Phần 1
Xưa nay muôn việc ở đời,
Nên hư cũng bởi ý trời định phân.
Bôn chôn lo tính xa gần,
Rồi ra mới biết cái phần về đâu.
Trải xem truyện tích xưa sau,
U tình đôi đoạn xót đau nảo nề.
Nhà văn quen thú hoát lê,
Sớm lo quan sự, tối đề câu thi.
Mặc ai tranh thế cạnh thì,
Giử lòng chánh trực, vẹn bề thinh danh.
Bình sanh vì một chử tình,
Thấy người đồng bịnh với mình mà thương.
Trải qua mấy cuộc đoạn trường,
Việt-Nam hiếm kẽ chi nhường Trung-hoa.
Thế tình hủy bán của nhà:
Chuyện người khen vội, chuyện ta chê dè.
Ức lòng nên mới tè be,
Nôm na ít vận, khen chê dầu người.
Trong năm ngàn tám tám mươi,
Bốn phương lặng lẻ, các nơi thái bình.
Lầu, đài, cầu, lộ, kinh dinh;
Thái-tây học-hiệu phép lành dạy dân.
Tơi bời kẻ cựu người tân,
Hơn thua phải trái, khó phân khó lường.
Mấy người biết thói cải lương,
Đua nhau cho trẻ vào trường Langsa.
Họ Lê người huyện Tân-hòa,
Mỷ danh Tấn-Nghĩa, trong nhà đủ ăn.
Lòng son nẽ, dạ mực băng,
Đức nhơn nắm giử, mối lằn mặc ai.
Rốt lòng có một con trai,
Tấn-Nhơn tên đặt vốn loài thơ-hương.
Đầu lòng một ả Hạnh-Nương,
Tuổi vừa hai tám chi nhường Hằng nga.
Diệu-dàng tơ liểu thớt tha,
Cao tường kính cổng, nguyệt hoa trối người.
Giàu sang hang hỏi hiếm nơi,
Xe tơ kết chỉ, ông trời chưa phân.
Tấn-Nhơn đáng mặt văn nhân,
Tuổi nên mười bốn tinh thần có dư.
Lời tao nhả, nết hiền từ,
Sử kinh lảu thuộc, thiên tư đâu là?
Nam rồi lại học Lang-sa,
Đồng song nể mặt, mẹ cha vui lòng.
Có nhà Lâm-thị cách song,
Ruộng đo kể dậm, lúa đong kể vàng.
Chẳng trai thiệt phận giàu sang,
Lẻ loi chúc gái, tên nàng Cúc-Hương.
Thông minh nhan sắc phi thường,
Mặt như mảng nguyệt, miệng dường đào hoa.
Thấy nàng cá lặng nhạn sa,
Khi vào liểu múa, khi ra hoa chào.
Hương trời sắc nước mấy màu,
Ngó sen non nhớt, thơ đào bảnh bai.
Tuổi nàng vừa mới mười hai,
Dưới trên thứ lớp, trong ngoài khích khao.
Tấn-Nhơn có rảnh khi nào,
Lân la qua lại biết bao nhiêu lần;
Càng lui càng tới càng thân,
Không trai Lâm-lảo muôn phần dấu yêu.
Xuôn pha ngoài thính trong liêu,
Với Hương bậu bạn mai chiều bút nghiên.
Khi dưới cội, khi trước hiên,
Khi xem hoa nở, khi biên câu đề.
Nhìn én liện, ngó nhạn về,
Tay cầm trên cỏ, vai kề ngoài sân.
Đồng văn đồng triệt lẻ hằng,
Tâm đầu ý hiệp dể phân đâu là.
Vợ chồng Lâm-lão trông ra,
Thơ ngây hai trẻ vậy mà biết chi.
Lại thêm chuyện vản mấy khi,
Bên thì nghiêm nghị, bên thì đoan trang
Đôi khi dọ thử ý nàng,
Mới hay băng tuyết, rỏ ràng trắng trong.
Đã tin song cũng phải phòng;
Sợ lang bộc nết, sợ phong nguyệt lời.
Cho hay sắc nước tài trời,
Tuy thân thích mặc, dám bươi móc lòng.
Đôi đàng ngọc trắng gương trong,
Đã cho tri-kỷ còn mong nỗi gì.
Cúc-Hương có chị bạn dì,
Xuân-lan tên đặt, phương phi diệu dàng.
So đi sánh lại với nàng,
Đức tài kém chút, dung nhan tương đồng.
Một nền sắc nước phĩ phong,
Trăm năm duyên nợ tơ hồng chưa xe.
Thấy Nhơn dạ nọ lăm le,
Muốn trao tin nhạn, muốn đề lá ngô.
Những lăm gởi phận liểu bồ,
Hay đâu máy tạo khó đo khó lường.
Thợ trời muốn vẻ chàng Lương,
Sẳng dành Mạnh-thị một phương đã rồi,
Duyên Nhơn rày đã định nơi,
Bụng Lan dầu muốn, ăn Trời sao qua.
Lần lừa ngày lụn tháng qua,
Sương thay nắng đổi tính đà ba năm.
Cúc-hương đầu đã cài trâm,
Gặp xuân, hoa lại càng đằm càng xuê.
Đêm trường trằn trọc trướng huê,
Biết sau thân phận định về nơi nao.
Trải xem nam-tử Lục-châu,
Mấy ai đáng mặt mày râu đời nầy.
Chàng Nhơn từ biết đến nay,
Trông ra tài trí, ít tay dám bì.
Tuy giờ bạch ốc hàng vi,
Kim-môn ngọc-bội gặp thì như chơi.
Lòng chàng một mảy không dời.
Làm đâu mực thước, nói thời khiêm cung.
Bấy lâu bậu bạn nhau cùng,
Tình chàng chậu úp bịch bùng khó soi.
Tới lui ăn nói hẳng hòi,
Một lòng vàng đá không mòi gió trăng.
Trộm thương yêu đó khôn ngằn,
Gẫm âu đáng chỗ trao thân gởi mình.
Bao nhiêu tâm sự u minh,
Biết chàng thấu đặng tắm tình hay không.
Mãng còn trằn trọc loan phòng,
Canh gà thôi thúc, trời đông ác lò.
Chuyện ai thời nấy biết cho,
Ngổn ngang dạ ngọc ai lo ai ngờ.
Cách làng có kẻ đem thơ,
Vội vàng Lâm-lảo bây chừ giở xem.
Mới hay hôn sự nhà em,
Vợ chồng sữa soạn lể đem chúc mầng
Ba đi căn dặn mấy lần:
«Cúc-hương, con khá ân cần ngoài trong».
Một mình quạnh quẻ loan phòng,
Nổi chàng vấn vích bên lòng biếng khuây.
Tài tình ấy, thân phận nầy,
Trăm năm biết có sum vầy cùng chăng?
Gió tây phưởng phất bên màng,
Trông ra chợt thấy Xuân-lan bước vào.
Cúc-hương vội vả tiếp chào,
Cầm tay thẳng tới vườn đào xem huê.
Cảnh lăm gặp bạn càng xuê,
Hai nàng cười cợt, tư bề chim reo.
Trông ra ngoài giã vắn teo,
Hiu hiu ngọn gió như khêu lòng vàng
Cúc-Hương bổng chúc bàn hoàn,
Tơ tình như đã vươn man vào lòng.
Giã vui hứng gió xem bông,
Tấn nhơn, bổng lối tường đông, bước vào.
Hai nàng mừng rở rước chào,
Hàng huyên hang hõi cùng nhau tơi bời.
Thừa khi xuôi dọng êm hơi,
Cúc-hương thỏ thẻ đôi lời dọ Nhơn:
«Thiếp còn chưa rỏ nguồn cơn;
Xin chàng luận chữ nhơn duơn thế nào?»
Sanh rằng: «Đất rộng Trời cao,
Cang thường đạo trọng, dể sao luận bàn.
Ví như nhan sắc giàu sang,
Thiếu câu tùng đức, đi màng làm chi.
Làm người mà biết xét suy,
Miểng cho nhơn nghĩa, hàng vi cũng đành.»
Dức lời nàng lại hỏi quanh:
Chẳng hay trong ý chàng đành nơi nao?
Thung huyên tóc hạc tuổi cao,
Màng thêu khi đã sớm trao chỉ điều?»
Sanh rằng: «Chữ sĩ nặng trìu,
Công danh chưa toại, tơ điều tính đâu.
Tóc tơ xe kết ví dầu,
Tại cha mẹ định, ai hầu dám đang.»
Nghe qua lời nói thẳng băng,
Dạ nàng bối rối, mặt nàng ngẩn ngơ.
Còn gì rày ước mai mơ,
Cấm thuyền từ thuở đợi chờ kìa ai?
Kim-ô đã gát hiên tây,
Tấn-nhơn từ tạ phân tay ra về.
Cúc-Hương nữa tỉnh nữa mê,
Nhìn trăng thẹn mặt trông huê tủi lòng.
Dắc Lan trở lại loan phòng,
Cầm tay to nhỏ bày lòng đầu đuôi.
Rằng: «Duyên em, nghĩ ngậm nguồi,
Biết sau thân phận, nổi trôi chốn nào.
Cùng Nhơn quen biết bấy lâu,
Tình ưa ý đẹp một màu tri âm.
Những mong kết tóc trăm năm,
Càng ngày càng lớn càng thâm bể tình.
Trộm nguyền vàng đá giữ gìn,
Dầu ai sang trọng muôn nghìn mặc ai.
Thấy người quốc-sĩ thiên-tài,
Tấm lòng luyến mộ, ước hoài năm canh.
Một hai: cữa Khổng sân Trình,
Thang mây chưa bước, tơ tình dám đâu.
Gái lành trinh tiết làm đầu,
Cạn lời chẳng lẻ, tình sâu khó bày.
Muốn nên Tần Tấn duyên vầy,
Phải toan cậy chị thày lay ướm lòng.
Oang-ương dầu đặng tương phùng,
Ngậm vành kết cỏ, ngỏ phòng chờ cơn.»
Lan rằng: «Trời đất cân phân:
Tơ vò trăm mối gở lần phải ra.
Thân em là cũng thân qua,
Biết thương đồng bịnh mới là chị em.
Chàng Nhơn vì một chữ hiềm,
Nên còn dùng thẳng yêm liềm bấy nay.
Khuyên em gát mối sầu tây,
Sông Tương để chị ra tay đưa cùng».
Trời khuya trăng dọi bên song,
Hai nàng hai ngã vào phòng nghỉ ngơi.
Xuân-Lan lở khóc lở cười,
Nếu thương thân bạn, phanh phuôi duyên mình.
Đêm nằm trằn trọc năm canh,
Suy đi tính lại biết sanh kế nào.
Nghỉ: Hương, cữa lớn nhà cao,
Trai tài gái đức chắc sao cũng đành.
Phụng loan kết cánh trên nhành,
Oang ương lẽ bạn buồn tanh liệu chừ?
Muốn cho cho vẹn lòng mơ,
Chồi non phải dứt, đừng chờ cội cao.
Kiếm chàng dọ thử âm hao,
Ướm coi lòng dạ làm sao cho tường.
Ví chàng chẳng chút tình thương,
Bây chừ toan kế liệu phương cho đành
Thảm thay những kẻ thật tình
Hay nghe nên mắc, hay tin nên lằm.
Thói đời nghỉ lại ngán ngầm,
Phân ưu ít kẻ, lang tâm hiếm người.
Vừng hồng vừa lố chơn trời,
Xuân-Lan vội vã trao lời cùng Nhơn.
Đầu giây mối nhợ thiệt hơn,
Lòng Hương tỏ hết nguồn cơn đoạn trường.
Chàng nghe chẳng xiết nỗi thương,
Song lòng quân-tử dễ lường đặng đâu.
Trầm ngâm suy nghĩ giây lâu,
Nghĩ rồi chàng mới ít câu gạt nàng:
«Đừng chỉ nẻo, chớ đem đàng,
Làm-ông hay đặng khó toàn thinh danh.
Người tin ta, ta giữ gìn
Ai đi lấy nghĩa làm tình cho đang.»
Mấy lời như mở dạ Lan,
Trở về to nhỏ cùng Hương tỏ bày.
Hương nghe ủ mặt châu mày,
Biển sầu càng khắc càng đầy càng sâu.
Vườn xuân liểu ủ hoa xâu,
Mày tần biến sắc đổi màu chỉn ghê.
Đêm khuya dọt lụy tràn trề:
«Trách ai nỡ để nặng nề lắm chi!
Trăm năm ví chẳng duyên gì,
Thà đừng quen biết từ khi ban đầu.
Để chi đào lý gần nhau,
Làm cho gió thảm mưa sầu năm canh.
Ghét ghen chi lắm! Trời xanh!
Đã cho trăm tuổi chỉ mành lẩn sao?»
Ngổn ngang dạ ngọc như bào,
Mối sầu khôn dứt, dọt châu khó cầm.
Thướt tha vóc liểu sương xâm,
Cháo cơm biếng ngó, câu ngâm quên lời.
Tấn-Nhơn thừa rảnh sang chơi,
Thấy nàng nhan sắc kém tươi nửa phần.
Ngụ tình chàng mới lại gần,
Lừa khi thanh vắn phân trần tình chung.
Rằng: «Nàng quyết vẹn thỉ chung,
Ấy là ơn, chất muôn trùng non cao.
Cùng Lan chẳng khứng lời trao,
Là vì sợ tiếng bán rao chê cười.»
Dức lời chưa kịp trả lời,
Ngoài hiên bổng thấy bóng người lại qua.
Vội vàng hai ngã dang ra,
Kiếm lời hang hỏi gần xa dông dài.
Từ đây Hương bớt ai hoài,
Tóc tơ có mối, duyên hài có nơi.
Bi hoan cũng tại một lời,
Tiếc chi cho nặng lòng người bấy nay.
Hương, Nhơn ly hiệp còn dài,
Hạnh-nương duyên phận sau đây bày tường.
Người đồng xứ, kẻ tha hương,
Mắt xanh từ thuở chưa chường ngó ai.
Một nguyền cữa đóng then gài,
Chờ người hào-kiệt anh tài mới ưng.
Khách du bổng có Triệu-Luân,
Thung-huyên sớm khuất, gởi thân giang hồ.
Mặc ai danh lợi so đo,
Dọc ngan rừng thánh, quanh co non thần.
Một nền văn chấc bàn bân,
Sách đèn vui thú, châu trần chưa loan.
Lòng chánh trực, khí hiên ngan,
Thi ân bảo nghĩa mọi đàng chẳng sai.
Kim-bằng ngọc-hữu vản lai,
Kể ra cho hết cũng vài ba trăm.
Lưu liên đãi khách đồng tâm,
Gia tài sự nghiệp ít năm tan tành,
Xa gần đều mến tiếng lành,
Bạc tiền dầu hết trâm anh còn nền
Giang hồ đã chín năm trên.
Phong trần lắm lúc, nêu tên khắp ngàn.
Tân-hòa vừa buổi mới sang,
Ngọc lành chờ giá, nghe nàng Hạnh-nương.
Tơ hồng khen khéo vấn vương.
Nhạn nam én bắc phải duơn cũng gần.
Triệu-Luân mượn kẻ cầu thân,
Vợ chồng Lê-lão ân cần hỏi con.
Nàng rằng: «Ân nghĩa tày non,
Cù lao chưa trả, chồng con sao đành.»
Ông rằng: «Con chớ lo quanh,
Chàng Luân côi cử! tài lành thơm xa.
Bấy lâu rảo bước quan-hà,
Hiểu sâu, học rộng, thấy xa, nghe nhiều.
Đua chen danh lợi dập dều,
Như Hoành học thói mai chiều thong dong.
Gẩm người đáng mặt sàng đông;
Giàu sang phi nghĩa cũng không ra gì.
Con tua bạch thú tương kỳ,
Lấy câu tùng đức lễ nghi thờ chồng».
Chào xuân đào lý đơm bông,
Cỏ cây xanh biếc, ruộng đồng vàng gay.
Vợ chồng Lê-lảo chọn ngày,
Thỉnh mời thân tộc, đặt bày yến giêng.
Tình bậu bạn, nghĩa láng riềng,
Cúc-hương trang điểm sang liền giúp công.
Cổ bàn đơm dọn vừa xong,
Thừa lương nàng mới bước vòng mái sau.
Canh khuya trống trở tày lâu,
Nổi mình tưởng đến bổng châu đôi mày.
Một mình dở tỉnh dở say,
Bên đông chợt thấy lung lay hải-đường.
Vội vàng bước trái góc tường,
Thoạt đâu có tiếng kêu Hương rõ ràng.
Dưới nhành bỗng thấy một chàng.
Xâm xâm bước tới bên nàng dừng chơn.
Trông ra thấy quả chàng Nhơn,
Ngại ngùn Hương muốn day lưng trở vào.
Nhơn rằng: «Chớ nể chi nhau;
Đã lòng quân-tử, có sao đâu mà.
Dừng chơn sau trước phân qua,
Kẻo lòng nghi ngại thiết tha bấy chầy.
Nguyền trăm năm ấy lòng đây,
Có thương giáp mặt tỏ bày mới an.
Biết lòng đấy chẳng phụ phàn,
Còn c một nổi dở dang duyên lành.
Người bạch ốc, kẻ trâm anh,
Lượng trên biết có dung tình cùng chăng?»
Dức lời lụy nhỏ khôn ngăn,
Cúc-Hương trông thấy lòng vàng bưng-khuân.
Rằng: «Đừng tính thiệt so hơn,
Cầu dươn, đâu phải cần dươn vì tiền.
Bấy lâu vàng đá trộm nguyền,
Tữ sanh xin quyết vẹn tuyền cùng nhau.
Mẹ cha dầu có làm sao,
Ép dầu ép mở nở nào ép duyên.
Thương chàng một đứng sĩ hiền.
Tất lòng riêng những thầm khen ngợi hoài.
Người phú hậu, kẻ anh tài,
Đấy đây dầu sánh nào ai kém gì?
Ấy chàng chớ dạ hồ nghi.
Một lời đinh sắt, xin ghi vào lòng.
Đường mây, mặc sức ruổi dong,
An lòng kẻ ở, vui lòng người đi.»
Chàng rằng: «Chút phận hàng vi,
Nhờ nàng chỉ vẽ đàng đi rộng dài.
Mấy lời xin nhớ mấy lời,
Ví dầu vật đổi sao dời chớ quên.
Vái cùng vai vác hai bên,
Ai mà đen bạc xin biên chép vào»
Mấy thu sầu thảm xiết bao,
Một lời phỉ dạ ước ao những ngày.
Nhìn nhau nửa tỉnh nửa say,
Trăng soi thấp thoản hương bay ngạt ngào.
Trời xuân ngọn gió lao rao,
Lưng vơi bể ái, thấp cao sóng tình.
Còn đương xẩn bẩn huê đình,
Tiếng chuông vội thức, chung tình vỡ tan.
Thợ trời cũng khéo đa đoan,
Đêm vui canh ngắn, đêm than canh dài.
Dằng lòng gạt lụy phân tay
Người vào nẻo trước, kẻ quày đường sau.
Trong nhà hai họ xôn xao,
Thời trân ép uống, rượu đào mới khuyên.
Triệu, Lê duyên đã phải duyên,
Anh hùng đẹp mặt, thuyền-quyên vui lòng.
Hương đương đượm, lữa đương nồng,
Đầu tường cây cỏ nảy bông đỏ vàng.
Tấn-Nhơn hành lý sửa sang,
Tạ từ cha mẹ, nhập tràng Mỹ tho.
Ông rằng: «Làm phận học trò,
Xôi kinh nấu sử phải lo đêm ngày.
Mẹ cha niên kỷ cao dài,
Mong con gởi bước thang mây kịp người.
Đừng mê tửu sắc chơi bời,
Lụy mình còn lại tiếng đời cười chê.»
Ngữa vưng nghiêm huấn mọi bề,
Vội vàng đội niếp đề huề thẳng xông.
Ra đi lòng dám quên lòng.
Ghé nhà Lâm lảo vào trong tạ từ.
Ông rằng: «Phận trẻ ngây thơ,
Gắn công đèn sách được nhờ có khi.
Hôn-nhơn chớ vội lo chi,
Rồng mây gặp hội, thiếu gì gái xinh.
Rừng hiền biển thánh minh minh,
Học mà ôn cố, mới thành thân cho.
Đường xa xứ lạ gay go,
Anh ngân đôi chục đưa trò hành trang.»
Sanh rằng: «Ơn dạy dư ngàn,
Lựa là còn phải bạc vàng nữa chi.»
Dứt lời bái tạ ra đi,
Ngoài hiên trông thấy nữ nhi một nàng.
Cúc Hương nết gái diệu dàng,
Áo xiêm tề chỉnh đợi chàng đã lâu.
Thưa rằng: «Dậm liễu ngàn dâu,
Nắng mưa một gối, thảm sầu một thân.
Bình an hai chữ xin dâng,
Nguyện Trời che chở cho thân phận trò.»
Đáp rằng: «Xin chớ xa lo,
Đạo làm trai phải quanh co hải hồ.
Lầu hồng đó khá lui vô,
An lòng cho kẻ lộ đồ nhảy bay.
Rồi đây rồi cũng sum vầy,
Bỏ cơn ly biệc, bỏ ngày đợi trông.»
Người lên ngựa, kẻ xa trông,
Vó cu đã khuất ngô-đồng mới thôi.
Người vào tú-các an nơi,
Thảm thay cho kẻ xa xuôi dặm trường.
Ngày dãi nắng, tối dầm sương,
Hai phen ác lặng cữa trường lần chen.
Cùng người đua việc sách đèn,
Tháng ngày mùi đạo đã quen tấm lòng.
Mấy lần thay lục đổi hồng.
Gương soi nết gái, gió lồng tài trai.
Phận chàng lo vẻ cân đai,
Phận nàng trong trướng ai hoài khá thương.
Từ khi gảy cuộc đá vàng,
Càng thương càng nhớ càng man mến tình.
Thầm trông danh toại công thành,
Đuốc hoa rạng đuốc, duyên lành đẹp duyên.
Từ khi du học xa miềng,
Tình tuy trăng gió, lời nguyền non sông.
Ngày đêm nữ hạnh nữ công,
Lẩy lừng danh tốt, nực nồng tiếng khen.
Giai nhơn tài tử đua chen.
Kẻ lăm le ngọc, người nhen nhúm tình.
Trời nam vừa buổi thái bình,
Ruộng vang-đầy mục, sông in ỏi chài.
Tân-hòa Huyện-giản có ngài,
Con nhà vốn có một trai giữ giềng.
Tên chàng là Tạ-văn-Thiên.
Dọc ngang cậy thế mượn quyền mẹ cha.
Ngày cờ bạc, tối rượu trà,
Nét ngang chưa biết chữ a chưa từng.
Mẹ cha cũng chẳng trị trừng.
Miểng là tom góp của dân cho nhiều.
Tánh tham dầu có bao nhiêu,
Cũng chưa là đủ, cũng kêu thiếu hoài.
Nghe Hương giàu có sắc tài,
Biểu làng cậy tổng làm mai con mình.
Lâm-ông hay rỏ sự tình,
Đêm khuya cùng vợ đinh ninh phân trần.
Rằng: «Già trộm thấy trò Nhơn,
Nhỏ mà lễ trí nghĩa nhơn đủ đều:
Mặc ai ong bướm dập dều,
Sớm khuya đèn sách, mai chiều bút nghiên.
Gẫm nên đáng mặt trai hiền,
Nhắm cùng ái nữ, phải duyên châu trần.
Chờ chàng đạp bước thanh vân,
Bấy chừ sẽ hiệp Tấn Tần cho xong.
Mà e duyên trẻ lông đông,
Đuốc hoa chưa tỏ, giày hồng muốn lơi.»
Bà rằng: «ông khéo nói chơi,
Gái nhà cửa tía, dựa người trắng tay!
Xin ông chớ khá đặt bày,
Mấy ai kiếm chữ mà vay bao giờ
Tin quân hay chữ mà nhờ,
Ở không nói phách, ngâm thơ phá tiền.
Phận mình dốt nát quê hèn,
Tổ nào theo nấy cho yên thân già.
Thầy Cai nói chuyện hôm qua,
Xa gần xét lợi cũng là cầu thân.
Con quan Huyện giản ở gần,
Tuy không ăn học, có phần mẹ cha.
Rể mà như vậy mới là,
Vào trong kẻ kính, bước ra người nhường.»
Ông rằng: «Tính mụ tinh thường
Gả con luận của, chẳng thương học trò.
Thôi đừng cãi lẩy so đo,
Tuy làm cha mẹ, phải dò lòng con.»
Song thưa hơi gió chen lòn,
Cúc-hương thiếp-thiếp đương ngon giấc nồng.
Vẳn nghe tiếng động bên phòng,
Dực mình, dở bức trướng hồng, bước ra.
Mới hay là tiếng mẹ cha,
Vội vàng sữa áo thẳng ra tiền đàng.
Thưa rằng: «Đêm vắng canh tràng,
Chẳng hay chưa nghỉ còn bàn việc chi?
Tấm lòng thiếu nữ hoài nghi,
Dử lành, xin tỏ hiển vi con tường.»
Ông bà thuật hết mọi đường:
«Bên yêu công tử, bên thương sĩ hèn.
Nên còn bất nhứt chưa yên.
Ái nhi khá tỏ ý riêng thế nào?»
Nghe qua héo liễu xủ đào,
Mà nàng cũng gượn gởi trao đôi lời.
Rằng: «Trời tệ lắm bấy Trời!
Cái đời má phấn là đời kể chi!
Đã không ích thể lợi thì,
Lại làm cha mẹ ghe khi cực lòng.
Nhìn thung thêm tuổi với thung,
Xơ rơ dưới bóng một bông hải-đường.
Một mai tị hộ mù sương,
Lấy ai gìn giữ vùa hương sau nầy?
Lòng con thầm tính bấy chầy:
Giả làm nam-tử ở vầy thờ thân.
Lượng trên dầu ép muôn phần,
Chọn trao chỉ Tấn tơ Tần mặc con.
Chọn người trung hiếu vuôn tròn,
Biển lưng không rúng, non mòn không day.
Chọn người văn chấc gồm hai,
Vào trong phong nhả, ra ngoài hào anh.
Chọn người lòng dạ tin thành,
Cậu cô lễ nghĩa, em anh thuận hòa.
Người sao được vậy mới là,
Một mai trông nối nghiệp nhà về sau.
Sá chi những kẻ sang giàu,
Xưa nay người phải, Trời nào phụ ru?
Sá chi lên vỏng xuống dù,
Rạng ngời ư ngoại, tối hù ư trung.
Sá chi con giống cháu dòng,
Tham quan ô lại, giống dòng mà chi?
Ngữa trông lượng cả rộng suy,
Có thương xin nhậm lời thì mới thương.»
Lâm-bà nghe mấy lời Hương,
Thốt rằng: «Con khéo làm phường gái lanh.
Huyện quan là bực trâm anh.
Biết đâu hơn nữa, mới đành dạ con?»
Ông rằng: «Nghỉ mấy lời con,
Như hoa trên gấm, như son thết vàng.
Lòng cha cũng biết phải chăng,
Ngặt vì quan Huyện nằng nằng cầu thân.
Vốn mình là bực con dân,
Trái người quyền tước thế thần dể đâu.
Con tua xét lại cho sâu,
Kỳ trong nửa tháng, lẽ nào phân qua.»
Cúc-hương trở gót trướng hoa,
Ruột gò chín khúc, lụy sa đôi hàng:
«Tình lang ôi! hởi tình lang!
Xa xui biết thiếp đoạn tràng nầy chăng?
Giận thay những lủ mối lăng,
Khéo thày lay miệng, cho ràng rộn duyên
Muốn cho cho vẹn chữ nguyền,
Thì là trái ý nhà huyên nhiều bề.
Còn như phụ nghĩa tương tri,
Thì là thẹn với chén thề lắm ôi!
Phận bèo đến thế thì thôi,
Đánh liều nhắm mắt coi trôi bến nào.»
Nỗi niềm tâm sự xiết bao,
Dưới đèn trông bóng lụy trào ướt khăn
Thành sầu cao ngất mấy tầng,
Mây sầu bốn phía bủa dăng mịt mù.
Hé mành trông bóng trăng lu,
Hỏi trăng: «trăng cũng thảm sầu đấy sao?
Nào khi đào lý tương giao,
Thinh thinh bóng thỏ, làu làu gương nga.
Mà nay ủ dột thu ba,
Trăng sao trăng cũng vì ta lu lờ.
Vái cùng bà nguyệt ông tơ,
Có thương xin chấp chỉ thừa cho săng.
Dọt châu dứt nối khôn ngăn,
Mối sầu càng gỏ càng phăn càng dài!»
Nỗi nàng than thở đêm ngày,
Tấn-Nhơn cữa vỏ đua tài nào hay.
Bốn năm công cáng đã dày,
Rồng mây gặp hội hương bay dặm ngàn.
Nhắn thơ về bái song đàng,
Chàng còn lước gió hàng ngàn theo sau.
Pha dậm liểu, trải ngàn dâu,
Tình xưa xảy chạnh những câu thề nguyền.
Nghỉ nay công toại danh thiền,
Thang mây nhẹ bước, rước tiên khó gì.
Nhớ khi từ tạ ra đi,
Lâm-ông lời dặn, còn ghi trong lòng.
Bấy lâu chút nghĩa đèo bòng,
Lẻ nào nay lại phụ lòng hay sao?
Một lời đã gắn tất dao,
Còn non còn nước, lẻ nào mà quên.
Một mai cá nước vầy duyên.
Trai tài gái sắc phỉ nguyền ước mơ.
Mảng còn thầm tính tóc tơ,
Ác vàng chen lặng, vườn xưa lố chừng.
Mẹ cha chẳng xiết nổi mừng,
Rộn ràng tiệc mở, tưng bừng nhạc ca.
Việc rồi nghỉ đến gần xa,
Vội vàng Nhơn mới sang nhà Lâm-ông.
Trước là vẹn chữ thỉ chung,
San là dọ thử coi lòng thể nao.
Nẻo xưa vừa mới bước vào,
Ông mừng, bà hỏi, nàng chào vui thay.
Hỏi tài ăn học bấy nay
Hỏi thân ấm lạnh, hỏi ngày vinh qui.
Đầu đuôi kể hết khuê ly,
Mấy năm khó nhọc, một khi vui mừng.
Dức lời chàng lại trông chừng.
Thấy nàng lụy ngọc rưng rưng đôi tròng.
Ức lòng muốn thấu đến lòng,
Ngặt ông bà đó, dể thông được lời?
Đau lòng lỡ khóc lỡ cười,
Dã ông chàng mới về nơi thảo đường.
Từ đây mù-mịt sông Tương,
Thâm nghiêm kín cổng cao tường biết đâu.
Đêm nằm lụy ứa thâm bâu,
Tuần trăng khuyết nửa, mối sầu chia hai.
Chỉ lăm cầm sắc hòa hai.
Vì đâu gây thảm, tại ai gieo hờn.
Xót thay cho phận chàng Nhơn,
Xa xuôi chưa rỏ nguồn cơn đi gì.
«Buồn là buồn nổi phân ly,
Ai dời gan tất cớ chi mà buồn.
Hay là bể ái lấp nguồn,
Hay là hương thệ mưa tuôn lạnh lùng.
Đau lòng ai, hởi tình chung!
Phụng loan dành để tương phùng lúc nao?»
— Hết chương 1 —
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương