Truyện Đỉnh

🏮 Truyện ma & truyền kỳ

Thung lũng Ngủ Yên và ông giáo làng

Truyền thuyết thung lũng Ngủ Yên · Chương 1/4 · của Washington Irving

⏱ 17 phút🎙️ Giọng Bảo Thiện📖 19.187 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Câu chuyện này được tìm thấy trong đống giấy…
  2. 1:41Vì cái vẻ yên nghỉ uể oải của nơi…
  3. 3:56Điều đáng chú ý là cái thiên hướng mơ…
  4. 6:01Trường học của anh là một ngôi nhà thấp…
  5. 8:23Để những việc ấy khỏi quá nặng gánh cho…
  6. 10:44Vì sống nửa du cư như thế, anh còn…
  7. 13:16Nhưng nếu tất cả những điều ấy là một…
  8. 15:21Ích-ca-bốt Cờ-rên có một trái tim mềm yếu và…

Chương 1: Thung lũng Ngủ Yên và ông giáo làng

Câu chuyện này được tìm thấy trong đống giấy tờ của ông Đít-rích Níc-cơ-bốc-cơ quá cố.

Trong lòng một trong những vịnh rộng khoét sâu vào bờ đông sông Hớt-xơn, chỗ dòng sông mở rộng mênh mông mà các nhà hàng hải Hà Lan xưa gọi là biển Táp-pan, nơi bao giờ họ cũng thận trọng hạ bớt buồm và cầu Thánh Ni-cô-la phù hộ mỗi khi đi ngang, có một thị trấn chợ nhỏ, hay một bến cảng quê, người thì gọi là Gờ-rin-xbơ, nhưng thông thường và đúng hơn thì được biết với cái tên Ta-ri Tao, nghĩa là Phố Nán Lại. Nghe nói cái tên này do các bà nội trợ tốt bụng trong vùng đặt ra ngày trước, vì các ông chồng của họ có cái tật khó chữa là cứ nán lại quanh quán rượu trong làng vào những ngày phiên chợ. Dù sao đi nữa, tôi không dám bảo đảm điều ấy, chỉ nhắc tới cho chính xác và xác thực mà thôi. Cách làng này không xa, có lẽ chừng hai dặm, có một thung lũng nhỏ, hay đúng hơn là một vạt đất trũng giữa những ngọn đồi cao, là một trong những nơi yên tĩnh nhất trên đời. Một con suối nhỏ trôi qua đó, róc rách vừa đủ để ru người ta ngủ, và tiếng huýt của con chim cút hay tiếng gõ của con chim gõ kiến thỉnh thoảng vang lên gần như là âm thanh duy nhất phá vỡ sự tĩnh lặng đều đều ấy.

Tôi còn nhớ hồi còn là một cậu bé, lần đầu tiên tôi đi bắn sóc là trong một khu rừng óc chó cao vút che bóng một bên thung lũng. Tôi lang thang vào đó lúc giữa trưa, khi cả thiên nhiên đặc biệt yên ắng, và giật mình vì tiếng nổ của chính khẩu súng mình phá tan sự tĩnh mịch như ngày Sa-bát xung quanh, bị những tiếng vọng giận dữ kéo dài và dội lại. Nếu có bao giờ tôi mong tìm một chốn ẩn cư để lẩn khỏi thế gian và những phiền nhiễu của nó, để lặng lẽ mơ màng nốt quãng đời còn lại đầy sóng gió, thì tôi chẳng biết nơi nào hứa hẹn hơn thung lũng nhỏ này.

Vì cái vẻ yên nghỉ uể oải của nơi này, và vì tính nết đặc biệt của dân cư ở đây, con cháu của những người khai hoang Hà Lan đầu tiên, mà cái thung lũng hẻo lánh ấy từ lâu đã mang tên Thung lũng Ngủ Yên, và những chàng trai quê ở đây được khắp vùng lân cận gọi là bọn trai Thung lũng Ngủ Yên. Một ảnh hưởng mơ màng, ngái ngủ dường như phủ lên vùng đất và thấm vào cả bầu không khí. Có người bảo nơi này đã bị một ông thầy thuốc người Đức bỏ bùa từ những ngày đầu khai hoang. Có người lại bảo một vị tù trưởng da đỏ già, nhà tiên tri hay thầy phù thuỷ của bộ lạc, đã làm lễ ở đây trước khi ông Hen-đơ-rích Hớt-xơn tìm ra vùng đất này. Chỉ chắc chắn một điều là nơi này vẫn còn chịu sự chi phối của một thứ sức mạnh mê hoặc nào đó, nó giữ một bùa phép trên tâm trí những con người tốt bụng ở đây, khiến họ đi lại như trong một cơn mơ màng triền miên. Họ tin đủ mọi chuyện kỳ lạ, hay lên đồng, hay thấy ảo ảnh, và thường thấy những cảnh lạ, nghe tiếng nhạc và tiếng người trong không trung. Cả vùng đầy những chuyện kể địa phương, những chốn ma ám, những mê tín lúc nhá nhem. Sao băng và thiên thạch bay ngang thung lũng thường xuyên hơn bất cứ nơi nào trong vùng, và bà ác mộng cùng cả đàn con chín đứa của bà dường như lấy nơi đây làm sân chơi ưa thích.

Thế nhưng linh hồn thống trị ám vùng đất bị bỏ bùa này, dường như là tổng chỉ huy của mọi thế lực trên không, lại là bóng ma của một kỵ sĩ không đầu. Có người bảo đó là hồn ma của một tên lính kỵ binh người Héc-xơ, bị một quả đạn đại bác bắn bay mất đầu trong một trận đánh vô danh nào đó thời Chiến tranh Cách mạng, và thỉnh thoảng dân quê lại thấy hắn phi vùn vụt trong bóng đêm như cưỡi trên cánh gió. Hắn không chỉ lui tới trong thung lũng, mà đôi khi còn ra cả những con đường lân cận, nhất là quanh một ngôi nhà thờ cách đó không xa. Thật ra, một vài sử gia đáng tin cậy nhất trong vùng, những người đã cẩn thận thu thập và đối chiếu những sự kiện trôi nổi về bóng ma này, quả quyết rằng xác của tên kỵ binh được chôn trong nghĩa địa nhà thờ, và hồn ma đêm đêm phi ngựa ra chiến trường để tìm cái đầu của mình. Còn cái tốc độ vùn vụt mà đôi khi hắn lướt qua thung lũng, như một cơn gió nửa đêm, là vì hắn đã muộn giờ và vội vã quay về nghĩa địa trước khi trời sáng.

Đại ý của mê tín truyền thuyết này là như thế. Nó đã cung cấp chất liệu cho biết bao câu chuyện hoang đường ở cái miền bóng tối ấy. Và bên mọi bếp lửa nhà quê, bóng ma ấy được biết đến với cái tên Kỵ sĩ không đầu của Thung lũng Ngủ Yên.

Điều đáng chú ý là cái thiên hướng mơ màng mà tôi đã nói không chỉ có ở dân sinh ra trong thung lũng, mà bất cứ ai sống ở đó một thời gian cũng vô tình nhiễm phải. Dù trước khi bước vào cái vùng ngái ngủ ấy họ có tỉnh táo đến đâu, chắc chắn chẳng bao lâu họ cũng hít phải cái ảnh hưởng mê hoặc của không khí ở đây, và bắt đầu trở nên giàu tưởng tượng, mơ những giấc mơ và thấy những bóng ma.

Tôi nhắc đến chốn yên bình này với tất cả lời ca ngợi có thể. Bởi chính trong những thung lũng nhỏ hẻo lánh của người Hà Lan, nằm rải rác đây đó trong lòng bang Niu Oóc rộng lớn, dân cư, phong tục và tập quán vẫn giữ nguyên không đổi, trong khi dòng thác lớn của di dân và cải tiến, đang không ngừng làm thay đổi những phần khác của đất nước náo động này, lướt qua bên cạnh mà chúng chẳng hay biết. Chúng giống như những vũng nước lặng nhỏ ven một dòng suối chảy xiết, nơi ta thấy cọng rơm và bọt nước yên ổn neo lại hoặc chậm rãi xoay tròn trong bến cảng tí hon của chúng, chẳng bị dòng nước xiết bên ngoài quấy rầy. Dù đã nhiều năm trôi qua từ khi tôi bước đi dưới những bóng cây ngái ngủ của Thung lũng Ngủ Yên, tôi vẫn ngờ rằng mình sẽ lại thấy đúng những hàng cây ấy, đúng những gia đình ấy đang sống lặng lẽ trong lòng thung lũng kín gió.

Ở chốn hẻo lánh của thiên nhiên ấy, vào một thời xa xưa của lịch sử nước Mỹ, nghĩa là cách đây chừng ba mươi năm, có một con người đáng kính tên là Ích-ca-bốt Cờ-rên, sống tạm, hay như chính anh nói là “nán lại”, ở Thung lũng Ngủ Yên để dạy học cho con trẻ quanh vùng. Anh là người bang Cô-nét-ti-cút, cái bang cung cấp cho cả Liên bang những người khai phá cả về trí tuệ lẫn rừng rậm, và năm nào cũng gửi đi cả đoàn quân tiều phu biên giới và thầy giáo làng. Cái họ Cờ-rên, nghĩa là con sếu, đặt cho con người anh thật chẳng sai chút nào. Anh cao, nhưng gầy nhẳng, vai hẹp, tay chân dài ngoẵng, hai bàn tay thò ra khỏi ống tay áo cả dặm, hai bàn chân có thể dùng làm xẻng, và cả bộ khung người lỏng lẻo như chỉ ráp tạm vào nhau. Đầu anh nhỏ, đỉnh bẹt, với đôi tai to tướng, cặp mắt to xanh lục như thuỷ tinh, cái mũi dài nhọn hoắt, trông như cái chong chóng gió cắm trên cái cổ khẳng khiu để chỉ hướng gió thổi. Nhìn anh sải bước trên sườn đồi vào một ngày lộng gió, quần áo thùng thình bay phần phật quanh người, người ta có thể tưởng nhầm anh là thần Đói Kém đang giáng xuống trần gian, hay một con bù nhìn trốn khỏi ruộng ngô.

Trường học của anh là một ngôi nhà thấp chỉ có một phòng lớn, dựng sơ sài bằng gỗ súc, cửa sổ chỗ thì lắp kính, chỗ thì dán bằng những trang vở tập viết cũ. Những giờ không có người, nó được khoá hết sức khéo bằng một sợi dây mây xoắn vào tay nắm cửa và mấy cái cọc chống vào cánh cửa chớp. Vì thế tuy kẻ trộm có thể vào dễ dàng, nhưng muốn ra thì sẽ hơi lúng túng. Ý tưởng này rất có thể do người thợ xây, ông Giốt Van Hao-tơn, học được từ cái bí quyết của cái lờ bắt lươn. Ngôi trường nằm ở một chỗ khá vắng vẻ nhưng dễ chịu, ngay dưới chân một ngọn đồi có rừng, một con suối chảy sát bên, và một cây bạch dương đáng sợ mọc ở một đầu nhà. Từ đây, vào một ngày hè uể oải, người ta có thể nghe tiếng học trò rì rầm đọc bài như tiếng ong vo ve trong tổ, thỉnh thoảng bị ngắt quãng bởi giọng nói uy quyền của thầy giáo, khi thì đe doạ, khi thì ra lệnh, hoặc có khi là tiếng roi bạch dương rợn người khi thầy thúc một cậu học trò chậm chạp nào đó tiến lên trên con đường hoa của tri thức. Nói cho thật, anh là một người có lương tâm, và lúc nào cũng nhớ câu châm ngôn vàng: “Thương cho roi cho vọt.” Học trò của Ích-ca-bốt Cờ-rên chắc chắn chẳng đứa nào hư.

Tuy vậy, tôi không muốn người ta tưởng anh là một trong những bạo chúa tàn nhẫn ở trường học, thích thú với nỗi đau của thần dân mình. Trái lại, anh thực thi công lý một cách có phân biệt hơn là nghiêm khắc, nhấc gánh nặng khỏi lưng kẻ yếu mà đặt lên lưng kẻ mạnh. Một cậu bé ốm yếu, hơi thấy roi vung lên đã nhăn mặt, thì được bỏ qua với lòng khoan dung. Nhưng công lý được đền bù bằng cách phạt gấp đôi cho một cậu bé Hà Lan cứng đầu cứng cổ, vạt áo rộng thùng thình nào đó, đứa cứ hờn dỗi, phụng phịu, lì lợm và cau có dưới làn roi. Tất cả những điều ấy anh gọi là “làm bổn phận đối với cha mẹ chúng”. Và anh chẳng bao giờ phạt đứa nào mà không kèm theo lời cam đoan, an ủi biết bao cho cậu bé đang rát mông, rằng “nó sẽ nhớ điều này và cảm ơn thầy suốt đời”.

Hết giờ học, anh lại còn là bạn và bạn chơi của những cậu lớn. Vào những buổi chiều nghỉ, anh dẫn mấy cậu bé về nhà, những cậu tình cờ có chị gái xinh, hoặc có bà mẹ đảm đang nổi tiếng vì cái chạn đầy ắp. Thật ra anh cũng cần giữ quan hệ tốt với học trò. Thu nhập từ trường học ít ỏi, khó mà đủ cho anh bánh mì hằng ngày, vì anh là một tay ăn khoẻ khủng khiếp, tuy gầy nhẳng nhưng có cái sức giãn nở của một con trăn khổng lồ. Nhưng để đỡ đần việc sinh sống, theo tục lệ quê vùng ấy, anh được ăn ở luân phiên tại nhà những người nông dân có con anh dạy. Anh ở lần lượt mỗi nhà một tuần, cứ thế đi vòng quanh khắp vùng, toàn bộ của cải trên đời gói gọn trong một chiếc khăn tay vải bông.

Để những việc ấy khỏi quá nặng gánh cho túi tiền những người bảo trợ quê mùa của mình, những người hay coi tiền học là gánh nặng đau xót và thầy giáo là kẻ ăn không ngồi rồi, anh có nhiều cách để vừa có ích vừa được lòng. Thỉnh thoảng anh giúp nông dân những việc nhẹ trên trang trại, phụ phơi cỏ khô, sửa hàng rào, dắt ngựa đi uống nước, lùa bò từ bãi cỏ về, và bổ củi cho lò sưởi mùa đông. Anh cũng gác sang một bên tất cả vẻ oai vệ và quyền uy tuyệt đối mà anh dùng để ngự trị cái đế chế nhỏ bé của mình là trường học, và trở nên dịu dàng, khéo chiều lòng lạ thường. Anh được các bà mẹ quý vì hay cưng nựng con trẻ, nhất là những đứa nhỏ nhất. Và như con sư tử dũng mãnh trong chuyện cổ từng ôm con cừu non đầy độ lượng, anh có thể ngồi hàng giờ liền, một đứa bé trên đầu gối, chân thì đưa nôi.

Ngoài những nghề khác, anh còn là thầy dạy hát của cả vùng, và kiếm được kha khá những đồng si-linh sáng loáng nhờ dạy thanh niên hát thánh ca. Ngày chủ nhật, được đứng trước hàng ghế trên gác nhà thờ với một ban hát tuyển chọn, là niềm tự hào không nhỏ của anh, và trong thâm tâm, anh cho rằng mình hoàn toàn giành giải nhất trước cả ông mục sư. Chắc chắn là giọng anh vang xa át hẳn cả giáo đoàn. Và đến nay trong nhà thờ ấy vẫn còn nghe thấy những tiếng láy đặc biệt, vào một sáng chủ nhật lặng gió có khi nghe được cả nửa dặm, tận bên kia ao cối xay, mà người ta bảo là con cháu chính tông từ cái mũi của Ích-ca-bốt Cờ-rên. Thế là bằng đủ mọi xoay xở nho nhỏ, theo cái lối tài tình mà người ta thường gọi là “được chăng hay chớ”, ông thầy đáng kính sống cũng tạm ổn, và những ai chẳng hiểu gì về cái vất vả của lao động trí óc đều cho rằng anh sống một cuộc đời nhàn hạ lạ thường.

Ở vùng quê, ông giáo thường là một nhân vật có chút quan trọng trong giới phụ nữ. Người ta coi anh như một nhân vật nhàn nhã, phong lưu như quý ông, có khiếu thẩm mỹ và tài năng hơn hẳn đám trai quê thô kệch, và về học thức chỉ thua có ông mục sư. Vì thế anh xuất hiện thường gây ra chút xôn xao bên bàn trà của nhà nông, thêm một đĩa bánh hay mứt, hoặc có khi được bày ra cả cái ấm trà bằng bạc. Bởi vậy con người chữ nghĩa của chúng ta đặc biệt sung sướng trước nụ cười của tất cả các cô gái quê. Anh nổi bật biết bao giữa đám các cô trong sân nhà thờ giữa hai buổi lễ ngày chủ nhật, hái nho cho các cô từ những dây nho dại phủ kín cây cối xung quanh, đọc cho các cô nghe tất cả những lời khắc trên bia mộ cho vui, hoặc thong thả dạo bước với cả một bầy các cô dọc bờ ao cối xay gần đó, trong khi những anh chàng quê mùa nhút nhát hơn ngượng ngùng đứng tụt lại phía sau, ghen tị với vẻ thanh lịch và khéo léo vượt trội của anh.

Vì sống nửa du cư như thế, anh còn là một thứ tờ báo lưu động, mang cả kho chuyện phiếm địa phương từ nhà này sang nhà khác, nên lúc nào anh đến cũng được đón tiếp vui vẻ. Hơn nữa, các bà còn coi anh là người học rộng, vì anh đã đọc trọn mấy cuốn sách, và thuộc làu cuốn Lịch sử phù thuỷ miền Niu Inh-lơn của Cốt-tơn Me-thơ, mà nhân tiện nói luôn, anh tin vào nó hết sức vững chắc.

Thật ra anh là một sự pha trộn kỳ lạ giữa chút khôn vặt và lòng cả tin ngây thơ. Sự thèm khát những chuyện kỳ lạ và khả năng tiêu hoá chúng của anh đều phi thường như nhau, và cả hai đều tăng lên từ khi anh sống ở cái vùng bị bỏ bùa này. Chẳng có câu chuyện nào quá thô thiển hay quái gở để cái cổ họng rộng rãi của anh không nuốt trôi. Anh thường thích thú, sau khi tan trường buổi chiều, nằm dài trên thảm cỏ ba lá dày bên con suối nhỏ róc rách cạnh trường, nghiền ngẫm những câu chuyện khủng khiếp của ông Me-thơ già, cho tới khi bóng hoàng hôn dày đặc biến trang in thành một màn sương mờ trước mắt. Rồi khi anh đi qua đầm lầy, qua suối, qua rừng rậm đáng sợ để về trang trại nơi anh đang trọ, mọi âm thanh của thiên nhiên vào cái giờ ma quái ấy đều làm trí tưởng tượng đang bị kích động của anh run rẩy. Tiếng than của con chim cú muỗi trên sườn đồi, tiếng kêu báo điềm của con nhái bén, kẻ báo trước cơn giông, tiếng rúc thê lương của con cú lợn, hay tiếng xào xạc đột ngột trong bụi rậm của lũ chim giật mình bay khỏi chỗ đậu. Cả những con đom đóm, lập loè sáng nhất ở những chỗ tối nhất, thỉnh thoảng cũng làm anh giật mình khi một con sáng khác thường bay vụt ngang lối anh đi. Và nếu tình cờ có một con bọ cánh cứng to tướng ngu ngốc bay loạng choạng đâm vào anh, thì anh chàng tội nghiệp suýt hồn lìa khỏi xác, vì tưởng mình bị dính dấu hiệu của phù thuỷ. Cách duy nhất của anh những lúc ấy, hoặc để nhấn chìm ý nghĩ, hoặc để xua đuổi tà ma, là hát những bài thánh ca. Và những người tốt bụng ở Thung lũng Ngủ Yên, ngồi trước cửa nhà buổi tối, thường kinh sợ khi nghe giọng hát giọng mũi của anh, ngọt ngào nối dài mãi, vọng lại từ ngọn đồi xa hay dọc con đường chạng vạng.

Một nguồn khoái cảm rùng rợn khác của anh là ngồi suốt những buổi tối mùa đông dài với các bà già Hà Lan đang kéo sợi bên lò sưởi, một hàng táo nướng xèo xèo dọc bếp, nghe họ kể những câu chuyện lạ lùng về ma quỷ, yêu tinh, về những cánh đồng ma ám, những dòng suối ma ám, những cây cầu ma ám, những ngôi nhà ma ám, và nhất là về kỵ sĩ không đầu, hay như đôi khi họ gọi, tên lính Héc-xơ phi ngựa của thung lũng. Anh cũng làm các bà thích thú không kém bằng những giai thoại về phù thuỷ, về những điềm gở, những cảnh tượng và âm thanh báo điềm trên không trung thịnh hành ở Cô-nét-ti-cút thời xưa. Và anh làm các bà sợ hãi khiếp đảm bằng những suy đoán về sao chổi và sao băng, và bằng cái sự thật đáng báo động rằng trái đất quả thật quay tròn, và nửa thời gian các bà đang ở tư thế lộn ngược đầu.

Nhưng nếu tất cả những điều ấy là một niềm thích thú khi đang ấm áp nép mình trong góc lò sưởi của một căn phòng rực hồng ánh lửa củi nổ lách tách, nơi dĩ nhiên chẳng bóng ma nào dám ló mặt, thì nó lại phải trả giá đắt bằng những nỗi kinh hoàng trên đường về nhà sau đó. Những hình thù và bóng tối đáng sợ nào vây lấy con đường anh đi giữa ánh sáng mờ ảo, ma quái của một đêm tuyết! Anh nhìn với ánh mắt khắc khoải biết bao vào từng tia sáng run rẩy chiếu ngang những cánh đồng hoang từ một ô cửa sổ xa xa nào đó! Biết bao lần anh khiếp vía vì một bụi cây phủ tuyết, như một bóng ma trùm vải liệm chắn ngang lối anh đi! Biết bao lần anh co rúm lại, máu đông cứng vì sợ, khi nghe tiếng bước chân của chính mình trên lớp băng giá dưới chân, và sợ không dám ngoái nhìn qua vai, sợ sẽ thấy một sinh vật kỳ quặc nào đó đang lẽo đẽo ngay sau lưng! Và biết bao lần anh hoàn toàn rụng rời vì một cơn gió ào ào rít qua hàng cây, tưởng đó là tên lính Héc-xơ đang phi ngựa trong một chuyến tuần đêm!

Thế nhưng tất cả những điều ấy chỉ là nỗi sợ của ban đêm, những bóng ma của trí óc bước đi trong bóng tối. Và tuy anh đã thấy nhiều bóng ma trong đời, đã hơn một lần bị quỷ Xa-tan dưới đủ mọi hình dạng vây bắt trong những cuộc đi dạo đơn độc, nhưng ánh ngày đã chấm dứt mọi điều xấu ấy. Và hẳn anh đã sống một cuộc đời dễ chịu, bất chấp quỷ dữ và mọi việc làm của nó, nếu con đường của anh không bị cắt ngang bởi một sinh vật gây cho người trần nhiều bối rối hơn cả ma quỷ, yêu tinh và cả dòng giống phù thuỷ gộp lại, đó là một người đàn bà.

Trong số những học trò âm nhạc tụ tập mỗi tuần một buổi tối để học hát thánh ca với anh, có Ca-tơ-ri-na Van Tát-xơn, con gái và là con một của một nông dân Hà Lan giàu có. Cô là một thiếu nữ đang độ phơi phới tuổi mười tám, tròn trịa như con gà gô, chín mọng và má hồng như một quả đào trong vườn nhà cô, nổi tiếng khắp nơi không chỉ vì sắc đẹp mà còn vì món của hồi môn lớn. Cô lại hơi điệu đà một chút, điều có thể thấy ngay ở cách ăn mặc, một sự pha trộn giữa mốt cũ và mốt mới, sao cho tôn lên vẻ duyên dáng của mình nhất. Cô đeo những món đồ trang sức bằng vàng ròng mà bà cố của bà cô đã mang sang từ thành Xa-đam, mặc chiếc yếm thêu hấp dẫn kiểu xưa, và thêm một cái váy lót ngắn đến khiêu khích để khoe bàn chân và mắt cá chân xinh nhất vùng.

Ích-ca-bốt Cờ-rên có một trái tim mềm yếu và khờ dại đối với phái đẹp, nên chẳng lạ gì một miếng mồi hấp dẫn như thế chẳng mấy chốc đã lọt vào mắt xanh của anh, nhất là sau khi anh đến thăm cô ở ngôi nhà của cha cô. Ông già Ban-tút Van Tát-xơn là hình ảnh hoàn hảo của một nông dân phát đạt, mãn nguyện và hào phóng. Thật ra ít khi ông đưa mắt hay đưa ý nghĩ ra ngoài ranh giới trang trại của mình, nhưng bên trong ranh giới ấy thì mọi thứ đều ấm cúng, vui vẻ và đâu ra đấy. Ông bằng lòng với của cải của mình nhưng không kiêu hãnh vì nó, và tự hào về sự sung túc thịnh soạn hơn là về sự sang trọng trong cách sống. Thành trì của ông nằm bên bờ sông Hớt-xơn, ở một trong những góc xanh tươi, kín gió, màu mỡ mà nông dân Hà Lan rất thích làm tổ. Một cây du lớn xoè những cành rộng che trên nhà. Dưới gốc cây có một mạch nước mềm và ngọt nhất sủi lên trong một cái giếng nhỏ làm bằng một chiếc thùng gỗ, rồi lấp lánh len qua đám cỏ chảy ra một con suối gần đó, róc rách giữa những bụi tống quán sủi và liễu lùn. Sát bên nhà là một kho thóc rộng mênh mông, có thể dùng làm nhà thờ được, ô cửa nào khe hở nào cũng như sắp vỡ tung vì của cải của trang trại. Từ sáng đến tối, tiếng néo đập lúa vang lên rộn ràng bên trong. Chim én, chim nhạn ríu rít lượn quanh mái hiên. Những hàng chim bồ câu, con thì nghiêng một mắt nhìn lên như đang xem thời tiết, con thì rúc đầu vào cánh hay vùi vào ngực, con khác thì phồng diều gù gù cúi chào quanh mấy cô nàng của mình, đang tắm nắng trên mái nhà. Những con lợn béo núc, nặng nề ủn ỉn trong cảnh yên ổn và sung túc của chuồng mình, thỉnh thoảng lại có những đàn lợn sữa chạy ùa ra như để hít thở không khí. Một đội ngỗng trắng như tuyết oai vệ bơi trên cái ao bên cạnh, hộ tống cả những hạm đội vịt. Những trung đoàn gà tây kêu gục gặc khắp sân trại, và lũ gà sao càu nhàu quanh đó như những bà nội trợ khó tính, với tiếng kêu cáu kỉnh, bất mãn. Trước cửa kho thóc, chàng gà trống hào hoa, tấm gương của một người chồng, một chiến binh và một quý ông lịch lãm, đi đi lại lại vênh vang, vỗ đôi cánh bóng loáng mà gáy lên trong niềm kiêu hãnh và vui sướng của trái tim. Có lúc chàng lấy chân bới đất, rồi hào phóng gọi cả gia đình vợ con lúc nào cũng đói của mình đến thưởng thức miếng ngon chàng vừa tìm thấy.

— Hết chương 1 —

Mục lục Truyền thuyết thung lũng Ngủ Yên

  1. 1Thung lũng Ngủ Yên và ông giáo làng17 phút
  2. 2Cô gái nhà Van Tát-xơn và tình địch Bờ-rôm BônĐang thu âm
  3. 3Bữa tiệc nhà Van Tát-xơnĐang thu âm
  4. 4Kỵ sĩ không đầuĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảWashington Irving (1783 – 1859)
Năm mất1859
Xuất bản lần đầu1820
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Legend of Sleepy Hollow, trong tập The Sketch Book of Geoffrey Crayon, bản Project Gutenberg
Giọng đọcBảo Thiện — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →