Chương 1: Lời nguyền của con hươu đen
Cha mẹ Giu-li-ên ở trong một toà lâu đài giữa rừng, trên sườn một ngọn đồi.
Bốn ngọn tháp ở bốn góc có mái nhọn lợp vảy chì, chân tường tựa trên những tảng đá lớn đổ dốc xuống tận đáy hào.
Nền sân lát đá sạch như nền nhà thờ. Những máng xối dài làm hình rồng chúc mõm xuống phun nước mưa vào bể chứa. Trên bậu cửa sổ khắp các tầng, trong những chậu đất nung sơn màu, một khóm húng hay một khóm vòi voi đang nở hoa.
Vòng tường rào thứ hai làm bằng cọc gỗ, bên trong trước hết là một vườn cây ăn quả, rồi một vườn hoa mà hoa được sắp thành những con chữ, rồi một giàn nho có những vòm lá để ngồi hóng mát, và một sân chơi vồ cho các cậu thị đồng giải trí. Phía bên kia là chuồng chó, chuồng ngựa, lò bánh, chỗ ép nho và các kho thóc. Một bãi cỏ xanh trải ra khắp xung quanh, chính nó lại được rào kín bằng một hàng giậu gai dày.
Người ta sống yên ổn đã lâu tới mức cánh cửa song sắt không bao giờ hạ xuống nữa. Hào đầy cỏ. Chim én làm tổ trong kẽ nứt của những lỗ châu mai. Còn người lính bắn cung suốt ngày đi lại trên mặt thành, hễ nắng gắt quá là chui vào chòi canh ngủ khì như một thầy tu.
Bên trong, đồ sắt sáng loáng khắp nơi. Thảm treo trong các phòng để chống lạnh. Tủ đầy ắp khăn vải, rượu vang xếp chồng từng thùng trong hầm, những chiếc rương gỗ sồi kêu răng rắc dưới sức nặng của những túi bạc.
Trong phòng binh khí, giữa những lá cờ và những đầu thú dữ, người ta thấy vũ khí của mọi thời đại, mọi dân tộc, từ những chiếc ná của người A-ma-léc, những ngọn lao của người Ga-ra-măng, tới những thanh mã tấu của người Xa-ra-xanh và những tấm áo giáp lưới của người Noóc-măng.
Cái xiên quay chính trong bếp có thể quay nguyên một con bò. Nhà nguyện lộng lẫy như phòng cầu nguyện của một ông vua. Ở một góc khuất còn có cả một phòng tắm hơi kiểu La Mã, nhưng ông lãnh chúa hiền lành không dùng tới, vì cho đó là thói tục của bọn thờ ngẫu tượng.
Lúc nào cũng khoác tấm áo lông cáo, ông đi dạo quanh nhà, xử kiện cho các chư hầu, giải hoà những cuộc cãi vã của láng giềng. Mùa đông, ông ngắm những bông tuyết rơi, hoặc sai người đọc truyện cho nghe. Những ngày đẹp trời đầu tiên vừa tới, ông cưỡi con la đi dọc những con đường nhỏ bên những ruộng lúa mì đang xanh, trò chuyện với dân quê và khuyên bảo họ. Sau nhiều chuyến phiêu lưu, ông đã cưới một tiểu thư dòng dõi cao quý.
Bà rất trắng, hơi kiêu kỳ và nghiêm trang. Hai sừng chiếc mũ chóp cao của bà chạm tới thanh ngang khung cửa. Đuôi chiếc áo dạ dài lê sau lưng bà ba bước. Việc nhà của bà ngăn nắp như trong một tu viện. Sáng nào bà cũng chia việc cho các chị hầu, trông nom mứt quả và thuốc mỡ, quay sợi hay thêu khăn bàn thờ. Nhờ cầu Chúa mãi, bà sinh được một con trai.
Thế là người ta mở hội lớn, một bữa tiệc kéo dài ba ngày bốn đêm, dưới ánh đuốc sáng rực, giữa tiếng đàn hạc, trên nền nhà rải đầy lá. Người ta ăn những thứ gia vị hiếm nhất, những con gà to bằng con cừu. Để mua vui, một chú lùn chui ra từ một chiếc bánh nướng. Và vì bát không còn đủ, khách mỗi lúc một đông, người ta phải uống rượu bằng tù và ngà voi và bằng mũ sắt.
Người mẹ mới sinh không dự những cuộc vui ấy. Bà nằm yên trên giường. Một tối, bà thức dậy và thấy, dưới một tia trăng lọt qua cửa sổ, như có một cái bóng đang cử động. Đó là một ông già mặc áo dòng vải thô, chuỗi tràng hạt đeo bên hông, túi khất thực trên vai, dáng dấp hệt một ẩn sĩ. Ông lại gần đầu giường và nói với bà mà môi không hề mấp máy:
— Hãy vui lên, hỡi người mẹ! Con trai bà sẽ là một vị thánh!
Bà định kêu lên, nhưng ông đã trượt theo những tia trăng, nhẹ nhàng bay lên không trung rồi biến mất. Tiếng hát của bữa tiệc vang lên to hơn. Bà nghe thấy tiếng các thiên thần. Rồi đầu bà ngả xuống gối, phía trên có một mẩu xương thánh tử đạo trong khung nạm ngọc đỏ.
Hôm sau, tất cả người hầu được hỏi đều bảo không hề thấy ẩn sĩ nào. Mơ hay thực, đó hẳn là một lời báo của trời. Nhưng bà cẩn thận không nói với ai, vì sợ người ta cho bà là kiêu ngạo.
Khách khứa ra về lúc tảng sáng. Cha của Giu-li-ên đang đứng ngoài cửa ngách, vừa tiễn người khách cuối cùng, thì bỗng một người ăn mày hiện ra trước mặt ông trong sương mù. Đó là một người Bô-hê-miêng râu tết thành bím, hai tay đeo vòng bạc, con ngươi rực lửa. Ông ta lắp bắp, vẻ như được thần nhập, những lời rời rạc:
— A! A! Con trai ông!... Nhiều máu lắm!... Nhiều vinh quang lắm!... Mãi mãi sung sướng! Gia đình một vị hoàng đế.
Rồi cúi xuống nhặt đồng tiền bố thí, ông ta lẩn vào đám cỏ và biến mất.
Ông lãnh chúa hiền lành nhìn phải nhìn trái, gọi khản cả cổ. Không có ai! Gió rít, sương sớm bay tan.
Ông cho rằng ảo ảnh ấy là do đầu óc mệt mỏi vì ngủ quá ít.
Ông tự nhủ: "Nếu mình kể ra, người ta sẽ cười mình mất."
Thế nhưng những vinh hoa dành cho con trai cứ làm ông loá mắt, dù lời hứa chẳng rõ ràng, và ông còn ngờ cả việc mình đã nghe thấy nó.
Hai vợ chồng giấu nhau bí mật của mình. Nhưng cả hai cùng thương yêu đứa con một tình yêu như nhau. Và tôn trọng nó như người được Chúa đóng dấu, họ chăm chút nó vô cùng. Chiếc giường nhỏ của nó độn thứ lông tơ mịn nhất. Một ngọn đèn hình chim bồ câu cháy suốt ngày đêm phía trên. Ba bà vú thay nhau ru nó. Quấn chặt trong tã, má hồng mắt xanh, khoác chiếc áo gấm, đội chiếc mũ trẻ con đính đầy ngọc trai, trông nó giống hệt một Chúa Giê-su nhỏ. Nó mọc răng mà chẳng khóc một lần nào.
Năm lên bảy, mẹ dạy nó hát. Để nó thành người can đảm, cha đặt nó lên lưng một con ngựa to. Đứa bé cười khoái chí, và chẳng mấy chốc đã biết hết mọi điều về ngựa chiến.
Một thầy tu già rất uyên bác dạy nó Kinh Thánh, cách đếm số của người A-rập, chữ La-tinh, và cách vẽ những bức tranh xinh xắn trên giấy da. Hai thầy trò làm việc trên chót một ngọn tháp nhỏ, xa hẳn tiếng ồn.
Học xong, họ xuống vườn, vừa thong thả dạo bước vừa nghiên cứu các loài hoa.
Đôi khi người ta thấy dưới đáy thung lũng một đoàn súc vật thồ hàng do một người đi bộ ăn mặc kiểu phương Đông dắt đi. Ông lãnh chúa nhận ra đó là một nhà buôn, liền sai một người hầu xuống đón. Người lạ yên tâm, rẽ khỏi con đường của mình. Được mời vào phòng khách, ông ta lấy trong hòm ra những xấp nhung, lụa, đồ vàng bạc, hương liệu, những vật lạ lùng chẳng biết dùng làm gì. Cuối cùng người đàn ông ra về với món lãi to, mà chẳng phải chịu chút bạo lực nào. Những lần khác, một đoàn người hành hương gõ cửa. Áo quần ướt của họ bốc hơi nghi ngút trước lò sưởi. Ăn uống no nê xong, họ kể về những chuyến đi của mình: những con thuyền lạc lối trên biển sủi bọt, những chặng đường đi bộ trên cát bỏng, sự hung tợn của những kẻ ngoại đạo, những hang động xứ Xi-ri, Hang đá Bê-lem và Mộ Thánh. Rồi họ tặng cậu chủ nhỏ những vỏ sò gắn trên áo choàng của họ.
Ông lãnh chúa hay thết đãi những bạn chiến đấu cũ. Vừa uống, họ vừa nhớ lại những cuộc chiến, những trận công thành với tiếng máy công thành nện thình thịch, và những vết thương kinh khủng. Giu-li-ên nghe mà reo lên. Bấy giờ cha cậu tin chắc sau này cậu sẽ là một nhà chinh phục. Nhưng buổi tối, khi tan kinh Truyền Tin, cậu đi giữa hai hàng người nghèo đang cúi mình, lấy tiền trong túi ra cho với vẻ khiêm nhường và cao quý đến nỗi mẹ cậu tin chắc rồi đây sẽ thấy cậu làm tổng giám mục.
Chỗ của cậu trong nhà nguyện là bên cạnh cha mẹ. Và dù lễ dài tới đâu, cậu vẫn quỳ trên ghế quỳ, mũ đặt dưới đất, hai tay chắp lại.
Một hôm, trong lúc dự lễ, ngẩng đầu lên, cậu thấy một con chuột bạch nhỏ chui ra từ một cái lỗ trên tường. Nó lon ton trên bậc thứ nhất của bàn thờ, chạy qua chạy lại hai ba vòng rồi trốn đi về phía cũ. Chủ nhật sau, cái ý nghĩ có thể sẽ lại thấy nó làm cậu bứt rứt. Nó lại tới. Và chủ nhật nào cậu cũng chờ nó, thấy nó phiền, rồi đâm ra ghét nó, và quyết diệt nó đi.
Thế là cậu đóng cửa, rắc vụn bánh lên các bậc, rồi đứng rình trước cái lỗ, tay cầm một cây que.
Rất lâu sau, một cái mõm hồng ló ra, rồi cả con chuột. Cậu đánh một cái thật nhẹ, rồi đứng sững trước cái thân bé nhỏ không còn nhúc nhích. Một giọt máu loang trên nền đá. Cậu vội lấy tay áo lau đi, ném con chuột ra ngoài, và không nói với ai.
Đủ thứ chim nhỏ tới mổ hạt trong vườn. Cậu nghĩ ra cách bỏ hạt đậu vào một ống sậy rỗng. Hễ nghe tiếng ríu rít trên cây, cậu khẽ khàng lại gần, giơ ống lên, phồng má thổi. Và lũ chim nhỏ rơi xuống vai cậu nhiều tới mức cậu không nhịn được cười, khoái chí vì trò tinh quái của mình.
Một buổi sáng, đang đi về theo mặt thành, cậu thấy trên đỉnh tường một con bồ câu béo đang ưỡn ngực phơi nắng. Giu-li-ên dừng lại nhìn nó. Chỗ ấy tường có một lỗ hổng, một mảnh đá lọt vào tay cậu. Cậu vung tay, hòn đá hạ con chim, nó rơi đánh bịch xuống một con hào.
Cậu lao xuống đáy hào, bị bụi gai cào xước, sục sạo khắp nơi, nhanh nhẹn hơn một con chó con.
Con bồ câu gãy cánh đang giãy giụa, mắc trên cành một bụi thuỷ lạp.
Sự dai dẳng của sự sống trong nó làm đứa trẻ tức giận. Cậu bắt đầu bóp cổ nó. Và những cơn co giật của con chim làm tim cậu đập rộn, khiến cậu tràn ngập một khoái cảm hoang dại, cuồng loạn. Đến lúc nó cứng đờ lần cuối, cậu thấy mình như muốn ngất đi.
Tối ấy, trong bữa ăn, cha cậu tuyên bố rằng ở tuổi cậu phải học nghề săn. Ông đi tìm một cuốn vở cũ, trong đó, theo lối hỏi đáp, có đủ mọi phép tắc săn bắn. Một ông thầy giảng cho học trò nghệ thuật huấn luyện chó và tập chim ưng, cách đặt bẫy, cách nhận ra con hươu qua phân của nó, con cáo qua dấu chân, con sói qua vết cào đất, cách hay nhất để phân biệt lối đi của chúng, cách lùa chúng ra, nơi chúng thường ẩn náu, những ngọn gió nào thuận lợi nhất, kèm theo danh sách các tiếng hô và luật lệ chia thịt cho chó.
Khi Giu-li-ên đã đọc thuộc lòng được tất cả những điều ấy, cha cậu lập cho cậu một đàn chó săn.
Trước hết có hai mươi bốn con chó săn thỏ xứ Bác-ba-ri, nhanh hơn linh dương nhưng hay hăng quá đà. Rồi mười bảy cặp chó xứ Brơ-ta-nhơ, lông đỏ lốm đốm trắng, bám dấu không bao giờ lạc, ngực khoẻ và sủa rất to. Để đánh lợn rừng và những cuộc truy đuổi nguy hiểm, có bốn mươi con chó lông xù như gấu. Những con chó ngao xứ Tác-ta, cao gần bằng con lừa, màu lửa, lưng rộng, khoeo thẳng, dành để đuổi bò rừng. Bộ lông đen của bầy chó xpa-nhơn óng như sa tanh. Tiếng sủa của những con chó săn tai dài nghe hay chẳng kém những con chó săn biết hát. Trong một khoảnh sân riêng, tám con chó ngao A-lanh gầm gừ, giật xích, đảo mắt, những con vật ghê gớm biết nhảy xổ vào bụng người cưỡi ngựa và chẳng sợ cả sư tử.
Tất cả đều ăn bánh mì lúa mì, uống nước trong máng đá, và mang những cái tên kêu vang.
Đàn chim săn có lẽ còn hơn cả đàn chó. Nhờ tiền của, ông lãnh chúa hiền lành đã kiếm được những con chim cắt đực xứ Cáp-ca-dơ, những con chim ưng xứ Ba-bi-lon, những con chim ưng lớn xứ Đức, và những con cắt lớn bắt được trên những vách đá bên bờ biển lạnh, ở những xứ sở xa xôi. Chúng ở trong một nhà kho lợp rạ, buộc theo thứ tự lớn nhỏ trên cầu đậu, trước mặt có một tảng cỏ, thỉnh thoảng người ta đặt chúng lên đó cho chúng giãn gân cốt.
Người ta làm đủ thứ túi lưới, lưỡi câu, chông sắt, đủ thứ bẫy rập.
Thường thường người ta dắt ra đồng những con chó săn chim, chúng đứng sững ngay khi đánh hơi thấy mồi. Bấy giờ những người hầu săn bước từng bước, thận trọng giăng một tấm lưới khổng lồ lên trên những thân mình bất động của chúng. Một tiếng hô khiến chúng sủa vang. Những con chim cun cút bay lên. Và các bà các cô quanh vùng được mời tới cùng chồng con, các cô hầu phòng, mọi người lao vào và bắt chúng dễ dàng.
Những lần khác, để lùa thỏ rừng ra, người ta đánh trống. Cáo rơi xuống hố, hoặc một cái lò xo bật ra kẹp chân một con sói.
Nhưng Giu-li-ên khinh những mưu mẹo dễ dàng ấy. Chàng thích đi săn xa vắng người, chỉ với con ngựa và con chim ưng của mình. Hầu như lúc nào cũng là một con chim ưng lớn xứ Xi-ti, trắng như tuyết. Chiếc mũ trùm bằng da của nó cắm một chùm lông, những chiếc nhạc vàng rung rinh ở đôi chân xanh. Nó đứng vững trên cánh tay chủ trong khi con ngựa phi nước đại và những cánh đồng trải ra. Giu-li-ên tháo dây buộc, bất thình lình thả nó ra. Con chim gan dạ vút thẳng lên trời như một mũi tên. Và người ta thấy hai chấm to nhỏ khác nhau lượn vòng, nhập vào nhau, rồi biến mất trên cao trong màu xanh thăm thẳm. Con chim ưng chẳng mấy chốc sà xuống, xé xác một con chim nào đó, rồi trở về đậu trên chiếc găng sắt, hai cánh còn run rẩy.
Giu-li-ên cứ thế mà săn diệc, săn diều hâu, quạ và kền kền.
Chàng thích vừa thổi tù và vừa chạy theo đàn chó đang băng trên sườn đồi, nhảy qua suối, leo lên phía rừng. Và khi con hươu bắt đầu rên rỉ dưới những vết cắn, chàng hạ nó thật nhanh, rồi thích thú nhìn cơn điên cuồng của những con chó ngao xâu xé nó, bị cắt ra từng mảnh trên tấm da còn bốc hơi.
Những ngày sương mù, chàng lặn lội vào đầm lầy để rình ngỗng trời, rái cá và vịt con.
Từ tảng sáng, ba người giám mã đã chờ chàng ở chân bậc thềm. Và ông thầy tu già cúi người bên cửa sổ nhỏ của mình, ra hiệu gọi chàng lại cũng vô ích, Giu-li-ên chẳng hề quay đầu. Chàng đi dưới nắng gắt, dưới mưa, giữa bão, uống nước suối bằng lòng bàn tay, vừa phóng ngựa vừa ăn táo dại, mệt thì nghỉ dưới một gốc sồi. Và nửa đêm chàng mới về, người đầy máu và bùn, gai mắc trên tóc, sặc mùi thú hoang. Chàng trở nên giống chúng. Khi mẹ ôm hôn, chàng lạnh lùng nhận lấy vòng tay bà, vẻ như đang mơ tưởng những điều sâu xa.
Chàng giết gấu bằng dao, giết bò mộng bằng rìu, giết lợn rừng bằng giáo. Có lần, chỉ còn một cây gậy trong tay, chàng đã chống chọi với một bầy sói đang gặm xác người dưới chân giá treo cổ.
Một buổi sáng mùa đông, chàng lên đường trước khi trời sáng, trang bị đầy đủ, nỏ trên vai và một bó tên buộc ở yên ngựa.
Con ngựa Đan Mạch của chàng, theo sau là hai con chó chân ngắn, bước đều đều làm mặt đất vang lên. Những giọt băng dính trên áo choàng chàng, một cơn gió dữ thổi tới. Một góc chân trời sáng ra. Trong ánh trắng của rạng đông, chàng thấy những con thỏ đang nhảy nhót bên miệng hang. Hai con chó lập tức lao tới, nhanh nhẹn bẻ gãy sống lưng chúng, con này con kia.
Chẳng bao lâu chàng vào một khu rừng. Ở đầu một cành cây, một con gà gô rừng bị cái lạnh làm tê cóng đang ngủ, đầu rúc dưới cánh. Giu-li-ên vung kiếm một nhát, chặt đứt hai chân nó, rồi chẳng thèm nhặt, đi tiếp.
Ba giờ sau, chàng tới đỉnh một ngọn núi cao tới mức bầu trời gần như đen lại. Trước mặt chàng, một tảng đá dài như bức tường thoải xuống, chìa ra trên một vực thẳm. Ở mút đầu, hai con dê rừng đang nhìn xuống vực. Vì tên để cả trên yên ngựa, mà con ngựa đã ở lại phía sau, chàng nghĩ cách trèo xuống tới chỗ chúng. Nửa khom lưng, chân trần, cuối cùng chàng tới được con thứ nhất và đâm một nhát dao găm dưới xương sườn nó. Con thứ hai kinh hãi nhảy xuống khoảng không. Giu-li-ên lao theo định đâm, trượt chân phải, ngã đè lên xác con kia, mặt chúc xuống vực thẳm, hai tay dang rộng.
Xuống tới đồng bằng, chàng đi men theo những hàng liễu ven sông. Những con sếu bay rất thấp, thỉnh thoảng lại lướt qua đầu chàng. Giu-li-ên lấy roi quật chết chúng, không trượt con nào.
Trong khi đó không khí ấm hơn đã làm tan sương giá, những làn hơi lớn bồng bềnh, và mặt trời ló ra. Chàng thấy ở tít xa một mặt hồ đóng băng sáng loáng như chì. Giữa hồ có một con vật Giu-li-ên chưa từng biết, một con hải ly mõm đen. Dù xa thế, một mũi tên vẫn hạ được nó. Chàng tiếc vì không mang được bộ da về.
Rồi chàng đi vào một con đường rợp những cây cao, ngọn cây vòng lại như một cổng khải hoàn ở bìa một khu rừng. Một con hoẵng nhảy ra khỏi bụi rậm, một con nai hiện ra ở ngã ba, một con lửng chui ra khỏi hang, một con công xoè đuôi trên bãi cỏ. Và khi chàng đã giết hết chúng, lại có những con hoẵng khác, những con nai khác, những con lửng khác, những con công khác, rồi chim hét, chim giẻ cùi, chồn hôi, cáo, nhím, mèo rừng, vô số con thú, mỗi bước một đông thêm. Chúng vây quanh chàng, run rẩy, ánh mắt đầy dịu dàng và van xin. Nhưng Giu-li-ên giết mãi không biết mệt, lúc giương nỏ, lúc tuốt kiếm, lúc đâm dao, chẳng nghĩ gì, chẳng nhớ gì hết. Chàng đi săn ở một xứ nào đó, từ một thời gian nào đó, chỉ bởi vì chàng đang tồn tại, mọi việc diễn ra dễ dàng như người ta thấy trong mơ. Một cảnh tượng phi thường khiến chàng dừng lại. Hươu đầy kín một thung lũng có hình như đấu trường. Chúng đứng chen chúc sát nhau, sưởi ấm cho nhau bằng hơi thở bốc lên nghi ngút trong sương.
Niềm hy vọng về một cuộc tàn sát như thế làm chàng nghẹt thở vì sung sướng trong mấy phút. Rồi chàng xuống ngựa, xắn tay áo, bắt đầu bắn.
Nghe tiếng rít của mũi tên đầu tiên, tất cả lũ hươu cùng quay đầu lại. Đám đông của chúng bị khoét thành những chỗ lõm. Những tiếng kêu than vang lên, và cả đàn chuyển động hỗn loạn.
Bờ thung lũng cao quá, không vượt qua được. Chúng nhảy chồm trong vòng vây, tìm đường thoát. Giu-li-ên ngắm, bắn, những mũi tên rơi như những tia mưa giông. Những con hươu điên lên, húc nhau, chồm lên, trèo lên lưng nhau. Thân mình chúng cùng với những bộ gạc rối bện làm thành một gò lớn, sụp xuống rồi lại dịch đi.
Cuối cùng chúng chết, nằm trên cát, bọt rớt ở mũi, ruột gan lòi ra, những cái bụng phập phồng chậm dần. Rồi tất cả bất động.
Đêm sắp xuống. Sau khu rừng, giữa những khoảng trống của cành lá, bầu trời đỏ như một tấm khăn máu.
Giu-li-ên tựa lưng vào một gốc cây. Chàng há hốc nhìn cuộc tàn sát khổng lồ, không hiểu làm sao mình lại làm được như thế.
Ở bên kia thung lũng, bên bìa rừng, chàng thấy một con hươu đực, một con hươu cái và con của nó.
Con hươu đực đen tuyền, to lớn khác thường, mang mười sáu nhánh gạc và một chòm râu trắng. Con hươu cái màu vàng nhạt như lá khô đang gặm cỏ. Con hươu con lông đốm vừa đi theo vừa bú mẹ, chẳng làm mẹ ngừng bước.
Chiếc nỏ lại một lần nữa rít lên. Con hươu con chết ngay tức khắc. Bấy giờ hươu mẹ ngước nhìn trời, kêu lên bằng một giọng trầm, xé ruột, giống như giọng người. Giu-li-ên cáu tiết, bắn một phát giữa ngực, quật nó xuống đất.
Con hươu đực lớn đã thấy chàng, nhảy vọt lên. Giu-li-ên bắn mũi tên cuối cùng. Nó trúng giữa trán và cắm luôn ở đó.
Con hươu lớn như chẳng hề cảm thấy. Bước qua những xác chết, nó cứ tiến tới, sắp lao vào chàng, xé toạc bụng chàng. Giu-li-ên lùi lại trong một nỗi kinh hoàng không tả xiết. Con vật phi thường dừng lại. Mắt rực lửa, trang nghiêm như một vị tộc trưởng, như một vị quan toà, trong khi xa xa một tiếng chuông ngân lên, nó nhắc lại ba lần:
— Đồ bị nguyền rủa! Đồ bị nguyền rủa! Đồ bị nguyền rủa! Rồi một ngày kia, hỡi trái tim hung bạo, ngươi sẽ giết cha và mẹ ngươi!
Nó khuỵu gối, khẽ khép mi mắt lại, rồi chết.
Giu-li-ên sững sờ, rồi một cơn mệt mỏi đột ngột đè xuống. Một nỗi ghê tởm, một nỗi buồn mênh mông xâm chiếm chàng. Ôm trán trong hai tay, chàng khóc rất lâu.
Ngựa của chàng đã lạc. Đàn chó đã bỏ chàng. Sự cô độc bao quanh chàng dường như đầy rẫy những hiểm hoạ không rõ hình thù. Thế là, bị nỗi khiếp sợ thúc đẩy, chàng chạy băng qua đồng, chọn bừa một lối mòn, và gần như lập tức thấy mình đã ở trước cổng lâu đài.
Đêm ấy chàng không ngủ. Dưới ngọn đèn treo chập chờn, chàng vẫn thấy con hươu đen lớn. Lời tiên tri của nó ám ảnh chàng, chàng vùng vẫy chống lại nó.
— Không! Không! Không! Ta không thể giết cha mẹ!
Rồi chàng nghĩ:
— Nhưng nếu ta muốn thì sao?...
Và chàng sợ Quỷ dữ sẽ gieo vào lòng mình ý muốn ấy.
Suốt ba tháng, mẹ chàng lo âu cầu nguyện bên giường chàng, còn cha chàng rên rỉ đi lại không ngừng ngoài hành lang. Ông cho mời những thầy thuốc lừng danh nhất, họ kê vô số thuốc men. Họ bảo bệnh của Giu-li-ên là do một luồng gió độc, hay do một nỗi khao khát tình yêu. Nhưng hỏi gì chàng trai cũng chỉ lắc đầu.
Sức lực trở lại. Người ta dìu chàng đi dạo trong sân, ông thầy tu già và ông lãnh chúa hiền lành mỗi người đỡ một bên tay. Khi đã khỏi hẳn, chàng nhất định không đi săn nữa.
Muốn làm chàng vui, cha chàng tặng chàng một thanh kiếm lớn của người Xa-ra-xanh.
Nó treo trên đỉnh một cây cột, giữa một bộ khí giới. Muốn lấy phải bắc thang. Giu-li-ên trèo lên. Thanh kiếm nặng quá tuột khỏi tay chàng, rơi xuống sượt qua ông lãnh chúa hiền lành sát tới mức áo choàng của ông bị rách toạc. Giu-li-ên tưởng mình đã giết cha, và ngất đi.
Từ đó chàng sợ vũ khí. Nhìn thấy một lưỡi sắt trần là chàng tái mặt. Sự yếu đuối ấy làm cả nhà buồn phiền.
Cuối cùng ông thầy tu già, nhân danh Chúa, danh dự và tổ tiên, ra lệnh cho chàng tập luyện lại như một nhà quý tộc.
Ngày nào các giám mã cũng tập phóng lao. Giu-li-ên chẳng mấy chốc giỏi nhất. Chàng phóng lao trúng cổ chai, bẻ gãy răng chong chóng gió, cách trăm bước trúng những chiếc đinh trên cửa.
Một buổi chiều hè, vào giờ sương mù làm mọi vật nhoè đi, đứng dưới giàn nho trong vườn, chàng thấy ở tít cuối vườn hai cái cánh trắng đang chấp chới ngang tầm giàn cây. Chàng chắc mẩm đó là một con cò, và phóng ngọn lao.
Một tiếng thét xé lòng vang lên.
Đó là mẹ chàng. Chiếc mũ của bà với hai dải dài còn bị ghim chặt vào tường.
Giu-li-ên bỏ trốn khỏi lâu đài và không bao giờ trở lại nữa.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn