Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Truyền thuyết và cánh đồng lúa

Tu sĩ áo đen · Chương 1/4 · của Anton Chekhov

⏱ 17 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 17.915 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04An-đrây Va-xi-li-ích Cô-vrin, thạc sĩ, làm việc quá sức…
  2. 4:33Khói thay cho mây khi trời không có mây……
  3. 5:39Tôi vẫn coi thế mà, Ta-nhi-a.
  4. 7:21Ô-nhê-ghin ơi, ta chẳng giấu,
  5. 8:16Thế không thấy chán à?
  6. 9:16Bình tĩnh lại rồi, ông ôm lấy Cô-vrin, hôn…
  7. 11:27Một lần, sau bữa trà tối, anh ngồi đọc…
  8. 15:01Nhưng kìa, những đợt sóng chạy qua cánh đồng…

Chương 1: Truyền thuyết và cánh đồng lúa

An-đrây Va-xi-li-ích Cô-vrin, thạc sĩ, làm việc quá sức và thần kinh suy nhược. Anh không chữa chạy gì, nhưng có lần, bên chai rượu vang, anh tiện miệng nói chuyện với một người bạn bác sĩ, và người bạn khuyên anh nên về quê sống qua mùa xuân và mùa hè. Đúng lúc ấy lại nhận được một bức thư dài của Ta-nhi-a Pê-xốt-xcai-a, cô mời anh về Bô-ri-xốp-ca chơi ít lâu. Và anh quyết định rằng quả thật mình cần đi một chuyến.

Thoạt đầu, hồi tháng Tư, anh về nhà mình, về điền trang Cô-vrin-ca của dòng họ, và sống ở đó ba tuần lễ một mình. Rồi đợi đến khi đường sá khô ráo, anh đi xe ngựa đến nhà người giám hộ và cũng là người nuôi dạy anh trước kia, ông Pê-xốt-xki, một nhà làm vườn nổi tiếng khắp nước Nga. Từ Cô-vrin-ca đến Bô-ri-xốp-ca, nơi gia đình Pê-xốt-xki sinh sống, chỉ chừng bảy mươi dặm, và ngồi trên chiếc xe nhíp êm ái mà đi trên con đường mùa xuân mềm mại thì thật là một niềm khoan khoái.

Nhà ông Pê-xốt-xki đồ sộ, có hàng cột, có những con sư tử bằng vữa đã tróc lở, và có người hầu mặc áo đuôi tôm đứng ở thềm. Khu vườn cổ, u ám và nghiêm trang, bố trí theo kiểu Anh, trải dài gần một dặm từ ngôi nhà xuống tận dòng sông, và tận cùng ở đó bằng một bờ đất sét dốc đứng, trên mọc những cây thông rễ trơ ra như những bàn chân lông lá. Phía dưới, mặt nước lấp lánh vắng vẻ, những con chim dẽ bay vụt qua kêu thảm thiết, và lúc nào ở đó cũng có một không khí khiến người ta muốn ngồi xuống viết một khúc ba-lát. Bù lại, ở ngay quanh nhà, ngoài sân và trong vườn cây ăn quả, kể cả các vườn ươm rộng chừng ba mươi mẫu, thì lại vui tươi, rộn ràng, ngay cả khi trời xấu. Những bông hồng, bông huệ, bông trà tuyệt diệu như thế, những bông tuy-líp đủ mọi màu từ trắng tinh cho đến đen như bồ hóng, nói chung là muôn hoa phong phú như ở nhà ông Pê-xốt-xki, Cô-vrin chưa từng được thấy ở bất cứ nơi nào khác. Mùa xuân mới bắt đầu, vẻ lộng lẫy thực sự của những luống hoa còn giấu trong nhà kính, nhưng chỉ riêng những gì đang nở dọc các lối đi và rải rác trên các bồn hoa cũng đủ để người dạo trong vườn cảm thấy mình đang ở giữa một vương quốc của những sắc màu dịu dàng, nhất là vào lúc sáng sớm, khi trên mỗi cánh hoa long lanh giọt sương.

Phần vườn để trang trí, cái phần mà chính ông Pê-xốt-xki khinh khỉnh gọi là trò vớ vẩn, ngày bé đã gây cho Cô-vrin một ấn tượng như trong truyện cổ tích. Ở đây chẳng thiếu thứ gì trong những trò kỳ quặc, những hình thù quái dị cầu kỳ và những kiểu chơi khăm thiên nhiên! Có những bức giàn cây ăn quả, có cây lê uốn thành hình cây dương tháp, những cây sồi và cây đoạn tròn như quả cầu, một cây táo xoè ra như cái ô, những vòm cổng, những chữ lồng, những cây đèn chùm, và thậm chí cả con số một nghìn tám trăm sáu mươi hai kết bằng cây mận, đánh dấu năm ông Pê-xốt-xki bắt đầu theo nghề làm vườn. Lại còn có những cái cây con đẹp đẽ, thanh mảnh, thân thẳng và chắc như thân cọ, và phải nhìn thật kỹ mới nhận ra đó là cây lý gai hay cây phúc bồn tử. Nhưng điều làm cho khu vườn vui nhất và có vẻ sinh động nhất, ấy là sự chuyển động không ngừng. Từ sáng sớm đến tối mịt, quanh các gốc cây, bụi cây, trên các lối đi và bồn hoa, người ta lúc nhúc như kiến với những chiếc xe cút kít, những cái cuốc, những bình tưới…

Cô-vrin đến nhà Pê-xốt-xki vào buổi tối, đã ngoài chín giờ. Anh thấy Ta-nhi-a và cha cô, ông I-ê-gô Xê-mê-nư-ch, đang vô cùng lo lắng. Bầu trời trong vắt đầy sao và cái nhiệt kế đều báo trước rằng sáng mai sẽ có sương giá, mà ông thợ vườn I-van Các-lư-ch lại đi lên tỉnh, chẳng biết trông cậy vào ai. Trong bữa tối, người ta chỉ nói về đợt sương giá sớm mai, và quyết định là Ta-nhi-a sẽ không đi ngủ, quá nửa đêm sẽ đi một vòng quanh vườn xem mọi thứ có ổn không, còn ông I-ê-gô Xê-mê-nư-ch thì sẽ dậy lúc ba giờ, có khi còn sớm hơn.

Cô-vrin ngồi với Ta-nhi-a suốt buổi tối, và quá nửa đêm thì cùng cô ra vườn. Trời lạnh. Ngoài sân đã nồng nặc mùi khét. Trong khu vườn cây ăn quả rộng lớn, gọi là vườn kinh doanh, năm nào cũng đem lại cho ông I-ê-gô Xê-mê-nư-ch mấy nghìn rúp tiền lãi ròng, một làn khói đen, đặc, cay xè đang bò sát mặt đất, quấn lấy các gốc cây, cứu mấy nghìn rúp ấy khỏi sương giá. Cây ở đây trồng theo kiểu ô bàn cờ, các hàng thẳng tắp và đều đặn như những hàng lính. Cái sự đều đặn nghiêm ngặt, máy móc ấy, cộng với chuyện cây nào cũng cao bằng nhau, tán và thân giống hệt nhau, khiến cảnh vật trở nên đơn điệu, thậm chí buồn tẻ. Cô-vrin và Ta-nhi-a đi dọc những hàng cây, nơi những đống lửa phân chuồng, rơm rạ và đủ thứ rác rưởi đang âm ỉ cháy, thỉnh thoảng họ gặp những người làm thuê lang thang trong khói như những cái bóng. Chỉ có anh đào, mận và vài giống táo đang ra hoa, nhưng cả khu vườn chìm trong khói, và chỉ khi đến gần các vườn ươm, Cô-vrin mới thở được căng lồng ngực.

— Ngày bé tôi đã từng hắt hơi vì khói ở đây, anh nói, nhún vai, nhưng đến giờ tôi vẫn không hiểu sao khói lại có thể cứu cây khỏi sương giá.

— Khói thay cho mây khi trời không có mây… Ta-nhi-a đáp.

— Thế mây để làm gì?

— Trời âm u, nhiều mây thì không có sương giá buổi sớm.

— Ra thế!

Anh bật cười và cầm lấy tay cô. Khuôn mặt cô bầu bĩnh, rất nghiêm trang, lạnh cóng, với đôi lông mày đen mảnh, cái cổ áo khoác dựng lên khiến cô không quay đầu được thoải mái, và cả con người cô, gầy gầy, thanh mảnh, chiếc váy vén lên cho khỏi ướt sương, làm anh xúc động.

— Trời ơi, cô ấy đã lớn rồi! anh nói. Lần cuối cùng tôi rời khỏi đây, năm năm trước, cô vẫn còn là một đứa trẻ. Cô gầy nhom, chân dài, đầu để trần, mặc chiếc váy ngắn cũn, và tôi vẫn trêu cô là con diệc… Thời gian làm được những gì thế này!

— Vâng, năm năm rồi! Ta-nhi-a thở dài. Từ bấy đến nay bao nhiêu nước đã chảy qua cầu. Anh An-đriu-sa, anh nói thật lòng đi, cô sôi nổi nói, nhìn thẳng vào mặt anh, anh đã quên mất chúng em rồi phải không? Mà em hỏi làm gì nhỉ? Anh là đàn ông, anh đã có cuộc sống riêng, thú vị, anh là một nhân vật… Xa cách là chuyện tự nhiên thôi! Nhưng dù thế nào, anh An-đriu-sa ạ, em vẫn muốn anh coi chúng em là người nhà. Chúng em có quyền được thế.

— Tôi vẫn coi thế mà, Ta-nhi-a.

— Thề danh dự nhé?

— Ừ, thề danh dự.

— Hôm nay anh ngạc nhiên vì nhà em có nhiều ảnh của anh thế. Anh biết đấy, bố em quý anh vô cùng. Có lúc em thấy dường như bố còn yêu anh hơn cả em. Bố tự hào về anh. Anh là nhà khoa học, là người phi thường, anh đã có một sự nghiệp rực rỡ, và bố tin chắc rằng anh nên người được như thế là vì bố đã nuôi dạy anh. Em cũng không cản bố nghĩ như vậy. Cứ để bố nghĩ.

Trời đã bắt đầu rạng, điều đó thấy rõ nhất ở chỗ những cụm khói và những tán cây nổi lên trong không trung mỗi lúc một rõ nét. Chim hoạ mi hót, và từ ngoài đồng vọng lại tiếng chim cút gọi.

— Thôi, đến giờ đi ngủ rồi, Ta-nhi-a nói. Mà trời cũng lạnh nữa. Cô khoác tay anh. Cảm ơn anh An-đriu-sa đã về chơi. Những người quen của nhà em đều chẳng có gì thú vị, mà cũng chẳng được mấy người. Nhà em chỉ có vườn, vườn, vườn, ngoài ra chẳng có gì nữa. Cây thân cao, cây thân lửng, cô cười, táo áp-poóc, táo rê-nét, táo bô-rô-vin-ca, ghép mắt, ghép cành… Tất cả, tất cả cuộc đời nhà em đều đổ vào khu vườn, đến nỗi em chẳng bao giờ mơ thấy gì khác ngoài cây táo với cây lê. Tất nhiên thế là tốt, là có ích, nhưng đôi khi em cũng muốn có thêm một cái gì khác cho đổi món. Em nhớ là ngày trước, mỗi khi anh về đây nghỉ hè hay về chơi, ngôi nhà như tươi mát hẳn lên, sáng sủa hẳn lên, như thể người ta vừa tháo những tấm vải bọc khỏi đèn chùm và bàn ghế. Hồi ấy em mới là đứa bé con, thế mà vẫn hiểu.

Cô nói với rất nhiều tình cảm. Chẳng hiểu sao, anh bỗng nghĩ rằng trong mùa hè này anh có thể quyến luyến cái sinh linh bé nhỏ, yếu ớt, nói nhiều này, có thể say mê rồi yêu cô, trong hoàn cảnh của hai người thì điều đó thật dễ xảy ra và thật tự nhiên! Ý nghĩ ấy khiến anh vừa cảm động vừa buồn cười. Anh cúi xuống khuôn mặt dễ thương, đầy lo âu kia, và khẽ hát:

Ô-nhê-ghin ơi, ta chẳng giấu,

Ta yêu Ta-chi-a-na đến điên cuồng…

Khi họ về đến nhà thì ông I-ê-gô Xê-mê-nư-ch đã dậy. Cô-vrin không buồn ngủ, anh bắt chuyện với ông già rồi cùng ông quay lại vườn. Ông I-ê-gô Xê-mê-nư-ch người cao lớn, vai rộng, bụng to, hay bị khó thở, nhưng lúc nào cũng đi nhanh đến nỗi khó mà theo kịp. Trông ông lúc nào cũng hết sức bận rộn, lúc nào cũng vội vã đi đâu đó, với vẻ mặt như thể chỉ cần chậm một phút thôi là mọi thứ tiêu tan hết!

— Đấy, chú em ạ, chuyện là thế này… ông bắt đầu, dừng lại để lấy hơi. Trên mặt đất, như chú thấy đấy, thì sương giá, nhưng giơ cái nhiệt kế lên đầu một cây sào, cao chừng bốn mét, thì ở trên ấy lại ấm… Tại sao lại thế?

— Quả thật cháu không biết, Cô-vrin nói và bật cười.

— Hừm… Tất nhiên là không thể biết hết mọi thứ… Trí óc có rộng đến đâu cũng chẳng chứa hết được. Chú thì chủ yếu là về triết học phải không?

— Vâng. Cháu giảng tâm lý học, còn nói chung thì nghiên cứu triết học.

— Thế không thấy chán à?

— Ngược lại, cháu chỉ sống bằng cái đó thôi.

— Thôi thì cầu Chúa… ông I-ê-gô Xê-mê-nư-ch nói, trầm ngâm vuốt bộ tóc mai bạc. Cầu Chúa… Ta mừng cho chú lắm… mừng lắm, chú em ạ…

Nhưng bỗng ông lắng tai nghe, rồi mặt mũi dữ tợn, ông chạy sang một bên, và chẳng mấy chốc biến mất sau những hàng cây, trong những đám khói.

— Đứa nào buộc ngựa vào cây táo thế này? có tiếng ông kêu tuyệt vọng, xé ruột xé gan. Thằng khốn nạn, thằng đểu cáng nào dám buộc ngựa vào cây táo? Lạy Chúa tôi, lạy Chúa tôi! Làm hỏng hết, làm chết rét hết, làm bẩn hết, làm nát bét hết rồi! Mất vườn rồi! Tan nát cả vườn rồi! Lạy Chúa tôi!

Khi ông quay lại chỗ Cô-vrin, mặt ông phờ phạc, đầy vẻ bị xúc phạm.

— Thì biết làm gì với cái lũ người đáng nguyền rủa này? ông nói bằng giọng như mếu, dang hai tay ra. Thằng Xtiép-ca đêm qua chở phân, lại đi buộc ngựa vào cây táo! Cái thằng khốn quấn dây cương chặt cứng, làm vỏ cây trầy mất ba chỗ. Thế có được không cơ chứ! Ta nói với nó, thì nó cứ ngây ra như phỗng, chỉ biết chớp mắt! Treo cổ cũng còn chưa đáng!

Bình tĩnh lại rồi, ông ôm lấy Cô-vrin, hôn lên má anh.

— Thôi thì cầu Chúa… cầu Chúa… ông lẩm bẩm. Ta rất mừng là chú đã về. Mừng không kể xiết… Cảm ơn chú.

Rồi vẫn với dáng đi vội vàng và vẻ mặt lo âu ấy, ông đi một vòng khắp vườn, chỉ cho người học trò cũ của mình xem tất cả các nhà kính, nhà ươm, các lán trồng cây và hai trại ong mà ông gọi là kỳ quan của thế kỷ chúng ta.

Trong lúc họ đi, mặt trời đã lên, chiếu sáng rực rỡ cả khu vườn. Trời ấm dần. Linh cảm thấy một ngày dài, trong trẻo, vui tươi, Cô-vrin nhớ ra rằng bây giờ mới là đầu tháng Năm, và phía trước còn cả một mùa hè cũng trong trẻo, vui tươi và dài như thế, và bỗng trong lồng ngực anh xao động một cảm giác vui sướng, trẻ trung, như cảm giác anh từng có hồi bé, khi chạy nhảy khắp khu vườn này. Và chính anh ôm lấy ông già, hôn ông thắm thiết. Cả hai đều xúc động, cùng đi vào nhà uống trà trong những chiếc tách sứ cổ, có kem sữa, có những chiếc bánh vòng bơ béo ngậy. Và những chi tiết nhỏ nhặt ấy lại làm Cô-vrin nhớ đến tuổi thơ và tuổi trẻ của mình. Hiện tại tươi đẹp hoà lẫn với những ấn tượng của quá khứ đang thức dậy trong anh, khiến lòng anh chật chội, nhưng dễ chịu.

Anh đợi đến khi Ta-nhi-a thức dậy, cùng cô uống cà phê, đi dạo, rồi về phòng mình ngồi làm việc. Anh chăm chú đọc, ghi chép, thỉnh thoảng ngước mắt nhìn những cánh cửa sổ mở toang hoặc những bông hoa tươi còn ướt sương cắm trong bình trên bàn, rồi lại cúi xuống trang sách, và anh cảm thấy dường như từng sợi gân nhỏ trong người mình đang run lên, đang nhảy múa vì sung sướng.

Ở quê, anh vẫn tiếp tục sống một cuộc sống căng thẳng, bồn chồn như ở thành phố. Anh đọc và viết rất nhiều, học tiếng Ý, và khi đi dạo, anh khoan khoái nghĩ rằng chẳng mấy chốc mình sẽ lại ngồi vào bàn làm việc. Anh ngủ ít đến nỗi ai cũng ngạc nhiên. Nếu tình cờ ban ngày anh chợp mắt nửa giờ, thì sau đó anh thức trắng cả đêm, và sau một đêm mất ngủ, anh vẫn thấy mình khoẻ khoắn, vui vẻ như không có chuyện gì.

Anh nói nhiều, uống rượu vang và hút những điếu xì gà đắt tiền. Đến nhà Pê-xốt-xki thường xuyên, gần như ngày nào cũng có, là mấy cô tiểu thư hàng xóm, họ cùng Ta-nhi-a chơi dương cầm và hát. Thỉnh thoảng lại có một chàng trai trẻ hàng xóm đến, chơi vĩ cầm rất hay. Cô-vrin nghe nhạc và nghe hát một cách thèm khát, đến kiệt sức, và sự kiệt sức ấy biểu hiện ra bằng thân thể: mắt anh díp lại và đầu anh nghiêng hẳn sang một bên.

Một lần, sau bữa trà tối, anh ngồi đọc sách ngoài ban công. Trong phòng khách lúc ấy, Ta-nhi-a hát giọng nữ cao, một cô tiểu thư hát giọng nữ trầm, và chàng trai kéo vĩ cầm, đang tập bản dạ khúc nổi tiếng của Bra-ga. Cô-vrin lắng nghe lời hát, lời bằng tiếng Nga, mà không sao hiểu được ý nghĩa. Cuối cùng, gác sách sang một bên và chăm chú lắng nghe, anh mới hiểu: một cô gái có trí tưởng tượng bệnh hoạn, ban đêm trong vườn nghe thấy những âm thanh bí ẩn nào đó, đẹp và lạ lùng đến mức cô phải nhận rằng đó là một khúc hoà âm thiêng liêng, mà con người phàm tục chúng ta không hiểu nổi, cho nên nó lại bay trở về trời. Mắt Cô-vrin bắt đầu díp lại. Anh đứng dậy, mệt lả, đi một vòng qua phòng khách, rồi qua phòng lớn. Khi tiếng hát dứt, anh khoác tay Ta-nhi-a, cùng cô ra ban công.

— Từ sáng đến giờ tôi cứ bận lòng về một truyền thuyết, anh nói. Không nhớ là tôi đọc được ở đâu hay nghe ai kể, nhưng là một truyền thuyết lạ lùng, chẳng giống cái gì cả. Trước hết, nó chẳng rõ ràng lắm. Một nghìn năm trước, có một vị tu sĩ mặc áo đen đi qua sa mạc, ở đâu đó bên Xi-ri hay A-rập… Cách nơi ông ta đi mấy dặm, những người đánh cá trông thấy một vị tu sĩ áo đen khác đang chầm chậm đi trên mặt hồ. Vị tu sĩ thứ hai ấy là một ảo ảnh. Bây giờ cô hãy quên hết mọi định luật quang học đi, vì hình như truyền thuyết này không công nhận chúng, rồi nghe tiếp nhé. Từ ảo ảnh ấy sinh ra một ảo ảnh khác, rồi từ ảo ảnh khác lại sinh ra ảo ảnh thứ ba, cứ thế hình bóng vị tu sĩ áo đen được truyền đi mãi không dứt từ tầng khí quyển này sang tầng khí quyển khác. Người ta thấy ông ta khi thì ở châu Phi, khi ở Tây Ban Nha, khi ở xứ Mê-đi, khi ở tận miền Bắc xa xôi… Cuối cùng, ông ta ra khỏi giới hạn bầu khí quyển trái đất, và giờ đây đang lang thang khắp vũ trụ, mãi chẳng gặp được những điều kiện để có thể mờ đi. Có lẽ bây giờ người ta đang trông thấy ông ta ở đâu đó trên sao Hoả, hoặc trên một ngôi sao nào đó của chòm Thập Tự Phương Nam. Nhưng cô bạn thân mến ạ, cái cốt lõi, cái điểm mấu chốt của truyền thuyết lại là ở chỗ: đúng một nghìn năm sau cái ngày vị tu sĩ đi qua sa mạc, ảo ảnh sẽ lại rơi vào bầu khí quyển trái đất và hiện ra trước mắt con người. Mà nghe nói một nghìn năm ấy đã sắp hết rồi… Theo truyền thuyết thì ta phải chờ vị tu sĩ áo đen nay mai thôi.

— Một ảo ảnh lạ lùng, Ta-nhi-a nói. Cô không thích cái truyền thuyết ấy.

— Nhưng lạ lùng nhất, Cô-vrin cười, là tôi không sao nhớ nổi cái truyền thuyết ấy chui vào đầu tôi từ đâu. Đọc ở đâu chăng? Nghe ai kể chăng? Hay có lẽ tôi đã nằm mơ thấy vị tu sĩ áo đen? Thề có Chúa, tôi không nhớ. Nhưng truyền thuyết ấy làm tôi bận lòng. Hôm nay tôi nghĩ về nó suốt cả ngày.

Để Ta-nhi-a trở vào với khách, anh ra khỏi nhà, trầm ngâm đi dạo quanh các bồn hoa. Mặt trời đã lặn. Những bông hoa vừa được tưới tỏa ra một mùi ẩm ướt, kích thích. Trong nhà lại có tiếng hát, và từ xa, tiếng vĩ cầm nghe như tiếng người. Cố vắt óc nhớ xem mình đã nghe hay đọc truyền thuyết ấy ở đâu, Cô-vrin thong thả đi về phía khu vườn cổ, và lúc nào không biết đã đến bên bờ sông.

Theo con đường mòn chạy dọc bờ dốc qua những rễ cây trơ trụi, anh đi xuống sát mặt nước, làm kinh động lũ chim dẽ, làm hai con vịt giật mình bay vụt lên. Trên những cây thông u ám, đó đây vẫn còn ánh lên những tia nắng cuối cùng của mặt trời đang lặn, nhưng trên mặt sông thì đã thực sự là buổi tối. Cô-vrin đi qua chiếc cầu ván sang bờ bên kia. Trước mặt anh bây giờ là một cánh đồng rộng, phủ lúa mạch đen non còn chưa trổ bông. Không một mái nhà, không một bóng người ở phía xa, và dường như con đường mòn kia, nếu cứ theo nó mà đi, sẽ dẫn tới đúng cái nơi bí ẩn, chưa ai biết, nơi mặt trời vừa lặn xuống và nơi ráng chiều đang rực cháy mênh mông, hùng vĩ đến thế.

«Ở đây sao mà rộng rãi, tự do, yên tĩnh! Cô-vrin nghĩ, vừa đi theo con đường mòn. Dường như cả thế giới đang nhìn mình, nín thở chờ mình hiểu nó…»

Nhưng kìa, những đợt sóng chạy qua cánh đồng lúa mạch, và làn gió chiều nhẹ nhàng mơn trên mái đầu để trần của anh. Một phút sau lại một cơn gió nữa, nhưng mạnh hơn, lúa mạch xào xạc, và sau lưng vọng lại tiếng rì rào trầm đục của rặng thông. Cô-vrin dừng lại, sững sờ. Ở chân trời, như một cơn lốc hay một cột vòi rồng, một cột đen cao vút đang dựng lên từ mặt đất đến tận trời. Đường viền của nó không rõ, nhưng ngay từ giây phút đầu tiên đã có thể hiểu rằng nó không đứng yên, mà đang lao đi với tốc độ khủng khiếp, lao chính về phía này, thẳng về phía Cô-vrin, và càng đến gần, nó càng nhỏ lại và càng rõ hơn. Cô-vrin lao sang bên, vào ruộng lúa, để tránh đường cho nó, và chỉ vừa kịp làm thế…

Một vị tu sĩ mặc áo đen, đầu tóc bạc trắng, lông mày đen, hai tay khoanh trước ngực, lướt qua anh… Đôi bàn chân trần của ông không chạm đất. Khi đã lướt qua chừng sáu bảy mét, ông ngoảnh lại nhìn Cô-vrin, gật đầu và mỉm cười với anh, trìu mến mà đồng thời cũng tinh quái. Nhưng khuôn mặt ấy mới xanh xao, xanh xao khủng khiếp, gầy gò làm sao! Lại bắt đầu lớn dần lên, ông bay qua sông, va không một tiếng động vào bờ đất sét và những cây thông, rồi xuyên qua chúng, tan biến như làn khói.

— Thế đấy, thấy chưa… Cô-vrin lẩm bẩm. Vậy là truyền thuyết có thật.

Không cố tìm cách giải thích hiện tượng lạ lùng ấy, chỉ riêng việc được nhìn thấy gần và rõ đến thế không chỉ bộ áo đen mà cả khuôn mặt và đôi mắt của vị tu sĩ đã đủ làm anh hài lòng, anh trở về nhà trong một nỗi xao xuyến dễ chịu.

Trong khu vườn cổ và trong vườn cây, người ta vẫn đi lại bình thản, trong nhà vẫn có tiếng đàn, vậy là chỉ có mình anh trông thấy vị tu sĩ. Anh rất muốn kể hết với Ta-nhi-a và ông I-ê-gô Xê-mê-nư-ch, nhưng anh nghĩ rằng chắc họ sẽ cho lời anh là mê sảng, và điều đó sẽ làm họ sợ, tốt hơn là im lặng. Anh cười to, hát, nhảy điệu ma-du-rơ-ca, anh thấy vui, và mọi người, cả khách lẫn Ta-nhi-a, đều thấy hôm nay mặt anh có một vẻ gì đặc biệt, rạng rỡ, đầy cảm hứng, và anh thật là thú vị.

— Hết chương 1 —

Mục lục Tu sĩ áo đen

  1. 1Truyền thuyết và cánh đồng lúa17 phút
  2. 2Người được Chúa chọnĐang thu âm
  3. 3Đám cưới và đêm đôngĐang thu âm
  4. 4Bức thư ở Xê-va-xtô-pônĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAnton Chekhov (1860 – 1904)
Năm mất1904
Xuất bản lần đầu1894
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Чёрный монах, 1894
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →