Chương 1: Cậu bé trên cổ voi
Ca-la Nác, nghĩa là Rắn Đen, đã phục vụ chính quyền Ấn Độ bằng mọi cách mà một con voi có thể phục vụ, suốt bốn mươi bảy năm. Khi bị bắt, nó đã tròn hai mươi tuổi, vậy là giờ nó gần bảy mươi, một tuổi đã chín muồi với một con voi. Nó còn nhớ hồi lấy cái trán đệm miếng da to đẩy một khẩu đại bác sa lầy sâu trong bùn, ấy là trước cuộc chiến Áp-ga-ni-xtan năm một nghìn tám trăm bốn mươi hai, khi nó còn chưa đủ sức vóc.
Mẹ nó là Ra-đa Pi-a-ri, nghĩa là Ra-đa Cưng, bị bắt cùng một đợt với Ca-la Nác. Từ hồi cặp ngà sữa nhỏ của nó còn chưa rụng, mẹ đã dặn nó rằng voi nào biết sợ thì bao giờ cũng bị thương. Ca-la Nác biết lời khuyên ấy là đúng, vì lần đầu thấy một quả đạn pháo nổ, nó vừa lùi vừa rống lên, rồi lùi thẳng vào một giá súng dựng đứng, những lưỡi lê đâm vào đủ mọi chỗ mềm nhất trên người nó. Vì vậy, trước năm hai mươi lăm tuổi, nó đã thôi không biết sợ, và vì thế nó là con voi được yêu quý nhất, được chăm sóc chu đáo nhất trong số voi làm việc cho chính quyền Ấn Độ. Nó đã chở lều, hơn năm trăm cân lều, trong những cuộc hành quân ở Thượng Ấn. Nó đã bị cần cẩu hơi nước nhấc lên tàu, đưa đi nhiều ngày trên biển, rồi phải chở một khẩu súng cối trên lưng ở một xứ sở lạ lùng toàn đá, xa thật xa Ấn Độ. Nó đã thấy hoàng đế Tê-ô-đo nằm chết ở Mác-đa-la, rồi theo tàu hơi nước trở về, và theo lời lính tráng thì nó đáng được thưởng huân chương chiến dịch A-bi-xi-ni. Mười năm sau, ở một nơi gọi là A-li Mút-xít, nó đã thấy những con voi bạn chết vì rét, vì động kinh, vì đói và vì say nắng. Rồi sau đó nó được đưa xuống phía nam xa hàng nghìn dặm, kéo và xếp những súc gỗ tếch to trong các xưởng gỗ ở Mun-mên. Ở đó nó đã đánh một con voi non bướng bỉnh, trốn việc, suýt chết.
Sau chuyện ấy nó thôi kéo gỗ, và cùng vài chục con voi khác đã được huấn luyện cho việc này, nó được giao đi giúp bắt voi rừng trên dãy đồi Ga-rô. Voi được chính quyền Ấn Độ bảo vệ hết sức nghiêm ngặt. Có hẳn một sở chẳng làm gì khác ngoài săn voi, bắt voi, thuần voi, rồi đưa chúng đi khắp nơi tùy theo nơi nào cần voi làm việc.
Ca-la Nác cao trọn ba mét tính tới vai. Cặp ngà của nó đã được cưa ngắn còn chừng một mét rưỡi, đầu ngà bịt đai đồng cho khỏi nứt. Nhưng với hai khúc ngà cụt ấy, nó làm được nhiều việc hơn bất cứ con voi chưa thuần nào làm với cặp ngà nhọn thật. Sau nhiều tuần lễ cẩn thận lùa những con voi tản mác băng qua các ngọn đồi, khi bốn năm chục con quái vật hoang dã đã bị lùa vào hàng rào quây cuối cùng, và cánh cửa sập lớn làm bằng những thân cây buộc chặt vào nhau đã rầm một tiếng đóng lại sau lưng chúng, thì Ca-la Nác, theo lệnh, sẽ đi vào cái cảnh hỗn loạn rực lửa, rống vang ấy. Thường là vào ban đêm, khi ánh đuốc chập chờn khiến khó mà ước được khoảng cách. Nó chọn con voi đực to nhất, dữ nhất trong đám, nện nó, xô đẩy nó cho tới khi nó chịu yên, trong khi những người ngồi trên lưng các con voi khác buộc dây trói những con nhỏ hơn.
Về chuyện đánh nhau, chẳng có gì mà Ca-la Nác, lão Rắn Đen già khôn ngoan, lại không biết. Đã hơn một lần trong đời nó đứng chịu cú xông tới của một con hổ bị thương. Nó cuộn cái vòi mềm lên cho khỏi bị hại, rồi bằng một cú hất đầu như lưỡi liềm do chính nó nghĩ ra, nó đánh văng con thú đang chồm tới sang một bên giữa không trung, quật nó ngã, rồi quỳ đè lên nó bằng đôi đầu gối khổng lồ cho tới khi sự sống thoát ra cùng một tiếng thở hắt và một tiếng rú, và trên mặt đất chỉ còn lại một thứ vằn vện lông lá để Ca-la Nác túm đuôi kéo đi.
— Phải, — Tu-mai Lớn, người quản tượng của nó, nói. Ông là con trai của Tu-mai Đen, người đã đưa nó đi A-bi-xi-ni, và là cháu nội của Tu-mai của Bầy Voi, người đã chứng kiến nó bị bắt. — Rắn Đen chẳng sợ gì ngoài tôi. Nó đã thấy ba đời nhà chúng tôi cho nó ăn, tắm rửa cho nó, và nó sẽ sống tới đời thứ tư.
— Nó cũng sợ con nữa, — Tu-mai Nhỏ nói, đứng thẳng hết cỡ, cao được hơn mét hai, trên người chỉ có một mảnh vải. Cậu mười tuổi, là con trai lớn của Tu-mai Lớn, và theo lệ, khi lớn lên cậu sẽ thay cha ngồi trên cổ Ca-la Nác, cầm cây móc sắt nặng trịch để điều khiển voi, cây móc đã mòn nhẵn trong tay cha cậu, ông cậu và cụ cậu.
Cậu biết mình nói gì. Cậu sinh ra dưới bóng Ca-la Nác, chơi với đầu vòi nó từ khi chưa biết đi, dắt nó xuống nước ngay khi vừa biết đi. Ca-la Nác chẳng bao giờ mơ tới chuyện không vâng những mệnh lệnh lanh lảnh của cậu, cũng như nó chẳng bao giờ mơ tới chuyện giết cậu vào cái ngày Tu-mai Lớn bế đứa bé da nâu đặt dưới cặp ngà của nó, bảo nó chào ông chủ tương lai của mình.
— Phải, — Tu-mai Nhỏ nói, — nó sợ con.
Rồi cậu sải những bước dài tới chỗ Ca-la Nác, gọi nó là đồ lợn già béo ị, và bắt nó lần lượt nhấc từng chân lên.
— Chà! — Tu-mai Nhỏ nói, lắc cái đầu tóc bù xù, nhại giọng cha. — Mày đúng là con voi to. Chính quyền có thể trả tiền mua voi, nhưng voi là của bọn quản tượng chúng ta. Khi mày già, Ca-la Nác ạ, sẽ có một ông vua giàu có tới mua mày của chính quyền, vì mày to lớn và có nết, rồi mày chẳng phải làm gì nữa ngoài đeo khuyên tai vàng, lưng mang bành vàng, hai bên phủ tấm thảm đỏ thêu kim tuyến, và đi đầu đoàn rước của Nhà Vua. Khi ấy tao sẽ ngồi trên cổ mày, hỡi Ca-la Nác, tay cầm cây móc bạc, và người ta sẽ cầm gậy vàng chạy trước mặt chúng ta mà hô: "Tránh đường cho voi của Nhà Vua!" Thế cũng hay, Ca-la Nác ạ, nhưng không hay bằng đi săn trong rừng thế này.
— Hừm! — Tu-mai Lớn nói. — Mày là trẻ con, lại hoang như con nghé. Chạy lên chạy xuống mấy ngọn đồi này đâu phải là việc tốt nhất của nhà nước. Tao đang già đi, mà tao chẳng ưa gì voi rừng. Cho tao những dãy chuồng voi xây gạch, mỗi con một ô, những gốc cột to để buộc chúng cho chắc, những con đường rộng bằng phẳng cho chúng tập đi, thay vì cái cảnh cắm trại đi đi về về này. Chà, doanh trại ở Cao-pua mới tốt chứ. Có cái chợ ngay gần, mỗi ngày chỉ làm ba giờ.
Tu-mai Nhỏ nhớ tới những dãy chuồng voi ở Cao-pua, và không nói gì. Cậu thích đời sống trại hơn nhiều, và ghét những con đường rộng bằng phẳng kia, với việc ngày nào cũng phải đi cắt cỏ ở khu dự trữ thức ăn, và những giờ dài chẳng có gì làm ngoài ngồi nhìn Ca-la Nác cựa quậy bên cột buộc.
Điều Tu-mai Nhỏ thích là trèo lên những con đường mòn mà chỉ voi mới đi nổi; là lúc đổ xuống thung lũng bên dưới; là những lúc thoáng thấy đàn voi rừng gặm lá ở xa hàng dặm; là cảnh lợn rừng và công hốt hoảng chạy dưới chân Ca-la Nác; là những trận mưa ấm làm hoa mắt, khi mọi ngọn đồi và thung lũng đều bốc hơi; là những buổi sáng sương mù tuyệt đẹp khi chẳng ai biết đêm nay sẽ cắm trại ở đâu; là những cuộc lùa voi rừng đều đặn, thận trọng; và là cái cảnh điên cuồng, rực lửa, ầm ĩ của đêm lùa cuối cùng, khi đàn voi đổ vào hàng rào quây như những tảng đá trong trận lở núi, thấy mình không thoát ra được, liền lao vào những cột gỗ nặng, để rồi bị đẩy lùi bằng tiếng hò hét, đuốc cháy rực và những loạt súng bắn đạn không.
Ở đó ngay cả một cậu bé cũng có ích, mà Tu-mai thì có ích bằng ba cậu bé. Cậu cầm đuốc vẫy, hò hét chẳng thua ai. Nhưng thời khắc thật sự tuyệt vời là khi bắt đầu lùa voi ra, và bãi quây trông như một bức tranh tận thế, người ta phải ra hiệu cho nhau vì không nghe được tiếng mình nói. Tu-mai Nhỏ sẽ trèo lên đỉnh một cột rào đang rung bần bật, mái tóc nâu bạc nắng xõa tung trên vai, dưới ánh đuốc trông cậu như một con yêu tinh. Và hễ có lúc lắng xuống, người ta lại nghe giữa tiếng voi rống, tiếng đổ vỡ, tiếng dây đứt và tiếng rên của những con voi bị trói, tiếng cậu hò hét lanh lảnh cổ vũ Ca-la Nác:
— Tiến lên, tiến lên, Rắn Đen! Cho nó ăn ngà đi! Cẩn thận, cẩn thận! Đánh nó, đánh nó! Coi chừng cột! Ối chà! Ối chà! Hây! Dà! Kia-aaa!
Trận đánh lớn giữa Ca-la Nác và con voi rừng chao qua chao lại khắp bãi quây. Những người bắt voi già lau mồ hôi khỏi mắt, vẫn kịp gật đầu với Tu-mai Nhỏ đang ngọ nguậy vì sung sướng trên đỉnh cột.
Cậu còn làm nhiều hơn là ngọ nguậy. Một đêm cậu tụt xuống khỏi cột, lách vào giữa đàn voi, nhặt đầu dây bị rơi ném lên cho một người quản tượng đang cố quàng dây vào chân một con voi con đang đá loạn xạ, vì voi con bao giờ cũng khó trị hơn voi lớn. Ca-la Nác thấy cậu, quấn vòi nhấc cậu lên, đưa cho Tu-mai Lớn. Ông tát cậu ngay tại chỗ rồi đặt cậu trở lại lên cột.
Sáng hôm sau ông mắng cậu:
— Chuồng voi xây gạch tử tế với chút việc chở lều chưa đủ cho mày hay sao mà mày phải tự đi bắt voi, đồ vô tích sự? Giờ thì mấy gã thợ săn ngu ngốc kia, lương còn thấp hơn lương tao, đã kể chuyện ấy với ông Pê-tơ-xen rồi.
Tu-mai Nhỏ sợ lắm. Cậu không biết nhiều về người châu Âu, nhưng với cậu, ông Pê-tơ-xen là người vĩ đại nhất thế giới. Ông đứng đầu mọi công việc ở các bãi quây, là người bắt hết voi cho chính quyền Ấn Độ, và hiểu về tập tính của voi hơn bất cứ ai còn sống.
— Rồi, rồi sẽ ra sao hả bố? — Tu-mai Nhỏ hỏi.
— Ra sao à! Tệ nhất có thể. Ông Pê-tơ-xen là người điên. Không thì sao ông ấy lại đi săn lũ quỷ hoang dã này? Có khi ông ấy còn bắt mày làm người bắt voi, ngủ bất cứ đâu trong mấy khu rừng đầy sốt rét này, rồi cuối cùng bị giẫm chết trong bãi quây. May mà trò dại dột này kết thúc yên ổn. Tuần sau là hết mùa bắt voi, bọn tao người đồng bằng sẽ được đưa về đồn cũ. Rồi bọn tao sẽ đi trên những con đường bằng phẳng, quên hết chuyện săn bắt này. Nhưng con ạ, tao giận vì mày dám xía vào cái việc của đám dân rừng núi kia. Ca-la Nác chẳng nghe ai ngoài tao, nên tao phải theo nó vào bãi quây, nhưng nó chỉ là voi chiến, không giúp buộc dây. Thế nên tao ngồi thong thả, đúng như một quản tượng, chứ không phải một thằng thợ săn quèn, tao nói là một quản tượng, một người hết đời phục vụ được lĩnh lương hưu. Chẳng lẽ dòng họ Tu-mai của Bầy Voi lại bị giẫm dưới chân trong bùn đất của bãi quây? Đồ hư! Đồ hỗn! Đồ con vô tích sự! Đi tắm cho Ca-la Nác, xem tai nó, xem chân nó có gai không. Không thì thế nào ông Pê-tơ-xen cũng bắt mày, biến mày thành thợ săn rừng, một kẻ lần theo dấu chân voi, một con gấu rừng. Hừ! Nhục! Đi đi!
Tu-mai Nhỏ đi mà chẳng nói một lời, nhưng trong lúc xem chân cho Ca-la Nác, cậu kể hết nỗi ấm ức với nó.
— Không sao, — Tu-mai Nhỏ nói, lật mép cái tai phải khổng lồ của Ca-la Nác lên. — Họ đã nhắc tên tao với ông Pê-tơ-xen, và biết đâu, biết đâu, biết đâu chừng... Ai mà biết được? Hây! Cái gai to tao vừa nhổ ra này!
Mấy ngày sau đó người ta lo tập hợp voi, dắt những con voi rừng mới bắt đi tới đi lui giữa hai con voi thuần để chúng khỏi gây quá nhiều rắc rối trên đường xuống đồng bằng, và kiểm kê chăn, dây thừng cùng đủ thứ đồ đạc đã mòn rách hay thất lạc trong rừng.
Ông Pê-tơ-xen cưỡi con voi cái khôn ngoan Pút-mi-ni tới. Ông vừa đi trả lương cho các trại khác trên đồi, vì mùa sắp hết, và có một người thư ký ngồi bên chiếc bàn dưới gốc cây để trả công cho các quản tượng. Ai được trả rồi thì quay về với voi của mình, đứng vào hàng chờ khởi hành. Những người bắt voi, thợ săn, người lùa voi, những người của bãi quây thường trực, năm này qua năm khác ở trong rừng, ngồi trên lưng những con voi thuộc đội thường trực của ông Pê-tơ-xen, hoặc dựa vào gốc cây, súng khoác trên tay, chế giễu những quản tượng sắp về, và cười ồ khi những con voi mới bắt phá hàng chạy loạn.
Tu-mai Lớn đi tới chỗ người thư ký, Tu-mai Nhỏ theo sau. Ma-chu-a Áp-pa, trưởng toán lần dấu, nói khẽ với một người bạn:
— Ít ra cũng có một mầm bắt voi tốt đi kia. Thật uổng khi đưa con gà rừng non ấy về đồng bằng cho rụng lông.
Ông Pê-tơ-xen thì tai mọc khắp người, như mọi người phải có khi lắng nghe loài vật im lặng nhất trong mọi loài: voi rừng. Ông đang nằm dài trên lưng Pút-mi-ni, liền quay lại hỏi:
— Gì thế? Tôi không ngờ trong đám quản tượng đồng bằng lại có ai đủ khéo để buộc dây được ngay cả một con voi chết.
— Đây không phải người lớn, mà là một thằng bé. Đợt lùa cuối nó đã vào bãi quây, ném dây cho thằng Ba-mao kia, lúc chúng tôi đang cố tách con voi non có vết loang ở vai ra khỏi mẹ nó.
Ma-chu-a Áp-pa chỉ vào Tu-mai Nhỏ. Ông Pê-tơ-xen nhìn, và Tu-mai Nhỏ cúi rạp xuống đất.
— Nó mà ném dây? Nó còn bé hơn cái cọc buộc voi. Này nhóc, tên cháu là gì? — ông Pê-tơ-xen hỏi.
Tu-mai Nhỏ sợ tới mức không nói nên lời. Nhưng Ca-la Nác đứng ngay sau cậu. Tu-mai ra hiệu bằng tay, và con voi quấn vòi nhấc cậu lên, giữ cậu ngang trán Pút-mi-ni, ngay trước mặt ông Pê-tơ-xen vĩ đại. Tu-mai Nhỏ lấy hai tay che mặt, vì cậu chỉ là một đứa trẻ, và trừ chuyện voi ra, cậu cũng bẽn lẽn như mọi đứa trẻ khác.
— Ồ hồ! — ông Pê-tơ-xen nói, mỉm cười dưới bộ ria. — Thế sao cháu lại dạy voi của mình trò ấy? Để giúp cháu ăn trộm ngô non trên mái nhà khi người ta phơi bắp à?
— Không phải ngô non đâu ạ, thưa ông, là dưa ạ, — Tu-mai Nhỏ nói.
Mọi người ngồi quanh đó phá lên cười. Phần lớn họ đều đã dạy voi mình trò ấy hồi còn bé. Tu-mai Nhỏ đang treo lơ lửng cao gần hai mét rưỡi trên không, và cậu chỉ ước gì mình đang ở sâu hai mét rưỡi dưới đất.
— Nó là Tu-mai, con trai tôi đấy, thưa ông, — Tu-mai Lớn cau có nói. — Nó hư lắm, rồi sẽ có ngày vào tù, thưa ông.
— Chuyện ấy thì tôi ngờ lắm, — ông Pê-tơ-xen nói. — Một đứa trẻ mới tuổi này đã dám đối mặt với cả một bãi quây đầy voi thì không vào tù đâu. Này nhóc, đây là bốn đồng an-na để mua kẹo, vì dưới mớ tóc rậm như mái tranh ấy cháu có một cái đầu biết nghĩ. Rồi đến lúc cháu cũng có thể thành thợ săn.
Tu-mai Lớn càng cau có hơn.
— Nhưng nhớ cho, bãi quây không phải chỗ cho trẻ con chơi đâu, — ông Pê-tơ-xen nói tiếp.
— Thế cháu không bao giờ được tới đó ạ, thưa ông? — Tu-mai Nhỏ hỏi, nghẹn thở.
— Được chứ. — Ông Pê-tơ-xen lại mỉm cười. — Khi nào cháu thấy voi nhảy múa. Đó mới đúng là lúc. Khi nào thấy voi nhảy múa thì tới tìm ta, và ta sẽ cho cháu vào mọi bãi quây.
Lại một tràng cười rộ lên, vì đó là một câu đùa cũ của dân bắt voi, có nghĩa là không bao giờ. Giấu sâu trong rừng có những khoảng đất phẳng rộng được dọn sạch, gọi là phòng khiêu vũ của voi, nhưng ngay cả những nơi ấy cũng chỉ tình cờ mới tìm thấy, và chưa người nào từng thấy voi nhảy múa. Khi một quản tượng khoe khoang tài giỏi và gan dạ của mình, những quản tượng khác sẽ hỏi: "Thế anh thấy voi nhảy múa bao giờ?"
Ca-la Nác đặt Tu-mai Nhỏ xuống. Cậu lại cúi rạp xuống đất rồi đi theo cha, đưa đồng bốn an-na bằng bạc cho mẹ, lúc ấy đang bế em trai cậu. Rồi cả nhà được đặt lên lưng Ca-la Nác, và hàng voi vừa ụt ịt vừa kêu ré lăn xuống con đường đồi về phía đồng bằng. Đó là một chuyến đi rất náo nhiệt vì những con voi mới, chúng gây chuyện ở mọi chỗ lội qua sông, cứ chốc chốc lại phải dỗ dành hay đánh đập.
Tu-mai Lớn giận lắm, cứ thúc Ca-la Nác một cách bực bội. Nhưng Tu-mai Nhỏ sung sướng tới mức không nói được gì. Ông Pê-tơ-xen đã để ý tới cậu, đã cho cậu tiền, nên cậu thấy mình như một anh lính trơn được gọi ra khỏi hàng và được chính vị tổng tư lệnh khen ngợi.
— Ông Pê-tơ-xen nói voi nhảy múa là ý gì hả mẹ? — cuối cùng cậu khẽ hỏi mẹ.
Tu-mai Lớn nghe thấy, càu nhàu:
— Là mày đừng bao giờ thành một con trâu núi như lũ lần dấu kia. Ý ông ấy là thế. Ê, mấy người đằng trước, cái gì chắn đường thế?
Một quản tượng người miền núi, cách hai ba con voi phía trước, giận dữ quay lại kêu:
— Mang Ca-la Nác lên đây, dạy cho thằng nhãi này của tôi biết điều. Sao ông Pê-tơ-xen lại chọn tôi đi xuống với lũ lừa đồng lúa các người cơ chứ? Cho voi ông sát vào đây, Tu-mai, cho nó thúc ngà vào. Thề có thần núi, mấy con voi mới này bị ma ám rồi, không thì chúng ngửi thấy bạn bè chúng trong rừng.
Ca-la Nác húc vào sườn con voi mới làm nó tắt thở một lúc, trong khi Tu-mai Lớn nói:
— Đợt bắt vừa rồi chúng ta đã quét sạch voi rừng trên đồi. Chỉ tại anh lùa voi ẩu thôi. Chẳng lẽ tôi phải giữ trật tự cho cả hàng?
— Nghe ông ấy nói kìa! — người quản tượng kia nói. — Quét sạch đồi! Hô hô! Người đồng bằng các ông khôn lắm. Ai mà chẳng biết, trừ cái đầu bùn chưa từng thấy rừng, rằng đàn voi biết thừa mùa lùa đã hết. Vì thế đêm nay tất cả voi rừng sẽ... nhưng phí khôn ngoan với một con rùa sông làm gì?
— Chúng sẽ làm gì ạ? — Tu-mai Nhỏ gọi to.
— Ô kìa, nhóc. Cháu ở đấy à? Được, ta sẽ nói cho cháu nghe, vì cháu có cái đầu tỉnh táo. Chúng sẽ nhảy múa. Và bố cháu, người đã quét sạch voi trên mọi ngọn đồi, tốt nhất đêm nay nên xích đôi các cột buộc.
— Nói gì lạ thế? — Tu-mai Lớn nói. — Bốn chục năm nay, cha truyền con nối, chúng tôi chăm voi, mà chưa bao giờ nghe chuyện nhảm nhí trên trời như thế về chuyện nhảy múa.
— Phải, nhưng người đồng bằng sống trong túp lều thì chỉ biết bốn bức tường lều mình thôi. Thế thì đêm nay cứ để voi không xích xem chuyện gì xảy ra. Còn chuyện chúng nhảy múa thì tôi đã thấy cái chỗ mà... Trời đất ơi! Sông Đi-hăng có bao nhiêu khúc quanh thế này? Lại một chỗ lội nữa rồi, mình phải cho voi con bơi qua. Đứng yên, mấy người đằng sau!
Thế là vừa nói chuyện, vừa cãi cọ, vừa lội ì oạp qua các con sông, họ đi hết chặng đầu tiên tới một thứ trại tiếp nhận cho những con voi mới. Nhưng họ đã nổi cáu với nhau từ lâu trước khi tới nơi.
Rồi đàn voi được xích chân sau vào những gốc cột lớn, những con voi mới được buộc thêm dây, cỏ được chất trước mặt chúng. Những quản tượng miền núi quay về chỗ ông Pê-tơ-xen trong ánh chiều, dặn những quản tượng đồng bằng đêm nay phải hết sức cẩn thận, và cười ồ khi họ hỏi vì sao.
— Hết chương 1 —
🧸 Truyện thiếu nhi
🧸 Truyện thiếu nhi
🧸 Truyện thiếu nhi
🧸 Truyện thiếu nhi
🧸 Truyện thiếu nhi
🧸 Truyện thiếu nhi