Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Vị khách tí hon phủ mốc xanh

Tôi và cái lương tâm tí hon · Chương 1/3 · của Mark Twain

⏱ 10 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 11.532 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Hôm ấy tôi thấy lòng phơi phới, gần như…
  2. 2:36Ấy vậy mà cái mẩu rác rưởi người đê…
  3. 4:20Thằng người tí hon mỉm cười một nụ cười…
  4. 4:54“Được thôi. Cứ cho là tao đuổi một gã…
  5. 5:36Sự chính xác đáng kinh ngạc ấy làm tôi…
  6. 7:04“Phải, anh đã nói tất cả những điều ấy.…
  7. 9:41“Đồ súc sinh, tao đã thấy nó một triệu…
  8. 10:41“Tao nghĩ mày chính là Xa-tăng. Tao nghĩ mày…

Chương 1: Vị khách tí hon phủ mốc xanh

Hôm ấy tôi thấy lòng phơi phới, gần như hớn hở. Tôi vừa châm điếu xì gà thì người ta mang thư buổi sáng vào. Dòng chữ đề ngoài phong bì đầu tiên tôi liếc thấy làm tôi rộn lên một niềm vui chạy khắp người. Đó là nét chữ của dì Mê-ri. Ngoài người trong nhà, dì là người tôi yêu quý, kính trọng nhất trên đời.

Dì là thần tượng thời thơ ấu của tôi. Tuổi trưởng thành, thứ vẫn giết chết bao nhiêu điều mê hoặc, cũng không kéo nổi dì khỏi bệ thờ. Không, nó chỉ chứng minh rằng dì xứng đáng ngự ở đó, và biến việc truất ngôi dì thành chuyện vĩnh viễn không thể xảy ra.

Để các bạn thấy dì có ảnh hưởng tới tôi lớn đến mức nào, xin kể rằng từ lâu, những lời “thôi đừng hút thuốc nữa” của mọi người khác đã chẳng còn lay động tôi mảy may, vậy mà mỗi khi dì Mê-ri đụng tới chuyện ấy, dì vẫn còn khuấy được lương tâm uể oải của tôi cựa quậy, có chút dấu hiệu sống. Nhưng mọi sự trên đời đều có giới hạn. Cuối cùng cũng tới một ngày hạnh phúc, khi đến lời của dì Mê-ri cũng không lay động được tôi nữa.

Tôi không chỉ mừng khi ngày ấy tới. Tôi còn hơn cả mừng, tôi biết ơn. Vì khi mặt trời hôm ấy lặn, cái tạp chất duy nhất có thể làm vẩn đục niềm vui được ở bên dì đã biến mất. Thời gian còn lại dì ở với chúng tôi mùa đông năm ấy, về mọi mặt đều là một niềm vui trọn vẹn. Dĩ nhiên, sau cái ngày phúc lành ấy, dì vẫn tha thiết khuyên tôi bỏ cái thói độc hại kia y như trước, nhưng hoàn toàn vô ích. Vừa mở lời là tôi lập tức dửng dưng, một cách bình thản, yên ổn, mãn nguyện. Dửng dưng tuyệt đối, cứng như kim cương. Vì thế những tuần cuối cùng của chuyến thăm đáng nhớ ấy tan đi êm như một giấc mơ, chở đầy cho tôi niềm mãn nguyện yên bình. Giả như người hành hạ hiền lành của tôi chính là một tay nghiện thuốc, lại còn cổ vũ cho thói ấy, thì tôi cũng không thể tận hưởng thói xấu cưng của mình hơn thế được.

Thế đấy, nhìn nét chữ của dì, tôi chợt nhớ ra mình đang thèm gặp lại dì biết bao. Tôi dễ dàng đoán được trong thư sẽ viết gì. Tôi bóc thư. Tuyệt! Đúng như tôi đoán, dì sắp tới! Tới ngay hôm nay, bằng chuyến tàu buổi sáng. Dì có thể tới bất cứ lúc nào.

Tôi tự nhủ: “Bây giờ mình hoàn toàn hạnh phúc, mãn nguyện. Nếu kẻ thù tàn nhẫn nhất của mình xuất hiện trước mặt mình lúc này, mình sẽ sẵn lòng sửa chữa mọi điều sai trái mình từng gây ra cho hắn.”

Lập tức cánh cửa mở ra, và một gã lùn quắt queo, rách rưới bước vào. Gã cao chưa tới sáu tấc, trông chừng bốn mươi tuổi. Mọi đường nét, từng tấc người gã đều hơi méo mó một chút. Thế nên dù không thể chỉ tay vào chỗ nào mà bảo “đây là một dị tật rõ rệt”, người nhìn vẫn thấy cái con người bé nhỏ này là một dị tật trọn vẹn, một thứ dị tật mơ hồ, toàn diện, hoà trộn đều đặn, điều chỉnh khéo léo. Trên gương mặt và trong cặp mắt nhỏ sắc lẻm có cái vẻ ranh mãnh như cáo, lại lanh lợi và hiểm độc.

Ấy vậy mà cái mẩu rác rưởi người đê tiện ấy dường như lại có một nét giống tôi xa xôi, mơ hồ! Nó lờ mờ hiện ra trong cái dáng người hèn mọn, trong nét mặt, thậm chí cả trong quần áo, cử chỉ, phong thái và điệu bộ của sinh vật ấy. Gã là một bản nhại xa xôi, mờ nhạt về tôi, một bức biếm hoạ tôi thu nhỏ. Có một điều ở gã làm tôi chú ý mạnh và khó chịu vô cùng: khắp người gã phủ một lớp mốc xanh xanh, lông tơ, như thứ mốc đôi khi ta thấy trên mẩu bánh mì để lâu. Nhìn mà buồn nôn.

Gã bước đi dáng điệu nhanh nhảu, rồi tự nhiên thả mình xuống một cái ghế búp bê, chẳng chờ ai mời. Gã quẳng mũ vào sọt rác, nhặt cái tẩu sứ cũ của tôi dưới sàn lên, chùi chùi cán tẩu một hai cái vào đầu gối, nhồi thuốc từ hộp thuốc lá bên cạnh, rồi bảo tôi bằng giọng ra lệnh xấc xược:

“Đưa que diêm đây!”

Tôi đỏ mặt tới tận chân tóc, một phần vì phẫn nộ, nhưng chủ yếu vì chẳng hiểu sao tôi thấy cả màn trình diễn này rất giống một bản phóng đại cái cách cư xử mà chính tôi đôi khi phạm phải khi giao thiệp với bạn bè thân thiết. Nhưng không bao giờ, không bao giờ với người lạ, tôi tự nhủ. Tôi muốn đá thằng lùn tịt vào lò sưởi, nhưng một cảm giác khó hiểu rằng mình hợp pháp, chính đáng thuộc quyền của gã buộc tôi phải tuân lệnh. Gã châm tẩu, rít một hai hơi trầm ngâm, rồi nhận xét bằng cái giọng thân mật đến phát bực:

“Tôi thấy thời tiết thế này thì quái quỷ thật, vào cái mùa này trong năm.”

Tôi lại đỏ mặt, lại vừa giận vừa nhục như lần trước. Vì câu nói ấy chẳng phóng đại mấy so với vài câu chính tôi từng nói hồi trước, hơn nữa lại được nói bằng một giọng, một kiểu kéo dài lè nhè chọc tức, nghe như cố tình nhại lối nói của tôi. Mà chẳng có gì làm tôi nhạy cảm bằng việc bị người ta nhại lại cái tật nói kéo dài lè nhè của mình. Tôi gay gắt lên tiếng:

“Này, cái đồ mèo hoang chui tro kia! Mày phải để ý tới cách cư xử hơn một chút, không thì tao ném mày qua cửa sổ đấy!”

Thằng người tí hon mỉm cười một nụ cười hiểm độc, mãn nguyện, an toàn, khinh khỉnh phả một hơi khói về phía tôi, rồi nói, giọng còn kéo dài lè nhè hơn nữa:

“Thôi nào, nhẹ nhàng thôi. Đừng có lên mặt quá với người bề trên của mình.”

Lời gạt phắt lạnh lùng ấy làm tôi tức điên khắp người, nhưng trong chốc lát nó dường như cũng khuất phục được tôi. Thằng lùn nhìn tôi một lúc bằng cặp mắt chồn, rồi nói bằng giọng giễu cợt đặc biệt:

“Sáng nay anh đuổi một gã ăn mày khỏi cửa.”

Tôi gắt gỏng:

“Có thể có, có thể không. Mà sao mày biết?”

“Thì tôi biết. Biết bằng cách nào thì chẳng quan trọng.”

“Được thôi. Cứ cho là tao đuổi một gã ăn mày khỏi cửa, thì đã sao?”

“Ồ, chẳng sao, chẳng có gì đặc biệt. Chỉ là anh đã nói dối hắn.”

“Tao không nói dối! Nghĩa là, tao...”

“Có, anh có nói dối. Anh đã nói dối hắn.”

Tôi thấy nhói lên một cảm giác tội lỗi. Thật ra tôi đã thấy nhói lên như thế bốn mươi lần trước khi gã ăn mày đi khỏi cửa nhà tôi được một dãy phố. Nhưng tôi vẫn quyết làm ra vẻ bị vu khống, nên nói:

“Đây là một sự xấc láo vô căn cứ. Tao đã bảo gã ăn mày rằng...”

“Đấy, khoan đã. Anh lại sắp nói dối nữa rồi. Tôi biết anh đã nói gì với hắn. Anh bảo bà đầu bếp ra phố rồi, bữa sáng chẳng còn gì thừa. Hai lời nói dối. Anh biết thừa bà đầu bếp đang đứng sau cánh cửa, và sau lưng bà có đầy thức ăn.”

Sự chính xác đáng kinh ngạc ấy làm tôi câm họng, và cũng khiến tôi thắc mắc mãi không biết thằng ranh này lấy đâu ra tin tức. Dĩ nhiên gã có thể moi được câu chuyện từ gã ăn mày, nhưng nhờ phép thuật gì mà gã biết được chuyện bà đầu bếp nấp sau cửa? Rồi thằng lùn lại nói:

“Hôm nọ anh từ chối đọc bản thảo của cô gái trẻ tội nghiệp ấy, không chịu nói cho cô ấy biết nó có giá trị văn chương không, thì thật là đáng thương, thật là hẹp hòi. Mà cô ấy đã đi xa như thế, hy vọng nhiều như thế. Có phải không nào?”

Tôi thấy mình như một con chó hèn! Mà phải thú nhận luôn, lần nào nhớ lại chuyện ấy tôi cũng thấy như thế. Tôi đỏ bừng mặt, nói:

“Này, mày không có việc gì tốt hơn để làm à, mà cứ lảng vảng soi mói chuyện người khác? Con bé ấy kể với mày à?”

“Cô ấy có kể hay không thì mặc kệ. Điều chính là anh đã làm cái việc đáng khinh ấy. Rồi sau đó anh thấy xấu hổ. A ha! Bây giờ anh đang thấy xấu hổ đấy!”

Đó là một niềm hả hê quỷ quái. Tôi đáp, giọng tha thiết nảy lửa:

“Tao đã nói với cô gái ấy, bằng cách tử tế nhất, dịu dàng nhất, rằng tao không thể nhận phán xét bản thảo của bất cứ ai, vì phán xét của một cá nhân chẳng có giá trị gì. Nó có thể đánh giá thấp một tác phẩm giá trị cao và làm thế giới mất đi tác phẩm ấy. Hoặc nó có thể đánh giá quá cao một thứ rác rưởi, mở đường cho thứ ấy hành hạ thế giới. Tao đã nói rằng công chúng rộng lớn là toà án duy nhất có thẩm quyền phán xét một tác phẩm văn chương. Vì thế tốt nhất là đưa nó ra trước toà án ấy ngay từ đầu, vì đằng nào cuối cùng nó cũng sẽ đứng vững hay sụp đổ theo phán quyết của toà án hùng mạnh ấy.”

“Phải, anh đã nói tất cả những điều ấy. Đúng là anh đã nói thế, cái đồ lươn lẹo, tiểu nhân, quanh co! Thế nhưng khi niềm hy vọng hạnh phúc tắt dần trên gương mặt cô gái tội nghiệp, khi anh thấy cô ấy lén nhét cuộn giấy cô ấy đã kiên nhẫn, thật thà viết nắn nót vào dưới tấm khăn choàng, giờ thì xấu hổ vì đứa con cưng của mình, mà trước đó thì tự hào về nó biết bao, khi anh thấy niềm vui rời khỏi mắt cô ấy và nước mắt trào lên, khi cô ấy lủi thủi ra về, khiêm nhường biết bao, cô gái đã tới với bao nhiêu...”

“Ôi, im đi! Im đi! Im đi! Cho cái lưỡi tàn nhẫn của mày phồng rộp lên! Những ý nghĩ ấy chưa hành hạ tao đủ hay sao mà mày còn tới đây lôi chúng về!”

Hối hận! Hối hận! Tôi tưởng như nó sẽ gặm nát trái tim tôi! Ấy vậy mà thằng quỷ con chỉ ngồi đó, liếc nhìn tôi với vẻ khoái trá và khinh miệt, cười khúc khích thản nhiên. Lát sau gã lại bắt đầu nói. Câu nào cũng là một lời buộc tội, và lời buộc tội nào cũng là sự thật. Vế câu nào cũng chở đầy mỉa mai, chế nhạo, từng chữ rơi chậm rãi bỏng rát như a-xít.

Thằng lùn nhắc tôi nhớ những lần tôi nổi nóng xông vào các con, trừng phạt chúng vì những lỗi mà chỉ cần hỏi han một chút thôi là tôi đã biết người khác phạm chứ không phải chúng. Gã nhắc tôi nhớ tôi đã bất nghĩa để mặc người ta bôi nhọ những người bạn cũ ngay trước mặt mình, mà hèn nhát không dám nói một lời bênh vực. Gã nhắc tôi nhớ biết bao việc gian dối tôi đã làm, biết bao việc gian dối tôi xui trẻ con và những người không biết suy xét làm hộ, và vài việc tôi đã định làm, nghĩ tới, thèm làm, mà chỉ vì sợ hậu quả nên mới không làm.

Với một sự tàn nhẫn tinh vi, gã gợi lại trong trí tôi, từng điều một, những điều sai trái, những lần đối xử tệ bạc, những nỗi nhục tôi đã gây ra cho những người bạn nay đã khuất. Gã nói thêm, như tẩm độc vào nhát dao: “Những người có lẽ đã chết trong khi vẫn nghĩ tới những điều tổn thương ấy, và đau buồn vì chúng.”

Gã nói: “Chẳng hạn, lấy chuyện cậu em trai anh, hồi hai anh em còn bé, cách đây đã bao nhiêu năm. Nó lúc nào cũng tin anh, yêu thương anh, với một lòng trung thành mà vô số lần phản bội của anh cũng không lay chuyển nổi. Nó lẽo đẽo theo anh như một con chó, cam chịu bị đối xử sai trái, bị hành hạ, miễn là được ở bên anh. Nó kiên nhẫn chịu đựng những tổn thương ấy, chừng nào chính tay anh gây ra.

Hình ảnh cuối cùng anh còn giữ về nó lúc khoẻ mạnh hẳn là niềm an ủi lớn cho anh đấy nhỉ! Anh lấy danh dự ra thề rằng nếu nó chịu để anh bịt mắt thì sẽ không có chuyện gì xảy ra với nó. Rồi anh cười khúc khích, sặc sụa vì cái trò đùa hiếm có ấy, dắt nó tới một con suối mặt băng mỏng tang, rồi đẩy nó xuống. Mà anh cười mới ghê chứ! Này anh, có sống tới nghìn năm anh cũng không bao giờ quên được cái nhìn dịu dàng, trách móc nó dành cho anh khi run lẩy bẩy bò lên bờ! Ôi! Anh đang thấy nó đấy, anh đang thấy nó đấy!”

“Đồ súc sinh, tao đã thấy nó một triệu lần rồi, và sẽ còn thấy nó một triệu lần nữa! Cầu cho mày thối rữa ra từng mảnh, và chịu khổ cho tới ngày tận thế cái khổ mà tao đang chịu bây giờ, vì đã lôi nó về với tao!”

Thằng lùn cười khúc khích mãn nguyện, rồi tiếp tục kể lể bản cáo trạng về cuộc đời tôi. Tôi rơi vào một trạng thái u uất, thèm báo thù, lặng lẽ chịu đựng ngọn roi không chút thương xót. Cuối cùng, câu nói sau đây của gã khiến tôi bỗng bừng tỉnh:

“Hai tháng trước, vào một hôm thứ ba, anh thức giấc lúc nửa đêm, rồi nằm nghĩ, lòng đầy xấu hổ, về một hành động đặc biệt đê tiện, đáng thương của anh đối với một người da đỏ nghèo khổ, dốt nát, ở vùng hoang dã núi Rốc-ki, vào mùa đông năm một nghìn tám trăm...”

“Khoan đã, đồ quỷ! Khoan! Mày định bảo tao rằng đến cả ý nghĩ của tao cũng không giấu được mày à?”

“Có vẻ là thế. Chẳng phải anh đã nghĩ những điều tôi vừa nhắc sao?”

“Nếu tao không nghĩ thế thì cầu cho tao không bao giờ thở được nữa! Này, anh bạn, nhìn thẳng vào mắt tôi đây. Mày là ai?”

“Thế anh nghĩ là ai?”

“Tao nghĩ mày chính là Xa-tăng. Tao nghĩ mày là quỷ sứ.”

“Không.”

“Không à? Thế thì mày là ai?”

“Anh thật sự muốn biết à?”

“Muốn thật chứ.”

“Thế thì, tôi là Lương tâm của anh!”

— Hết chương 1 —

Mục lục Tôi và cái lương tâm tí hon

  1. 1Vị khách tí hon phủ mốc xanh10 phút
  2. 2Lương tâm trên nóc tủ sáchĐang thu âm
  3. 3Lương tâm ngủ gậtĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảMark Twain (1835 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1876
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Facts Concerning the Recent Carnival of Crime in Connecticut, Mark Twain, 1876 (Project Gutenberg số 3183)
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →