Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Trên toa tàu tốc hành

của Guy de Maupassant

⏱ 10 phút🎙️ Giọng Bảo Thiện📖 10.629 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Mặt trời sắp khuất sau dãy núi lớn, nơi…
  2. 2:49Bỗng cha thấy trước một cửa toa có một…
  3. 3:43Rô-giê đơ Xác-ca-nhơ, cậu lớn nhất, là một trong…
  4. 5:13Bà đáp:
  5. 6:10Bà lắp bắp:
  6. 7:25Rồi cha quay về phía người thiếu phụ, vừa…
  7. 8:39"Ta rửa con, nhân danh Cha, và Con, và…
  8. 9:56"Im đi nào. Chúa gửi em bé tới đấy."

Mặt trời sắp khuất sau dãy núi lớn, nơi ngọn Puy-đơ-Đôm sừng sững như một gã khổng lồ, và bóng những đỉnh núi trải dài xuống thung lũng sâu Roa-y-a.

Vài người đang dạo trong công viên, quanh cái chòi nhạc. Những người khác vẫn còn ngồi từng nhóm, dù chiều đã se lạnh.

Ở một trong những nhóm ấy, người ta đang bàn tán sôi nổi, vì có một chuyện hệ trọng làm các bà Xác-ca-nhơ, Vô-la-xen và Bri-đoa rất lo lắng. Vài ngày nữa là kỳ nghỉ hè bắt đầu, và phải đưa các cậu con trai đang học ở trường dòng Tên và trường dòng Đa Minh về.

Thế mà các bà chẳng muốn tự mình đi đón con, mà cũng chẳng quen biết ai để giao phó việc tế nhị ấy. Đã gần cuối tháng bảy. Pa-ri vắng tanh. Các bà tìm mãi mà chẳng ra một cái tên nào đủ tin cậy.

Nỗi lúng túng của các bà càng tăng vì mấy hôm trước vừa xảy ra một vụ bê bối đồi phong bại tục trên một toa tàu. Và các bà tin chắc rằng tất cả những cô gái ăn chơi của thủ đô đều sống cả đời trên những chuyến tàu tốc hành giữa vùng Ô-véc-nhơ và ga Li-ông. Vả lại, theo ông Bri-đoa, mục tin vặt của báo Gil Blas có nói tới chuyện ở Vi-si, ở Mông-Đo, ở La Buốc-bun có mặt tất cả các cô ả nổi tiếng lẫn không nổi tiếng. Muốn tới đó, hẳn họ phải đi tàu. Và chắc chắn họ lại về bằng tàu. Thậm chí hẳn họ còn đi đi về về liên tục để ngày nào cũng có mặt. Vậy là trên cái tuyến đường đáng nguyền rủa ấy, những kẻ không đứng đắn đi lại không ngớt. Các bà rầu rĩ vì người ta không cấm những người đàn bà khả nghi bước vào nhà ga.

Thế mà Rô-giê đơ Xác-ca-nhơ mười lăm tuổi, Gông-trăng đơ Vô-la-xen mười ba tuổi, còn Rô-lăng đơ Bri-đoa mười một tuổi. Làm sao bây giờ? Các bà đâu thể để những đứa con cưng của mình tiếp xúc với những hạng người như thế. Chúng sẽ nghe gì, sẽ thấy gì, sẽ học được gì, nếu chúng phải ở cả ngày, hay cả đêm, trong một khoang tàu có thể nhốt chung một hai ả lẳng lơ với một hai tay bạn đồng hành của họ?

Tình thế tưởng như bế tắc thì bà Mác-tanh-xéc đi qua. Bà dừng lại chào các bạn, và họ kể cho bà nghe nỗi lo của mình.

"Nhưng dễ thôi mà," bà kêu lên, "tôi cho các bà mượn cha giáo nhà tôi. Tôi hoàn toàn có thể không cần ông ấy trong bốn mươi tám tiếng. Việc học của thằng Rô-đôn-phơ chẳng hỏng vì chút ấy đâu. Ông ấy sẽ đi đón các cậu và đưa về cho các bà."

Vậy là người ta thỏa thuận rằng cha Lơ-quy, một linh mục trẻ rất có học, thầy dạy tư của cậu Rô-đôn-phơ đơ Mác-tanh-xéc, sẽ lên Pa-ri vào tuần sau để đón ba cậu thiếu niên.

Thế là cha lên đường hôm thứ sáu. Và sáng chủ nhật cha đã có mặt ở ga Li-ông để cùng ba cậu nhóc đi chuyến tàu tốc hành tám giờ, chuyến tốc hành thẳng mới được mở có mấy ngày nay theo đòi hỏi chung của tất cả khách nghỉ mát ở Ô-véc-nhơ.

Cha đi đi lại lại trên sân ga, đám học trò theo sau như đàn gà con theo gà mẹ, và cha tìm một khoang trống hoặc một khoang có những người trông đáng kính, vì đầu óc cha bị ám ảnh bởi tất cả những lời căn dặn tỉ mỉ của các bà Xác-ca-nhơ, Vô-la-xen và Bri-đoa.

Bỗng cha thấy trước một cửa toa có một ông già và một bà già tóc bạc đang nói chuyện với một thiếu phụ đã ngồi trong toa. Ông già đeo huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh hạng sĩ quan, và mấy người ấy có vẻ hết sức đàng hoàng. "Đúng chỗ của mình rồi," cha nghĩ. Cha cho ba cậu học trò lên rồi theo sau.

Bà già đang nói:

"Con nhớ giữ gìn sức khỏe nhé, con."

Người thiếu phụ đáp:

"Ôi, vâng, mẹ ơi, mẹ đừng lo gì."

"Hễ thấy trong người khó chịu là gọi bác sĩ ngay nhé."

"Vâng, vâng, mẹ ạ."

"Thôi, chào con gái."

"Chào mẹ."

Họ ôm nhau rất lâu, rồi một nhân viên đóng cửa toa và đoàn tàu chuyển bánh.

Chỉ có họ trong khoang. Cha xứ thích chí, tự khen mình khéo léo, rồi bắt đầu trò chuyện với mấy cậu thiếu niên được giao cho mình. Hôm cha lên đường, người ta đã thỏa thuận rằng bà Mác-tanh-xéc cho phép cha dạy kèm ba cậu suốt kỳ nghỉ, và cha muốn thăm dò đôi chút trí thông minh và tính nết của những học trò mới.

Rô-giê đơ Xác-ca-nhơ, cậu lớn nhất, là một trong những cậu học sinh cao lêu nghêu lớn quá nhanh, gầy gò và xanh xao, mà các khớp xương như chưa liền hẳn. Cậu nói chậm rãi, ngây ngô.

Gông-trăng đơ Vô-la-xen thì ngược lại, vẫn bé tí, chắc nịch, ranh mãnh, lấm lét, xấu tính mà buồn cười. Cậu lúc nào cũng chế giễu mọi người, có những câu nói của người lớn, những câu đối đáp hai nghĩa làm bố mẹ cậu lo lắng.

Cậu nhỏ nhất, Rô-lăng đơ Bri-đoa, có vẻ chẳng có năng khiếu gì. Đó là một chú bé ngốc nghếch hiền lành, rồi sẽ giống hệt bố.

Cha xứ đã báo trước với chúng rằng suốt hai tháng hè chúng sẽ phải nghe lệnh cha, và cha giảng cho chúng một bài thấm thía về bổn phận của chúng với cha, về cách cha định cai quản chúng, về phương pháp cha sẽ áp dụng với chúng.

Đó là một vị linh mục có tâm hồn ngay thẳng và giản dị, hơi thích nói văn hoa và đầy những phương pháp.

Bài giảng của cha bị ngắt ngang bởi một tiếng thở dài thườn thượt của người thiếu phụ ngồi cạnh. Cha quay đầu nhìn bà. Bà vẫn ngồi trong góc, mắt nhìn đăm đăm, má hơi tái. Cha lại quay về với các môn đồ.

Con tàu lao vun vút, băng qua những cánh đồng, những cánh rừng, chui dưới những cây cầu và chạy trên những cây cầu, làm cả chuỗi hành khách bị nhốt trong các toa lắc lư theo nhịp rung của nó.

Giờ thì Gông-trăng đơ Vô-la-xen đang hỏi cha Lơ-quy về Roa-y-a, về các trò vui trong vùng. Có sông không? Có câu cá được không? Cậu có được một con ngựa như năm ngoái không? Vân vân.

Bỗng người thiếu phụ bật lên một tiếng như tiếng kêu, một tiếng "á" đau đớn bị nén lại ngay.

Cha xứ lo lắng hỏi bà:

"Bà thấy trong người khó ở à, thưa bà?"

Bà đáp:

"Không, không, thưa cha, không có gì đâu, chỉ hơi đau một chút, không có gì đâu. Dạo này tôi hơi yếu, mà tàu lắc làm tôi mệt."

Quả thật mặt bà đã tái nhợt.

Cha vẫn nài:

"Nếu tôi giúp được gì cho bà, thưa bà?..."

"Ồ không, không có gì cả, thưa cha. Cảm ơn cha."

Vị linh mục lại tiếp tục trò chuyện với học trò, chuẩn bị cho chúng làm quen với cách dạy và cách quản của mình.

Giờ này qua giờ khác. Đoàn tàu thỉnh thoảng dừng lại, rồi lại đi. Người thiếu phụ giờ có vẻ đang ngủ, bà không cựa quậy nữa, thu mình trong góc. Dù ngày đã trôi qua quá nửa, bà vẫn chưa ăn gì. Cha nghĩ: "Người này hẳn đang ốm nặng lắm."

Chỉ còn hai tiếng đường nữa là tới Cơ-lec-mông Phe-răng thì người nữ hành khách bỗng rên lên. Bà gần như đổ người khỏi ghế, chống hai tay xuống, mắt dại đi, nét mặt co rúm, nhắc đi nhắc lại: "Ôi, lạy Chúa! Ôi, lạy Chúa!"

Cha xứ lao tới:

"Bà ơi... bà ơi... bà sao thế?"

Bà lắp bắp:

"Tôi... tôi... tôi nghĩ là... là... là tôi sắp sinh rồi."

Và lập tức bà bắt đầu kêu la một cách khủng khiếp. Bà thét lên một tiếng dài hoảng loạn như xé toạc cổ họng, một tiếng thét chói lói, ghê rợn, mà âm điệu thê thảm nói lên nỗi lo âu của tâm hồn và cực hình của thể xác.

Vị linh mục tội nghiệp cuống quýt, đứng trước mặt bà, không biết làm gì, nói gì, thử gì, cứ lẩm bẩm: "Lạy Chúa, giá mà con biết... Lạy Chúa, giá mà con biết!" Mặt cha đỏ tới tận lòng trắng mắt. Còn ba cậu học trò thì sững sờ nhìn người đàn bà nằm đó kêu la.

Bỗng bà quằn quại, giơ hai tay lên quá đầu, và thân mình bà giật lên một cái kỳ lạ, một cơn co thắt chạy khắp người.

Cha tưởng bà sắp chết, chết ngay trước mặt mình, không ai cứu giúp, không ai chăm sóc, mà lỗi là ở cha. Thế là cha nói bằng một giọng cương quyết:

"Tôi sẽ giúp bà, thưa bà. Tôi không biết... nhưng tôi sẽ giúp bà hết sức mình. Tôi phải cứu giúp mọi sinh linh đang đau đớn."

Rồi quay sang ba cậu nhóc, cha quát:

"Các con, các con thò đầu ra ngoài cửa sổ. Và đứa nào quay lại sẽ phải chép phạt một nghìn câu thơ của Viếc-gin cho thầy."

Cha tự tay hạ ba tấm kính xuống, đặt ba cái đầu vào đó, kéo những tấm rèm xanh sát cổ chúng, và nhắc lại:

"Đứa nào chỉ cần nhúc nhích thôi là bị cấm đi chơi suốt kỳ nghỉ. Và đừng quên là thầy thì không bao giờ tha thứ đâu."

Rồi cha quay về phía người thiếu phụ, vừa đi vừa xắn tay áo chùng.

Bà vẫn rên rỉ, thỉnh thoảng lại gào lên. Cha xứ, mặt đỏ tía, đỡ đần bà, khích lệ bà, an ủi bà, và chốc chốc lại ngước mắt nhìn ba cậu nhóc đang len lén liếc về phía cái công việc bí ẩn mà ông thầy mới của chúng đang làm, rồi vội quay đi.

"Cậu Vô-la-xen, cậu sẽ chép phạt hai mươi lần động từ 'không vâng lời'!" cha quát.

"Cậu Bri-đoa, cậu sẽ bị cấm ăn tráng miệng một tháng."

Bỗng người thiếu phụ ngừng tiếng rên dai dẳng, và gần như ngay sau đó, một tiếng kêu kỳ lạ và khe khẽ, nghe vừa như tiếng sủa vừa như tiếng meo, làm cả ba cậu học trò quay phắt lại cùng một lúc, đinh ninh là vừa nghe thấy một con chó con mới đẻ.

Cha xứ đang cầm trong tay một đứa bé đỏ hỏn. Cha nhìn nó bằng đôi mắt hoảng hốt. Trông cha vừa mừng vừa rối, sắp cười mà cũng sắp khóc. Người ta có thể tưởng cha điên, vì gương mặt cha biểu lộ bao nhiêu điều qua cái thay đổi chớp nhoáng của mắt, của môi, của má.

Cha tuyên bố, như thể báo cho học trò một tin trọng đại:

"Một bé trai."

Rồi lập tức cha nói tiếp:

"Cậu Xác-ca-nhơ, đưa thầy chai nước ở trên giá. Tốt. Mở nút ra. Rất tốt. Rót cho thầy vài giọt vào lòng bàn tay, chỉ vài giọt thôi. Hoàn hảo."

Và cha rưới chỗ nước ấy lên vầng trán trần của sinh linh bé nhỏ trên tay, vừa đọc:

"Ta rửa con, nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần. A-men."

Đoàn tàu vào ga Cơ-lec-mông. Gương mặt bà Bri-đoa hiện ra ở cửa toa. Thế là cha xứ, mất hết bình tĩnh, chìa cho bà cái sinh linh mỏng manh mà cha vừa đón được, vừa lẩm bẩm: "Bà đây vừa gặp một tai nạn nho nhỏ dọc đường ấy mà."

Trông cha như vừa nhặt đứa bé ấy dưới cống lên. Và tóc ướt đẫm mồ hôi, cổ áo lệch lên vai, áo chùng lem nhem, cha cứ nhắc đi nhắc lại: "Chúng không thấy gì đâu, không thấy gì hết, tôi xin cam đoan. Cả ba đứa đều nhìn ra ngoài cửa sổ. Tôi xin cam đoan, chúng không thấy gì đâu."

Và cha bước xuống khỏi khoang tàu với bốn cậu con trai thay vì ba cậu mà cha đi đón, trong khi các bà Bri-đoa, Vô-la-xen và Xác-ca-nhơ, mặt tái mét, nhìn nhau hoảng hốt, chẳng tìm ra lấy một lời để nói.

Tối hôm ấy, ba gia đình cùng ăn tối với nhau để mừng các cậu học sinh về. Nhưng chẳng ai nói năng gì mấy. Các ông bố, các bà mẹ, và cả bọn trẻ, đều có vẻ bận tâm.

Bỗng cậu nhỏ nhất, Rô-lăng đơ Bri-đoa, hỏi:

"Mẹ ơi, thầy tìm thấy em bé ấy ở đâu thế?"

Bà mẹ không trả lời thẳng.

"Thôi, ăn đi, đừng hỏi lắm thế."

Cậu im lặng vài phút, rồi lại hỏi:

"Chẳng có ai ngoài cái bà đau bụng ấy cả. Thế thì thầy là nhà ảo thuật rồi, giống ông Rô-be U-đanh làm hiện ra cả bể cá dưới tấm thảm ấy."

"Im đi nào. Chúa gửi em bé tới đấy."

"Nhưng Chúa để em bé ở đâu? Con có thấy gì đâu. Em bé chui vào qua cửa sổ à, mẹ?"

Bà Bri-đoa sốt ruột đáp:

"Thôi nào, đủ rồi, im đi. Em bé ra đời dưới một cây bắp cải, như tất cả các em bé khác. Con biết thừa rồi còn gì."

"Nhưng trên tàu đâu có cây bắp cải nào?"

Lúc ấy Gông-trăng đơ Vô-la-xen, đang nghe với vẻ ranh mãnh, mỉm cười nói:

"Có đấy, có một cây bắp cải. Nhưng chỉ có thầy là thấy nó thôi."

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGuy de Maupassant (1850 – 1893)
Năm mất1893
Xuất bản lần đầu1885
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: En wagon, in trên báo Gil Blas năm 1885, tập Monsieur Parent, Ollendorff 1886
Giọng đọcBảo Thiện — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →