Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Chương một. Cô gái ở Rô-gian-ca

Vì sao? · Chương 1/3 · của Lev Tolstoy

⏱ 12 phút🎙️ Giọng Bảo Trang📖 12.177 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Mùa xuân năm 1830, tới trang trại gia truyền…
  2. 2:04An-bi-na mười lăm tuổi khi I-ô-xíp Mi-gua-xki tới. Mi-gua-xki…
  3. 4:50Và vì thế, chỉ một mình An-bi-na biết vì…
  4. 7:13Có một lần, bà mẹ kế vào phòng cô,…
  5. 8:57Vác-sa-va bị chiếm, những đội quân riêng lẻ bị…
  6. 10:05Van-đa và An-bi-na mỗi người hiểu ý nghĩa những…
  7. 12:08Tháng mười một năm 1833, An-bi-na từ biệt người…

Chương 1: Chương một. Cô gái ở Rô-gian-ca

Mùa xuân năm 1830, tới trang trại gia truyền Rô-gian-ca của ông Gia-chép-xki có chàng thanh niên I-ô-xíp Mi-gua-xki, con trai duy nhất của người bạn đã mất của ông. Gia-chép-xki là một ông lão sáu mươi lăm tuổi, trán rộng, vai rộng, ngực rộng, bộ ria trắng dài trên khuôn mặt đỏ như gạch, một người yêu nước từ thời nước Ba Lan bị chia cắt lần thứ hai. Thuở thanh niên ông cùng cha Mi-gua-xki phục vụ dưới cờ của Cô-xtiu-scô, và bằng tất cả tâm hồn yêu nước, ông căm ghét Ê-ca-tê-ri-na Đệ Nhị, người mà ông gọi là con dâm phụ của sách Khải Huyền, và kẻ phản bội, người tình đê tiện của bà là Pô-ni-a-tốp-xki. Ông tin vào sự khôi phục nước Cộng hoà Ba Lan cũng như ban đêm tin rằng sáng mai mặt trời lại mọc. Năm mười hai ông chỉ huy một trung đoàn trong quân đội của Na-pô-lê-ông, người ông tôn sùng. Sự sụp đổ của Na-pô-lê-ông làm ông buồn, nhưng ông không tuyệt vọng về sự khôi phục, dẫu què quặt, nhưng dù sao vẫn là, vương quốc Ba Lan. Việc A-lếch-xan-đrơ Đệ Nhất mở nghị viện ở Vác-sa-va làm sống lại hy vọng của ông, nhưng Liên minh Thần thánh, sự phản động khắp châu Âu, sự độc đoán của đại công tước Công-xtan-tin đã đẩy ước nguyện thiêng liêng ra xa.

Từ năm hai mươi lăm, Gia-chép-xki về sống ở quê, chẳng đi đâu, ở lì Rô-gian-ca, làm ăn, săn bắn, đọc báo và thư từ, qua đó ông vẫn sôi nổi theo dõi các biến cố chính trị ở tổ quốc mình. Ông lấy vợ lần thứ hai, một cô gái quý tộc nghèo xinh đẹp, và cuộc hôn nhân ấy không hạnh phúc. Ông không yêu, không kính trọng người vợ thứ hai, thấy nặng nề vì bà, đối xử với bà tệ bạc, thô lỗ, như trút lên bà lỗi lầm của cuộc hôn nhân thứ hai. Với người vợ thứ hai không có con. Với người vợ đầu thì có hai cô con gái: cô chị Van-đa, một người đẹp đường bệ, biết giá trị nhan sắc của mình và buồn chán ở thôn quê, và cô em An-bi-na, đứa con cưng của bố, một cô bé hoạt bát, gầy gò, tóc vàng xoăn, đôi mắt xanh to sáng long lanh, cách xa nhau, giống hệt mắt bố.

An-bi-na mười lăm tuổi khi I-ô-xíp Mi-gua-xki tới. Mi-gua-xki trước đó, hồi còn là sinh viên, đã từng tới nhà Gia-chép-xki ở Vin-nô, nơi họ ở những mùa đông, và từng săn đón Van-đa. Còn lần này là lần đầu anh tới thăm họ ở quê với tư cách một người đàn ông đã trưởng thành, tự do. Việc chàng Mi-gua-xki trẻ tuổi tới khiến mọi người ở Rô-gian-ca đều vui. Ông lão Gia-chép-xki thích Mi-gua-xki vì anh làm ông nhớ tới bạn mình, cha anh, hồi cả hai còn trẻ, lại vì anh sôi nổi kể với những hy vọng hồng hào nhất về sự sục sôi cách mạng chẳng những ở Ba Lan mà cả ở nước ngoài, nơi anh vừa từ đó trở về. Bà Gia-chép-xka thích Mi-gua-xki vì có khách thì ông Gia-chép-xki kìm mình, không mắng bà về mọi chuyện như thường lệ. Van-đa thích anh vì cô tin chắc Mi-gua-xki tới vì cô và định cầu hôn cô. Cô định nhận lời, nhưng như cô tự nhủ, phải hành anh một chút cho anh biết quý. An-bi-na thì vui vì mọi người đều vui. Chẳng riêng Van-đa tin chắc Mi-gua-xki tới với ý định cầu hôn cô. Cả nhà đều nghĩ thế, từ ông lão Gia-chép-xki tới bà vú Lút-vi-ca, dẫu chẳng ai nói ra.

Và đó là sự thật. Mi-gua-xki đã tới với ý định ấy, nhưng ở được một tuần, anh bối rối, khổ tâm vì điều gì đó, rồi đi mất mà không cầu hôn. Mọi người đều ngạc nhiên vì sự ra đi bất ngờ ấy, và chẳng ai ngoài An-bi-na hiểu nguyên do. An-bi-na biết nguyên do sự ra đi lạ lùng ấy là cô. Suốt thời gian anh ở Rô-gian-ca, cô để ý thấy Mi-gua-xki chỉ đặc biệt sôi nổi, vui vẻ khi ở bên cô. Anh đối xử với cô như với trẻ con, đùa với cô, trêu cô, nhưng cô cảm thấy bằng bản năng đàn bà rằng cách anh đối xử với cô không phải là cách người lớn đối với trẻ con, mà của người đàn ông với người đàn bà. Cô thấy điều đó trong cái nhìn say sưa ngắm, trong nụ cười trìu mến mà anh đón cô khi cô vào phòng, tiễn cô khi cô đi ra. Cô không hiểu rõ đó là gì, nhưng cách anh đối xử ấy làm cô vui, và cô bất giác cố làm những điều anh thích. Mà anh thì thích mọi điều cô làm. Vì thế khi có anh, cô làm mọi việc với một sự hăng hái đặc biệt. Anh thích cô chạy đua với con chó săn tuyệt đẹp, nó nhảy chồm lên cô, liếm khuôn mặt hồng hào rạng rỡ của cô. Anh thích cô hễ có chút cớ là cười vang lanh lảnh, lây sang người khác. Anh thích cô vẫn cười bằng mắt mà làm ra vẻ nghiêm trang trong buổi giảng đạo buồn tẻ của cha xứ. Anh thích cô bắt chước giống đến lạ thường và buồn cười, lúc thì bà vú già, lúc thì ông hàng xóm say rượu, lúc thì chính anh, Mi-gua-xki, chuyển từ người này sang người kia trong nháy mắt. Anh thích nhất là niềm vui sống say sưa của cô, như thể cô vừa mới biết trọn vẹn hết vẻ đẹp của cuộc sống và vội vã tận hưởng nó. Anh thích niềm vui sống đặc biệt ấy của cô, mà niềm vui sống ấy lại càng bừng lên, càng mạnh thêm chính vì cô biết nó làm anh say mê.

Và vì thế, chỉ một mình An-bi-na biết vì sao Mi-gua-xki tới để cầu hôn Van-đa lại ra đi mà không cầu hôn. Tuy cô không dám nói điều ấy với ai, cũng không nói rõ ra với chính mình, nhưng tận đáy lòng cô biết anh đã muốn yêu cô chị, và lại yêu cô, An-bi-na. An-bi-na rất ngạc nhiên về điều ấy, cô coi mình hoàn toàn chẳng đáng gì so với cô chị Van-đa thông minh, có học, xinh đẹp. Nhưng cô không thể không biết rằng đúng là thế, và không thể không vui vì điều ấy, vì chính cô đã yêu Mi-gua-xki bằng hết thảy tâm hồn mình, yêu như người ta chỉ yêu lần đầu và chỉ một lần trong đời.

Cuối mùa hè, báo chí đưa tin về cuộc cách mạng ở Pa-ri. Ngay sau đó bắt đầu có tin về những cuộc nổi dậy đang được chuẩn bị ở Vác-sa-va. Gia-chép-xki vừa sợ vừa hy vọng, chờ từng chuyến thư tin về vụ ám sát Công-xtan-tin và cuộc cách mạng bắt đầu. Cuối cùng vào tháng mười một, ở Rô-gian-ca nhận được tin trước tiên về cuộc tấn công vào lâu đài Ben-vê-đe, về việc Công-xtan-tin Páp-lô-vích bỏ trốn, rồi tin nghị viện tuyên bố triều đại Rô-ma-nốp mất ngai vàng Ba Lan, Khlô-pít-xki được tuyên bố làm nhà độc tài, và dân tộc Ba Lan lại tự do. Cuộc khởi nghĩa chưa lan tới Rô-gian-ca, nhưng mọi người ở đó đều theo dõi diễn biến của nó, chờ nó tới, chuẩn bị cho nó. Ông lão Gia-chép-xki thư từ với một người quen cũ, một trong những thủ lĩnh khởi nghĩa, tiếp những người môi giới bí ẩn không phải vì việc làm ăn mà vì việc cách mạng, và chuẩn bị tham gia khởi nghĩa khi tới lúc. Bà Gia-chép-xka chẳng những như mọi khi, mà còn hơn mọi khi, lo cho chồng những tiện nghi vật chất, và cũng như mọi khi, chính điều ấy làm ông mỗi lúc một bực bội. Van-đa gửi đồ trang sức kim cương của mình cho một người bạn ở Vác-sa-va, để bán đi lấy tiền nộp cho uỷ ban cách mạng. An-bi-na chỉ quan tâm Mi-gua-xki đang làm gì. Qua bố, cô biết anh đã gia nhập đội quân của Đvéc-nít-xki, và cô cố tìm hiểu mọi điều về đội quân ấy. Mi-gua-xki viết thư hai lần: lần đầu báo tin anh đã nhập ngũ, lần thứ hai, giữa tháng hai, viết một lá thư say sưa về chiến thắng của người Ba Lan ở Xtô-téc, nơi họ chiếm được sáu khẩu đại bác của quân Nga và bắt tù binh. “Người Ba Lan chiến thắng, quân Nga thua trận! Muôn năm!” anh kết thúc lá thư. An-bi-na ngây ngất. Cô xem bản đồ, tính toán xem quân Nga phải bị đánh bại hoàn toàn ở đâu, vào lúc nào, và tái mặt, run rẩy khi bố chầm chậm bóc những gói thư mang về từ bưu điện.

Có một lần, bà mẹ kế vào phòng cô, bắt gặp cô đang đứng trước gương mặc quần dài, đội mũ lính khởi nghĩa. An-bi-na đang chuẩn bị cải trang đàn ông trốn khỏi nhà để gia nhập quân đội Ba Lan. Bà mẹ kế nói với bố. Bố gọi con gái tới, và giấu đi nỗi đồng cảm, thậm chí sự khâm phục của mình, ông nghiêm khắc mắng cô, đòi cô gạt khỏi đầu những ý nghĩ dại dột về việc ra trận. “Đàn bà có việc khác: yêu thương và an ủi những người hy sinh mình vì tổ quốc”, ông nói. Giờ ông cần cô, cô là niềm vui và niềm an ủi của ông, còn rồi sẽ tới lúc chồng cô cũng cần cô như thế. Ông biết cách tác động tới cô. Ông ám chỉ rằng ông cô đơn và bất hạnh, rồi hôn cô. Cô áp mặt vào ông, giấu những giọt nước mắt, mà chúng vẫn làm ướt ống tay áo choàng ngủ của ông, và hứa sẽ không làm gì mà không có sự đồng ý của ông.

Chỉ những ai đã trải qua những gì người Ba Lan trải qua sau khi đất nước bị chia cắt, một phần phải phục tùng quyền lực của người Đức bị căm ghét, phần kia phục tùng quyền lực còn bị căm ghét hơn của người Nga, mới hiểu được niềm say sưa người Ba Lan cảm thấy trong những năm ba mươi, ba mươi mốt, khi sau những lần cố gắng giải phóng bất hạnh trước kia, niềm hy vọng giải phóng mới tưởng như có thể thành hiện thực. Nhưng niềm hy vọng ấy chẳng kéo dài bao lâu. Lực lượng quá chênh lệch, và cuộc cách mạng lại bị đè bẹp. Lại hàng chục nghìn người Nga phục tùng một cách vô nghĩa bị lùa vào Ba Lan, dưới quyền chỉ huy lúc của Đi-bích, lúc của Pa-xkê-vích, và người cầm trịch cao nhất là Ni-cô-lai Đệ Nhất. Chính họ cũng chẳng biết mình làm thế để làm gì, đã làm đất thấm đẫm máu mình và máu những người anh em Ba Lan, đè bẹp họ, rồi lại trao họ vào quyền lực của những kẻ yếu đuối, tầm thường, chẳng muốn tự do cũng chẳng muốn đàn áp người Ba Lan, mà chỉ muốn mỗi một điều: thoả mãn lòng tham và thói hư danh trẻ con của mình.

Vác-sa-va bị chiếm, những đội quân riêng lẻ bị đánh tan. Hàng trăm, hàng nghìn người bị xử bắn, bị đánh bằng gậy đến chết, bị lưu đày. Trong số những người bị đày có chàng Mi-gua-xki trẻ tuổi. Điền sản của anh bị tịch thu, còn chính anh bị đưa đi làm lính trong một tiểu đoàn biên phòng ở U-ran-xcơ.

Mùa đông năm 1832 gia đình Gia-chép-xki sống ở Vin-nô vì sức khoẻ của ông lão, sau năm ba mươi mốt ông mắc bệnh tim. Ở đây họ nhận được thư của Mi-gua-xki từ pháo đài. Anh viết rằng dẫu những gì anh đã chịu và sắp phải chịu nặng nề đến đâu, anh vẫn vui vì được chịu khổ vì tổ quốc, rằng anh không tuyệt vọng về sự nghiệp thiêng liêng mà anh đã dâng một phần đời mình và sẵn sàng dâng phần còn lại, và nếu mai có một cơ hội mới, anh sẽ lại làm như thế. Đọc to lá thư tới chỗ ấy, ông lão bật khóc nức nở và hồi lâu không đọc tiếp được. Trong phần còn lại của lá thư, do Van-đa đọc to, Mi-gua-xki viết rằng dù những dự định, những ước mơ của anh trong lần thăm cuối cùng ấy, lần thăm sẽ mãi là điểm sáng nhất trong cả đời anh, có là gì đi nữa, thì giờ đây anh không thể và cũng không muốn nói về chúng nữa.

Van-đa và An-bi-na mỗi người hiểu ý nghĩa những lời ấy theo cách của mình, nhưng chẳng ai giải thích với ai mình hiểu thế nào. Cuối thư, Mi-gua-xki gửi lời chào mọi người, và nhân tiện, cũng với cái giọng đùa nghịch anh từng dùng với An-bi-na trong lần thăm ấy, anh hỏi cô trong thư rằng cô có còn chạy nhanh như thế, vượt cả những con chó săn không, có còn bắt chước mọi người giỏi như thế không. Anh chúc ông lão mạnh khoẻ, chúc bà mẹ làm ăn suôn sẻ, chúc Van-đa có một người chồng xứng đáng, và chúc An-bi-na giữ mãi niềm vui sống ấy.

Sức khoẻ ông lão Gia-chép-xki mỗi lúc một tệ, và năm 1833 cả gia đình ra nước ngoài. Ở Ba-đen, Van-đa gặp một người Ba Lan lưu vong giàu có và lấy ông ta. Bệnh của ông lão trở nặng nhanh chóng, và đầu năm 1833 ông mất ở nước ngoài trong vòng tay An-bi-na. Ông không cho vợ chăm sóc mình, và tới phút cuối vẫn không tha thứ được cho bà cái lỗi ông đã phạm khi cưới bà. Bà Gia-chép-xka cùng An-bi-na trở về quê. Mối quan tâm chính trong đời An-bi-na là Mi-gua-xki. Trong mắt cô anh là người anh hùng và người tử vì đạo vĩ đại nhất, và cô quyết dâng đời mình để phụng sự anh. Từ trước khi ra nước ngoài, cô đã bắt đầu thư từ với anh, lúc đầu theo lời dặn của bố, rồi tự mình. Sau khi bố mất, trở về Nga, cô vẫn tiếp tục thư từ với anh, và khi đã tròn mười tám tuổi, cô tuyên bố với bà mẹ kế rằng cô quyết định tới U-ran-xcơ gặp Mi-gua-xki để lấy anh ở đó. Bà mẹ kế bắt đầu trách Mi-gua-xki ích kỷ, muốn làm nhẹ cảnh khổ của mình bằng cách quyến rũ một cô gái giàu, bắt cô chia sẻ bất hạnh với mình. An-bi-na giận dữ tuyên bố với bà rằng chỉ có mình bà mới gán được những ý nghĩ hèn hạ như thế cho một người đã hy sinh tất cả vì dân tộc mình, rằng Mi-gua-xki, trái lại, đã từ chối sự giúp đỡ cô đề nghị, và cô đã quyết không gì lay chuyển được là sẽ tới với anh và lấy anh, nếu anh chịu ban cho cô hạnh phúc ấy. An-bi-na đã đủ tuổi, lại có tiền, ba trăm nghìn đồng mà ông chú quá cố để lại cho hai cô cháu. Vì thế chẳng gì giữ được cô.

Tháng mười một năm 1833, An-bi-na từ biệt người nhà, những người khóc tiễn cô như tiễn đi chết, tới miền đất xa xăm xa lạ của nước Nga hoang dã. Cô cùng bà vú già trung thành Lút-vi-ca mà cô dắt theo, ngồi lên cỗ xe của bố mới được sửa sang cho chặng đường xa, rồi lên đường.

— Hết chương 1 —

Mục lục Vì sao?

  1. 1Chương một. Cô gái ở Rô-gian-ca12 phút
  2. 2Chương hai. Ở U-ran-xcơĐang thu âm
  3. 3Chương ba. Chiếc hòm trên cỗ xeĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảLev Tolstoy (1828 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1906
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: За что?, viết và in năm 1906 trong tuyển tập Круг чтения
Giọng đọcBảo Trang — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →