại bước ra một thị nữ, tay bưng bình bạc, rót rượu ngon vào chén ngọc, dâng tân lang, nói:
— Mời tài tử uống cạn ba chén, tạm coi như phần thưởng.
Thiếu Du lúc ấy đắc ý vô cùng, uống liền ba chén, được a hoàn đưa vào phòng thơm. Đêm ấy giai nhân tài tử, thật là vừa ý. Từ đó vợ chồng hoà thuận, chẳng cần kể.
Về sau Thiếu Du đi làm quan ở Chiết Giang, học sĩ Đông Pha ở kinh. Tiểu Muội nhớ anh, lên kinh thăm. Đông Pha có người bạn tu thiền là thiền sư Phật Ấn, thường khuyên Đông Pha kịp lui giữa dòng nước xiết. Một hôm thiền sư gửi đến một bài ca dài, viết rất kỳ lạ: mỗi chữ đều viết liền hai lần, cả thảy một trăm ba mươi cặp chữ, chẳng có dấu ngắt câu nào. Đông Pha đọc đi đọc lại hai ba lượt, nhất thời không đọc ra được, chỉ ngồi trầm ngâm.
Tiểu Muội cầm lấy, nhìn qua một lượt đã hiểu ngay, nói:
— Anh ơi, bài ca này có gì khó hiểu, để em đọc cho anh nghe.
Thì ra mỗi cặp chữ viết đôi là để báo rằng chữ ấy phải đọc hai lần, một lần cuối câu trước, một lần đầu câu sau, các câu móc vào nhau như mắt xích. Nàng lập tức đọc to lên trôi chảy, thành một bài ca dài tả cảnh xuân: chim rừng hót, hoa đào nở đầy cành, chim oanh chim sẻ gọi nhau bên vách đá, hoa đỏ như bình phong gấm, núi đẹp khói sương bốc lên, nước trong lăn tăn, hoa lê trắng như tuyết, cỏ bên suối xanh mềm, từng đôi bướm bay vào rừng hoa rụng, chim kêu không ngớt vì nhớ cảnh xuân, cùng nhau uống rượu xuân nồng, say rồi thong thả dạo trong sắc xuân, gặp nhau tranh nhớ chuyện ngao du sông núi, lòng lặng lại, thong thả trở về, thôi đừng bận rộn nữa.
Đông Pha nghe đọc, kinh ngạc nói:
— Em gái ta nhanh trí, ta không bằng! Nếu là con trai, chức quan ắt hơn ta xa!
Ông bèn chép bài ca nguyên văn của Phật Ấn cùng cách ngắt câu của Tiểu Muội, gói thành một phong thư gửi cho Thiếu Du, kể lại chuyện mình đọc mãi không hiểu, Tiểu Muội nhìn một lượt đã biết.
Thiếu Du lúc đầu xem bài của Phật Ấn cũng không hiểu. Sau đọc cách ngắt câu của Tiểu Muội, như tỉnh giấc mộng, rất hổ thẹn và thán phục. Chàng viết một bài ca ngắn trả lời, khen bài ca của nhà sư lời lặp ý lại, chữ chữ như chuỗi ngọc, hàng hàng như xâu châu; nghĩ nàng chỉ đọc một lượt, còn ta phải đọc đi đọc lại ba lần; nay làm thơ gửi xa, cũng theo lối ấy, nàng hãy nghĩ kỹ mà hiểu tấm lòng ta.
Sau bài ca ngắn, chàng làm thêm một bài thơ chữ lặp, lại viết rất quái lạ: chỉ có mười bốn chữ xếp thành một vòng như khung cửa, chẳng biết đâu là đầu đâu là cuối. Thư đến đúng lúc Đông Pha và Tiểu Muội đang ngắm người hái sen trên hồ. Đông Pha mở ra xem trước, đưa cho Tiểu Muội, hỏi:
— Em giải được không?
Tiểu Muội nói:
— Bài này bắt chước lối của thiền sư Phật Ấn.
Rồi đọc ngay: bắt đầu từ chữ tĩnh, đọc vòng theo khung, mỗi câu bảy chữ, câu sau lấy bốn chữ cuối của câu trước làm đầu, thành bốn câu: lặng nhớ người xa, bao lâu cách trở ngày về; bao lâu cách trở ngày về, nhớ lúc chia tay; nhớ lúc chia tay, nghe giọt đồng hồ chuyển; nghe giọt đồng hồ chuyển, lặng nhớ người xa. Bốn câu nối vòng tròn, đọc mãi không dứt, như nỗi nhớ không có điểm dừng.
Đông Pha than:
— Em gái ta thật là người thông minh tuyệt thế! Hôm nay hội ngắm sen vui thế này, hai anh em ta mỗi người nhân cảnh mà làm một bài theo lối ấy, gửi cho Thiếu Du, để chàng biết cuộc chơi hôm nay của chúng ta.
Đông Pha làm xong, Tiểu Muội cũng xong. Bài của Tiểu Muội cũng là một vòng chữ, đọc ra thành: người hái sen ở bến dương liễu xanh, ở bến dương liễu xanh một khúc ca mới, một khúc ca mới tiếng ngân như ngọc, tiếng ngân như ngọc là người hái sen. Bài của Đông Pha thì đọc ra thành: ngắm hoa trở về ngựa phi như bay, ngựa phi như bay men rượu đã nhạt, men rượu đã nhạt tỉnh ra trời đã tối, tỉnh ra trời đã tối ngắm hoa trở về.
Hai bài thơ gửi đi, Thiếu Du đọc xong khen ngợi không thôi. Thơ vợ chồng xướng hoạ với nhau còn nhiều lắm, không kể hết được. Về sau Thiếu Du nhờ tài danh được vời làm Hàn lâm học sĩ, cùng làm quan với hai anh họ Tô. Một lúc mà anh vợ em rể ba người cùng giữ chức coi sử, xưa nay hiếm có. Thái hậu Tuyên Nhân cũng nghe tiếng tài của Tô Tiểu Muội, thường sai nội quan ban lụa hoặc đồ ăn thức uống, xin nàng đề vịnh. Mỗi lần được một bài, trong cung truyền nhau ngâm đọc, tiếng vang khắp kinh đô.
Về sau Tiểu Muội mất trước Thiếu Du. Thiếu Du thương nhớ không nguôi, suốt đời không lấy vợ nữa. Người đời có thơ khen rằng: văn chương từ xưa nói đến ba cha con họ Tô, cô em gái thông minh còn hơn cả đàn ông; ba lần làm khó chú rể thật là chuyện lạ, khí thiêng dồn cả một nhà, thế gian chẳng có hai.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn