Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Chiếc thuyền nhà họ Lưu

Tống Kim và chiếc nón dạ rách · Chương 1/3 · của Kim Cổ Kỳ Quan (khuyết danh thời Minh)

⏱ 21 phút🎙️ Giọng Bảo Trang📖 21.597 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Không phải nhân duyên thì chớ cưỡng cầu, nhân…
  2. 2:10Thứ khác thì không dám làm phiền, chỉ thứ…
  3. 5:35Ông khách cứ nhìn ông ta làm gì? Muốn…
  4. 7:16Tống Đôn chưa kịp trả giá, người kia đã…
  5. 9:15Hiệu tôi to gan, xin đừng trách tôi so…
  6. 13:27Cử nhân họ Phạm vốn tai bằng bông, nghe…
  7. 16:03Nghi Xuân lấy cái vò sành múc một vò…
  8. 18:24Bà Lưu nói:

Chương 1: Chiếc thuyền nhà họ Lưu

Không phải nhân duyên thì chớ cưỡng cầu, nhân duyên đã định trước thì chẳng phải lo. Mặc cho sóng nước ngất trời, giữa dòng tự có con thuyền vững vàng qua sông.

Khoảng năm Chính Đức, trên phố lớn huyện Côn Sơn phủ Tô Châu có một người dân họ Tống tên Đôn, vốn là con cháu nhà quan, vợ là Lư thị. Hai vợ chồng không buôn bán làm ăn gì, nhờ ruộng đất ông cha để lại, ngồi thu ít tô mà sống. Đã ngoài bốn mươi tuổi mà chưa sinh được mụn con nào.

Một hôm Tống Đôn nói với vợ:

— Xưa nay vẫn nói nuôi con để cậy lúc già, tích thóc để phòng lúc đói. Vợ chồng ta đã ngoài bốn mươi mà chưa có con nối dõi. Thời gian như tên bay, chớp mắt đã bạc đầu. Việc trăm năm sau này biết cậy vào ai?

Nói xong bất giác rơi nước mắt. Lư thị nói:

— Nhà họ Tống đời đời lương thiện, chưa từng làm điều ác gây nghiệp. Huống chi ông lại là con một, trời cao quyết chẳng nỡ dứt dòng dõi tổ tiên ông. Có con cũng có sớm có muộn. Nếu không đáng có mà cố có, thì nuôi được đến lớn, nửa đường cũng bỏ mình mà đi, nhọc mà chẳng được gì, chỉ thêm khóc lóc.

Tống Đôn gật đầu:

— Phải!

Nước mắt còn chưa khô, thì nghe ngoài nhà khách có người ho, gọi:

— Ngọc Phong có nhà không?

Thì ra theo tục Tô Châu, chẳng kể nhà lớn nhà nhỏ, ai cũng có một biệt hiệu để gọi nhau. Ngọc Phong là biệt hiệu của Tống Đôn. Tống Đôn nghiêng tai nghe, đến tiếng gọi thứ hai thì nhận ra là giọng Lưu Thuận Tuyền.

Lưu Thuận Tuyền tên là Hữu Tài, ông cha mấy đời chạy một chiếc thuyền lớn chở hàng cho khách, đi giao khắp các tỉnh, kiếm được khá nhiều tiền cước. Một gia nghiệp đầy đủ đều gói trọn trên chiếc thuyền ấy. Riêng chiếc thuyền cũng đáng mấy trăm lạng, toàn thân đóng bằng gỗ nam thơm. Vùng sông nước Giang Nam có nhiều nhà làm nghề này. Lưu Hữu Tài là bạn thân nhất của Tống Đôn. Nghe tiếng bạn, Tống Đôn vội ra nhà khách, hai bên chẳng cần vái, chắp tay chào nhau, chia chỗ ngồi uống trà.

Tống Đôn hỏi:

— Hôm nay Thuận Tuyền sao rảnh rỗi thế?

Lưu Hữu Tài nói:

— Tôi đến mượn ông một món đồ.

Tống Đôn cười:

— Thuyền báu của ông thiếu gì mà lại phải đến nhà tôi mượn?

Lưu Hữu Tài nói:

— Thứ khác thì không dám làm phiền, chỉ thứ này là nhà ông có thừa, nên mới dám mở lời.

Tống Đôn nói:

— Nếu quả nhà tôi có, quyết không tiếc.

Lưu Hữu Tài thong thả nói ra món đồ ấy. Thì ra vợ chồng Tống Đôn vì khó có con, đi thắp hương cầu tự khắp nơi, có may một cái bọc vải vàng và một cái túi vải vàng, để đựng vàng mã tiền giấy. Đi thắp hương xong thì treo trong phòng thờ Phật ở nhà, rất mực thành kính. Lưu Hữu Tài hơn Tống Đôn năm tuổi, đã bốn mươi sáu, vợ là Từ thị cũng không có con. Nghe nói có một nhà buôn muối Huy Châu cầu tự, mới dựng miếu Nương nương Trần Châu ngoài cửa Xương Môn thành Tô Châu, hương khói rất thịnh, người đến cầu không dứt. Lưu Hữu Tài vừa hay tiện chuyến, sắp chạy thuyền đến Phong Kiều đón khách, muốn vào dâng một nén hương, nhưng chưa may được bọc vải túi vải, nên đặc biệt đến nhà họ Tống mượn. Lúc ấy ông nói rõ duyên cớ, Tống Đôn trầm ngâm không nói.

Lưu Hữu Tài nói:

— Ngọc Phong hay là có lòng tiếc? Nếu làm bẩn hỏng, một cái tôi đền hai cái.

Tống Đôn nói:

— Làm gì có lẽ ấy! Chỉ có điều, miếu Nương nương đã linh như vậy, tôi cũng muốn đi nhờ thuyền một chuyến, chỉ không biết bao giờ đi?

Lưu Hữu Tài nói:

— Đi ngay bây giờ.

Tống Đôn nói:

— Bọc vải túi vải, nhà tôi còn một bộ nữa, cả thảy hai bộ, chia nhau dùng được.

Lưu Hữu Tài nói:

— Thế thì hay lắm.

Tống Đôn vào trong nói với vợ chuyện muốn lên thành thắp hương, Lư thị cũng mừng. Tống Đôn lấy hai bộ bọc vải túi vải trên vách phòng thờ xuống, giữ một bộ dùng, cho Lưu Hữu Tài mượn một bộ. Lưu Hữu Tài nói:

— Tôi xuống thuyền chờ trước, Ngọc Phong mau đến. Thuyền ở dưới cầu Đại Phản ngoài cửa bắc. Nếu không chê sơ sài thì ăn chút cơm chay sẵn có, khỏi mang gạo.

Tống Đôn nhận lời. Ông vội sắm ít hương nến, vàng mã, gói ghém thành bọc, mặc một chiếc áo đạo bào bằng lụa Hồ Châu trắng tinh mới may, chạy ra cửa bắc xuống thuyền. Nhờ gió thuận, chưa đầy nửa ngày đã đi hết bảy mươi dặm. Thuyền đậu ở Phong Kiều, tối ấy không có chuyện gì. Đúng như bài thơ xưa tả bến này: trăng lặn, quạ kêu, sương giăng đầy trời, hàng phong bên sông, đốm lửa thuyền chài lặng nhìn người nằm buồn không ngủ, rồi từ chùa Hàn San ngoài thành Cô Tô, tiếng chuông nửa đêm vọng đến thuyền khách.

Hôm sau dậy từ tờ mờ sáng, rửa mặt trên thuyền xong, ăn ít đồ chay, súc miệng rửa tay sạch sẽ, hai người mỗi người một bọc vải vàng đựng vàng mã, túi vải vàng đựng ngựa giấy sớ cúng đeo trên cổ, đi bộ đến trước điện Nương nương Trần Châu. Trời vừa sáng. Cửa miếu tuy mở, cửa điện vẫn còn đóng. Hai người đi quanh hai dãy hành lang xem một lượt, quả là xây cất chỉnh tề. Đang khen ngợi thì nghe kẹt một tiếng, cửa điện mở. Ông từ ra đón vào điện. Lúc ấy khách thắp hương chưa đến, giá nến còn trống, ông từ hạ đèn lưu ly xuống, lấy lửa thắp nến, nhận sớ khấn thay cho hai người. Hai người thắp hương lễ bái xong, mỗi người đưa mấy chục đồng tạ ông từ, đốt vàng mã rồi ra cửa. Lưu Hữu Tài lại mời Tống Đôn về thuyền, Tống Đôn không chịu. Lưu Hữu Tài trả lại bọc vải túi vải cho Tống Đôn, hai bên cảm tạ rồi chia tay.

Lưu Hữu Tài đi Phong Kiều đón khách. Tống Đôn thấy trời còn sớm, định ra cửa Lâu Môn đón thuyền về nhà. Vừa định cất bước, nghe dưới chân tường có tiếng rên. Lại gần xem, là một cái lều chiếu lau thấp lè tè dựng sát tường miếu, trong lều nằm một ông hoà thượng già đang ốm, thoi thóp sắp chết, gọi không thưa, hỏi không đáp. Tống Đôn trong lòng không nỡ, dừng mắt nhìn. Một người bên cạnh đi tới nói:

— Ông khách cứ nhìn ông ta làm gì? Muốn thì làm việc phúc rồi hẵng đi.

Tống Đôn hỏi:

— Làm việc phúc thế nào?

Người ấy nói:

— Nhà sư này từ Thiểm Tây đến, bảy mươi tám tuổi. Ông bảo cả đời chưa từng ăn mặn, ngày ngày chỉ tụng Kinh Kim Cương. Ba năm trước ông đến đây quyên tiền dựng am, không có thí chủ, bèn dựng cái lều chiếu lau này mà ở, tụng kinh không ngớt. Ở đây có một quán cơm chay, mỗi ngày ông chỉ ăn một bữa buổi trưa, quá trưa thì thôi. Cũng có người thương, cho ông ít tiền ít gạo, ông đem trả tiền cơm cho quán, không giữ lại một đồng. Gần đây ông mắc bệnh này, nửa tháng nay không ăn uống gì. Hai hôm trước còn nói được, chúng tôi hỏi: "Chịu khổ thế này, sao không đi sớm cho xong?" Ông nói: "Nhân duyên chưa đến, còn đợi hai hôm." Sáng nay đến nói cũng không nói được nữa, sớm tối là chết. Ông khách nếu thương ông ấy thì mua một cỗ quan tài mỏng, hoả táng cho ông, thế là làm việc phúc. Ông ấy nói nhân duyên chưa đến, có khi nhân duyên ấy chính là ở ông khách.

Tống Đôn nghĩ: "Hôm nay ta đến cầu con, làm một việc tốt mà về, cũng để thần trời biết." Bèn hỏi:

— Ở đây có hiệu quan tài không?

Người ấy nói:

— Ra khỏi ngõ, nhà Trần Tam Lang là đó.

Tống Đôn nói:

— Phiền anh cùng đi xem.

Người ấy dẫn đường đến nhà họ Trần. Trần Tam Lang đang trong hiệu sai thợ cưa gỗ. Người ấy nói:

— Tam Lang, tôi dẫn khách đến làm ăn với anh đây.

Tam Lang nói:

— Nếu ông khách xem ván thọ, hiệu tôi có loại gỗ Vụ Nguyên thật, dày dặn hai lớp ghép ở trong. Nếu muốn loại có sẵn thì cứ ở trong hiệu mà chọn.

Tống Đôn nói:

— Muốn loại có sẵn.

Trần Tam Lang chỉ một cỗ:

— Đây là hạng nhất, giá đủ ba lạng.

Tống Đôn chưa kịp trả giá, người kia đã nói:

— Ông khách này mua để cúng cho ông hoà thượng già trong lều chiếu lau, làm việc phúc đấy, anh cũng được một nửa công đức, đừng nói thách.

Trần Tam Lang nói:

— Đã là làm việc phúc, tôi cũng không dám đòi nhiều, theo giá vốn một lạng sáu đồng cân, không bớt được ly nào nữa.

Tống Đôn nói:

— Giá ấy cũng công bằng rồi.

Ông nhớ ở góc khăn tay có buộc một mẩu bạc chừng năm sáu đồng cân, thắp hương còn thừa chưa đến trăm đồng tiền đồng, gộp lại cũng chưa được một nửa. "Ta có cách rồi, thuyền Lưu Thuận Tuyền ở Phong Kiều không xa." Ông bèn nói với Trần Tam Lang:

— Giá cứ theo anh, chỉ là còn phải đến chỗ một người bạn vay, lát nữa sẽ đến.

Trần Tam Lang thì thôi, nói:

— Tuỳ ông khách.

Người kia thì không vui, nói:

— Ông khách đã phát tâm tốt, lại tính đường rút lui. Trong người không có bạc thì đến xem làm gì?

Lời chưa dứt, thấy người trên phố đi qua tấp nập, nhiều người nói về ông hoà thượng già: thương thay nửa tháng trước còn nghe tiếng ông tụng kinh, sáng nay đã qua đời rồi. Thật là còn ba tấc hơi thì lo nghìn việc, một sớm vô thường thì vạn việc đều thôi.

Người kia nói:

— Ông khách không nghe sao? Ông hoà thượng già đã chết rồi, ông ấy dưới âm phủ đang mở mắt chờ ông lo cho đấy!

Tống Đôn miệng tuy không nói, trong lòng lại nghĩ: "Ta đã xem định cỗ quan tài này. Nếu đến Phong Kiều mà Lưu Thuận Tuyền không có trên thuyền, chẳng lẽ ngồi chờ ông ấy về. Vả lại người ta vẫn nói đã một giá thì không kén người mua. Nếu có người khác trả thêm giá mua mất cỗ quan tài này, ta thành thất tín với nhà sư. Thôi, thôi!"

Ông bèn lấy mẩu bạc ra, vừa đúng một mẩu, mượn cái cân cân thử, kêu lên: "May quá!" Thì ra là một mẩu bạc nén, nhìn thì như ít, cân lại nhiều, hơn bảy đồng cân. Ông bảo Trần Tam Lang nhận trước, rồi cởi chiếc áo đạo bào lụa trắng mới may đang mặc trên người ra, nói:

— Chiếc áo này giá hơn một lạng, nếu chê không đáng thì tạm cầm, đợi tôi đến chuộc. Nếu dùng được thì xin tính luôn.

Trần Tam Lang nói:

— Hiệu tôi to gan, xin đừng trách tôi so đo.

Rồi nhận bạc và áo. Tống Đôn lại rút trên búi tóc một cây trâm bạc chừng hai đồng cân, đưa cho người kia, nói:

— Phiền anh đổi cây trâm này lấy ít tiền đồng, để lo các việc lặt vặt khâm liệm.

Bấy giờ những người đứng xem trong hiệu đều nói:

— Hiếm có ông khách làm việc phúc này, ông đã gánh việc lớn rồi. Còn việc nhỏ, người trong vùng ta cũng nên góp ít tiền giúp.

Mọi người đều đi góp tiền. Tống Đôn lại quay về lều chiếu lau xem ông hoà thượng già, quả đã viên tịch. Bất giác hai mắt rơi lệ, như người thân thích, trong lòng chua xót lắm, chẳng biết vì sao, không nỡ nhìn nữa, ngậm nước mắt mà đi. Đến cửa Lâu Môn thì thuyền chở khách đã đi, ông tự gọi một chiếc thuyền nhỏ, ngay hôm ấy về nhà.

Vợ thấy chồng tối mịt mới về, trên người không mặc áo đạo bào, mặt lại có vẻ buồn rầu, tưởng là cãi nhau với ai, vội vàng ra hỏi. Tống Đôn lắc đầu:

— Chuyện dài lắm!

Ông đi thẳng vào phòng thờ Phật, treo hai bộ bọc vải túi vải lên, dập đầu trước Phật một cái, vào phòng ngồi, đòi cơm ăn xong mới mở lời, kể tỉ mỉ chuyện ông hoà thượng già. Vợ nói:

— Đúng là nên làm thế!

Bà cũng chẳng trách giận gì. Tống Đôn thấy vợ hiền, cũng đổi buồn làm vui.

Đêm ấy hai vợ chồng ngủ đến canh năm, Tống Đôn mộng thấy ông hoà thượng già đến cửa lạy tạ, nói:

— Thí chủ số vốn không có con, tuổi thọ cũng chỉ đến đây thôi. Vì thí chủ lòng dạ từ thiện, Thượng đế cho kéo dài thêm sáu năm tuổi thọ. Lão tăng với thí chủ lại có một mối nhân duyên, nguyện đầu thai vào nhà thí chủ làm con, để đền ơn đậy nắp quan tài.

Lư thị cũng mộng thấy một vị La Hán mình vàng đi vào phòng, trong mộng kêu lên, làm cả chồng cũng giật mình tỉnh dậy. Hai người kể giấc mộng cho nhau, nửa tin nửa ngờ, than thở mãi. Thật đúng là trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, khuyên người làm điều lành, tự làm thì tự hưởng.

Từ đó Lư thị có mang, đủ mười tháng sinh một đứa con trai. Vì mộng thấy La Hán mình vàng, đặt tên tục là Kim Lang, tên chính là Tống Kim. Vợ chồng mừng rỡ, khỏi phải nói. Lúc ấy Lưu Hữu Tài cũng sinh một con gái, tên tục là Nghi Xuân. Hai đứa trẻ lớn dần, có người xui hai nhà kết thông gia. Lưu Hữu Tài thì trong lòng bằng lòng, còn Tống Đôn lại chê ông xuất thân nghề chở thuyền, chẳng phải dòng dõi danh gia, miệng tuy không nói, trong lòng có ý không ưng.

Tống Kim mới sáu tuổi thì Tống Đôn lâm bệnh rồi qua đời. Xưa nay vẫn nói trăm việc trong nhà hưng thịnh đều nhờ số người chủ. Mười người đàn bà không bằng một người đàn ông. Từ khi Tống Đôn mất, Lư thị quản nhà, gặp liền mấy năm mất mùa, người trong xóm lại ức hiếp mẹ goá con côi, bắt chịu sưu dịch. Lư thị chống đỡ không nổi, đành bán dần ruộng nhà, thuê nhà mà ở. Lúc đầu còn là nghèo giả, về sau ngồi ăn núi lở, chưa đến mười năm, thành nghèo thật. Lư thị cũng lâm bệnh mà mất.

Lo ma chay xong, Tống Kim chỉ còn hai bàn tay trắng, bị chủ nhà đuổi ra. Không biết nương tựa vào đâu, may sao từ nhỏ đã học được một nghề, biết viết biết tính. Tình cờ có một cử nhân họ Phạm ở bản xứ được bổ làm tri huyện Giang Sơn, phủ Cù Châu, tỉnh Chiết Giang, đang muốn tìm một người biết viết biết tính. Có người nói đến Tống Kim, ông Phạm bèn sai người dẫn đến. Thấy chàng tuổi nhỏ, lại khôi ngô, trong lòng rất mừng. Hỏi đến sở trường, quả nhiên chữ viết thông cả chân lẫn thảo, tính toán giỏi cả nhân chia. Ngay hôm ấy ông giữ chàng lại trong thư phòng, lấy một bộ áo mới cho chàng thay, cùng ngồi một mâm, đối đãi rất hậu. Chọn ngày lành, Phạm tri huyện cùng Tống Kim xuống thuyền quan, cùng đi đến nơi nhậm chức.

Lại nói Tống Kim tuy nghèo hèn, rốt cuộc vẫn là con cháu nhà dòng dõi, nay làm người giúp việc cho ông Phạm, đâu chịu hạ mình đê tiện, hoà lẫn với bọn đầy tớ để chúng đùa cợt khinh rẻ. Bọn quản gia khinh chàng nhỏ tuổi, thấy chàng làm bộ như thế, càng không ưa. Từ Côn Sơn khởi hành đều đi đường thuỷ, đến Hàng Châu thì lên bộ. Bọn chúng xúi chủ:

— Thằng nhỏ Tống Kim ở đây viết tính hầu lão gia, đáng ra phải cẩn thận khiêm nhường, vậy mà nó chẳng biết lễ gì. Lão gia đối đãi với nó quá mức, cho ngồi cùng ăn cùng. Trên thuyền còn lẫn lộn được, lên đường bộ, nghỉ trưa ngủ đêm, lão gia cũng phải giữ chút thể diện. Bọn con bàn nhau, chẳng bằng bắt nó viết một tờ văn tự bán thân, thế mới ổn. Đến nha môn nó cũng không dám làm càn.

Cử nhân họ Phạm vốn tai bằng bông, nghe gì tin nấy, bèn theo lời bọn chúng, gọi Tống Kim vào khoang bắt viết văn tự bán thân. Tống Kim đâu chịu viết. Bị ép hồi lâu, ông Phạm nổi giận, quát lột áo đuổi ra khỏi thuyền. Bọn đầy tớ kéo kéo lôi lôi, lột sạch sành sanh, chỉ còn một cái áo vải mỏng, đuổi lên bờ. Tống Kim tức đến nửa ngày không mở miệng được. Chỉ thấy kiệu ngựa tấp nập chờ Phạm tri huyện lên bộ, Tống Kim ngậm nước mắt, đành lánh đi.

Trong người không có tiền của, đói không chịu nổi, chàng đành học theo hai người xưa: Ngũ Tử Tư thổi sáo xin ăn ở chợ Ngô, Hàn Tín ăn nhờ bà giặt lụa. Ngày ngày đi xin ăn ngoài phố, đêm ngủ trong miếu cổ. Lại còn một điều, Tống Kim rốt cuộc là con nhà dòng dõi, dù sa sút đến đâu vẫn còn ba phần cốt cách, không chịu theo bọn ăn mày đi kêu xin khắp phố, khúm núm như tôi tớ, chẳng biết liêm sỉ. Xin được thì ăn, không xin được thì nhịn đói, bữa có bữa không. Qua một thời gian, mặt mũi dần vàng vọt gầy gò, chẳng còn chút phong thái ngày trước. Thật là hoa đẹp gặp mưa phai hết sắc đỏ, cỏ thơm qua sương héo hết màu xanh.

Gặp tiết cuối thu, gió vàng giục lạnh, bỗng đổ xuống một trận mưa lớn. Tống Kim thiếu ăn thiếu mặc, ở trong miếu Quan Công ở Bắc Tân Quan chịu đói chịu rét, không ra ngoài được. Mưa từ giờ thìn đến giờ ngọ mới tạnh. Tống Kim thắt chặt dây lưng, bước ra khỏi cửa miếu. Chưa được mấy bước thì gặp ngay một người. Tống Kim mở mắt nhìn, chính là người bạn thân nhất của cha mình, Lưu Hữu Tài, hiệu Thuận Tuyền. Tống Kim chẳng còn mặt mũi nào gặp người quen cũ, không dám nhận, đành cúi mắt cúi đầu mà đi. Lưu Hữu Tài đã trông thấy, từ phía sau nắm tay giữ lại, gọi:

— Cháu có phải cậu Tống không? Sao lại ra nông nỗi này?

Tống Kim nước mắt ròng ròng, chắp tay thưa:

— Cháu áo quần không chỉnh tề, không dám làm lễ. Đội ơn chú hỏi đến.

Rồi như thế như thế, kể lại chuyện Phạm tri huyện vô lễ một lượt.

Ông Lưu nói:

— Lòng trắc ẩn thì ai cũng có. Cháu chịu ở trên thuyền chú giúp việc, chú bảo đảm cháu được no ấm.

Tống Kim liền quỳ xuống:

— Nếu được chú cưu mang, chú là cha mẹ tái sinh của cháu.

Ông Lưu dẫn Tống Kim xuống bến. Ông lên thuyền trước, nói với vợ chuyện ấy. Bà Lưu nói:

— Thế là tiện cả đôi đường, có gì không tốt.

Ông Lưu bèn đứng ở mũi thuyền vẫy cậu Tống lên, cởi chiếc áo đạo bào vải cũ trên người cho chàng mặc, dẫn ra đuôi thuyền chào bà Từ thị. Con gái Nghi Xuân đứng bên cũng chào. Tống Kim đi ra mũi thuyền. Ông Lưu nói:

— Lấy cơm cho cậu Tống ăn.

Bà Lưu nói:

— Cơm thì có, có điều nguội rồi.

Nghi Xuân nói:

— Có trà nóng trong nồi đây.

Nghi Xuân lấy cái vò sành múc một vò trà nóng bỏng. Bà Lưu lấy trong chạn ít dưa muối, cùng cơm nguội đưa cho Tống Kim:

— Cậu Tống ơi! Làm ăn trên thuyền không như ở nhà, ăn tạm vậy nhé!

Tống Kim nhận lấy. Lại thấy mưa phùn lất phất rơi, ông Lưu gọi con gái:

— Đằng đuôi thuyền có cái nón dạ cũ, lấy xuống cho cậu Tống đội.

Nghi Xuân lấy cái nón dạ cũ ra xem, một bên đã bục chỉ. Nghi Xuân nhanh tay, rút kim chỉ trên búi tóc khâu chỗ rách lại, ném lên mui thuyền, gọi:

— Lấy nón mà đội.

Tống Kim đội chiếc nón dạ rách, ăn cơm nguội chan trà.

Ông Lưu bảo chàng dọn dẹp đồ đạc trên thuyền, quét lau thuyền, còn mình lên bờ đón khách, đến tối mới về. Đêm ấy không có chuyện gì. Hôm sau ông Lưu dậy, thấy Tống Kim ngồi rảnh ở mũi thuyền, trong lòng thầm nghĩ: "Người mới đến, đừng để nó quen thói." Bèn quát:

— Thằng nhỏ ăn cơm nhà ta, mặc áo nhà ta, lúc rảnh bện ít thừng, đánh ít dây, cũng có chỗ dùng, sao ngồi không thế?

Tống Kim vội đáp:

— Chú cứ sai bảo, cháu không dám trái.

Ông Lưu bèn lấy một bó vỏ gai đưa cho Tống Kim, bảo đánh dây. Thật là đứng dưới mái hiên thấp nhà người, sao dám không cúi đầu.

Từ đó Tống Kim sớm tối cẩn thận, chăm chỉ làm việc, không hề lười biếng. Lại thêm viết tính tinh thông, hễ có hàng của khách trên thuyền đều do chàng ghi sổ, ra vào không sai một ly. Các thuyền khác giao dịch cũng hay nhờ chàng cầm bàn tính, ghi sổ sách. Khách ai cũng quý mến, đều khen cậu Tống trẻ mà lanh lợi. Ông bà Lưu thấy chàng cẩn thận được việc, đối đãi khác hẳn, cho ăn ngon mặc đẹp. Trước mặt khách thì nhận là cháu họ. Tống Kim cũng tự thấy được chỗ, lòng yên thân khoẻ, mặt mũi ngày càng đầy đặn. Người trong nghề thuyền ai cũng ghen tị.

Thời gian như tên bay, thấm thoắt đã hơn hai năm. Một hôm ông Lưu thầm nghĩ: "Mình tuổi đã già, chỉ có một con gái, muốn tìm một chàng rể hiền để cậy cả đời. Được như cậu Tống thì vẹn mười phần, chỉ không biết ý bà nhà thế nào?" Tối ấy ông cùng vợ uống rượu ngà ngà, con gái Nghi Xuân ngồi bên, ông Lưu chỉ con gái nói với vợ:

— Nghi Xuân đã lớn, chưa có nơi gửi gắm cả đời, tính sao đây?

Bà Lưu nói:

— Đó là việc lớn để vợ chồng mình cậy lúc già, sao ông không lo gấp?

Ông Lưu nói:

— Tôi ngày nào cũng nghĩ, chỉ khó tìm được người thật vừa ý. Người tài như cậu Tống trên thuyền mình, nghìn người chọn một cũng không được.

Bà Lưu nói:

— Sao không gả luôn cho cậu Tống?

Ông Lưu giả vờ nói:

— Bà nói gì vậy! Nó không nhà không cửa, sống nhờ cơm thuyền mình, tay không một đồng, sao gả con gái cho nó được?

Bà Lưu nói:

— Cậu Tống là con cháu nhà quan, lại là con người bạn cũ. Ngày trước lúc cha cậu còn sống cũng từng có người bàn chuyện thông gia, ông quên rồi sao? Nay tuy sa sút, xem cậu ấy khôi ngô tuấn tú, lại biết viết biết tính, kén được chàng rể như thế cũng chẳng nhục cửa nhà. Vợ chồng mình về già cũng có chỗ cậy.

Ông Lưu hỏi:

— Bà đã quyết chưa?

Bà Lưu nói:

— Có gì mà không quyết?

Ông Lưu nói:

— Thế thì hay lắm!

Thì ra Lưu Hữu Tài ngày thường vốn sợ vợ, từ lâu đã ưng Tống Kim, chỉ lo vợ không chịu. Nay thấy vợ khảng khái, mừng lắm. Ngay lúc ấy ông gọi Tống Kim, trước mặt vợ hứa gả con gái cho chàng. Tống Kim lúc đầu cũng khiêm nhường không dám nhận, thấy vợ chồng ông Lưu một lòng tốt, không bắt chàng tốn một đồng nào, đành nghe theo. Ông đến nhà thầy xem ngày chọn ngày lành, về báo vợ, rồi chạy thuyền về Côn Sơn. Trước hết làm lễ đội mũ cho cậu Tống, may một bộ áo lụa cho chàng mặc. Áo mới, mũ mới, giày mới, tất mới từ đầu đến chân, càng làm Tống Kim thêm tuấn tú. Tuy không có tài tám đấu như Tào Tử Kiến, nhưng dung mạo hơn cả Phan An.

Bà Lưu cũng sắm cho con gái ít quần áo trang sức. Ngày lành đến, mời họ hàng hai bên, bày tiệc cưới lớn, đón Tống Kim về thuyền làm rể. Hôm sau họ hàng đến mừng, uống rượu cưới liền ba ngày. Tống Kim thành thân rồi, vợ chồng thương yêu nhau, khỏi phải nói. Từ đó việc làm ăn trên thuyền ngày một phát đạt.

Thời gian như tên bay, thấm thoắt đã qua một năm hai tháng. Nghi Xuân mang thai đủ ngày, sinh một con gái. Vợ chồng quý như vàng, thay nhau bế ẵm. Vừa qua đầy năm, đứa bé mắc bệnh đậu mùa, thuốc thang không khỏi, mười hai ngày thì chết. Tống Kim thương nhớ con, khóc lóc quá mức, bảy tình tổn thương, sinh ra bệnh lao. Sáng lạnh chiều nóng, ăn uống dần kém, gầy đến trơ xương, đi đứng chậm chạp. Vợ chồng ông Lưu lúc đầu còn mong chàng khỏi, mời thầy thuốc, xem bói cho chàng. Kéo dài hơn một năm, bệnh chỉ thêm không bớt, ba phần người bảy phần ma. Viết cũng không viết nổi, tính cũng không tính nổi.

Thế là chàng thành cái gai trong mắt, chỉ mong chàng chết đi cho rảnh, mà chàng lại không chết. Hai ông bà già hối hận không kịp, trách lẫn nhau. Ngày trước chỉ mong được chàng rể làm nửa con để cậy lúc già, nay thấy cái của nợ này sống dở chết dở, rõ ràng như một con rắn chết thối quấn vào người, gỡ không ra. Để đứa con gái như hoa như ngọc lỡ cả một đời, biết làm sao? Kế bây giờ là phải nghĩ cách đuổi cái oan gia ấy đi, để con gái kén một chàng rể tốt khác mới vừa lòng.

Hai ông bà bàn nhau hồi lâu, định ra một kế, giấu cả con gái, chỉ nói có hàng của khách ở Giang Tây, chuyển thuyền đi chở. Đi đến vùng Ngũ Khê ở Trì Châu, đến một nơi hoang vắng hẻo lánh. Chỉ thấy núi trơ trọi lặng lẽ, nước xa mênh mông, bờ hoang vách vắng, chẳng có dấu người. Hôm ấy có chút gió ngược, ông Lưu cố ý lái lệch bánh lái, thuyền mắc cạn trên bãi cát, rồi bảo Tống Kim xuống nước đẩy thuyền. Tống Kim tay chậm chân chậm, ông Lưu liền mắng:

— Đồ quỷ lao! Không có sức đẩy thuyền thì lên bờ chặt ít củi rừng về đun, đỡ tốn tiền mua.

Tống Kim tự thấy hổ thẹn, cầm con dao rựa, gắng gượng lên bờ chặt củi. Ông Lưu nhân lúc chàng chưa về, ra sức chống bánh lái, quay đầu thuyền, giương căng buồm, xuôi dòng mà đi. Chẳng lo ruột thịt gặp cảnh lưu lạc, chỉ mừng oan gia đã khuất mắt.

— Hết chương 1 —

Mục lục Tống Kim và chiếc nón dạ rách

  1. 1Chiếc thuyền nhà họ Lưu21 phút
  2. 2Tám chiếc hòm trong miếu hoangĐang thu âm
  3. 3Chiếc nón dạ ráchĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảKim Cổ Kỳ Quan (khuyết danh thời Minh)
Xuất bản lần đầu1640
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Kim Cổ Kỳ Quan 今古奇觀, hồi thứ 14: 宋金郎團圓破氈笠 (Tống Kim lang đoàn viên phá chiên lạp), tuyển cuối đời Minh, Bão Ung lão nhân biên
Giọng đọcBảo Trang — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →