Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Đêm lễ ở ga xép

Vụ án mạng · Chương 1/4 · của Anton Chekhov

⏱ 24 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 20.532 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Ở ga Prô-gôn-na-i-a người ta làm lễ đêm. Trước…
  2. 3:35Anh rót trà cho mình, nói tiếp:
  3. 5:04Đã có thời tôi phục vụ cả bá tước…
  4. 10:04Gia-cốp I-va-nư-tsơ xướng lên, giọng ê a, rồi cúi…
  5. 11:40Đa-sút-ca trở mình một lúc rồi lại ngủ. Mát-vây…
  6. 18:48Nhưng sét không đánh chết tôi. Chắc là ở…
  7. 22:57Ông nội anh có một gia tài khổng lồ.…
  8. 24:32Đời khốn kiếp!

Chương 1: Đêm lễ ở ga xép

Ở ga Prô-gôn-na-i-a người ta làm lễ đêm. Trước một bức tượng thánh lớn vẽ màu tươi trên nền vàng, một đám đông gồm nhân viên nhà ga, vợ con họ, cùng những người đốn củi và thợ cưa làm việc gần đó dọc đường tàu đứng chen nhau. Ai nấy đứng lặng, mê mải trước ánh nến lấp lánh và tiếng bão tuyết rú lên ngoài trời, cơn bão chẳng biết từ đâu nổi lên dù đã là đêm trước lễ Truyền Tin. Ông cha xứ già từ làng Vê-đê-nha-pi-nô đến làm lễ. Người hát là thầy đọc thánh vịnh và Mát-vây Tê-rê-khốp.

Mặt Mát-vây rạng rỡ niềm vui, anh hát mà vươn cổ ra như muốn bay lên. Anh hát giọng nam cao, đọc kinh cũng giọng nam cao, ngọt ngào, thuyết phục. Khi hát bài "Tiếng tổng lãnh thiên thần", anh vung tay như người chỉ huy hợp xướng, và cố hoà theo giọng trầm đục già nua của ông giúp lễ, anh luyến bằng giọng nam cao của mình một đoạn gì đó phức tạp lạ thường, và nhìn mặt anh thì thấy anh đang rất khoái chí.

Rồi lễ đêm kết thúc, mọi người lặng lẽ ra về, và lại tối tăm, trống trải, và lại cái lặng im chỉ có ở những nhà ga đứng cô độc giữa đồng hay giữa rừng, khi gió rít lên và chẳng nghe thấy gì khác nữa, khi người ta cảm thấy cả sự trống rỗng xung quanh, cả nỗi buồn của một cuộc đời trôi chậm chạp.

Mát-vây sống gần ga, trong quán rượu của người anh họ. Nhưng anh không muốn về nhà. Anh ngồi sau quầy với ông chủ quầy giải khát mà kể khe khẽ:

— Ở xưởng gạch men nhà tôi có một đội hợp xướng riêng. Và tôi phải nói với ông rằng tuy chúng tôi chỉ là thợ bình thường, nhưng hát thì ra hát, tuyệt vời lắm. Người ta hay mời chúng tôi lên thành phố, và khi đức giám mục phó I-ô-an làm lễ ở nhà thờ Chúa Ba Ngôi, thì đội hát của đức giám mục hát ở gác bên phải, còn chúng tôi ở gác bên trái. Chỉ có điều dân thành phố phàn nàn rằng chúng tôi hát lâu quá: họ bảo dân xưởng cứ kéo dài mãi. Mà đúng thế thật, bài "Đêm thánh An-đrây" với bài "Ngợi khen" chúng tôi bắt đầu từ sáu giờ hơn, xong thì đã quá mười một giờ, thành ra có khi về đến xưởng đã một giờ sáng. Hồi ấy sướng lắm!

Mát-vây thở dài:

— Sướng lắm, ông Xéc-gây Ni-ca-nô-rư-tsơ ạ! Còn ở đây, ở nhà bố mẹ để lại, chẳng có niềm vui nào. Nhà thờ gần nhất cách năm dặm, sức khoẻ tôi yếu thế này thì đi không nổi, lại chẳng có đội hát. Mà trong nhà thì chẳng lúc nào yên, suốt ngày ồn ào, chửi bới, bẩn thỉu, cả nhà ăn chung một bát như nông dân, xúp bắp cải thì có gián… Chúa không cho sức khoẻ, không thì tôi đã đi từ lâu rồi, ông Xéc-gây Ni-ca-nô-rư-tsơ ạ.

Mát-vây Tê-rê-khốp chưa già, chừng bốn mươi lăm tuổi, nhưng vẻ mặt ốm yếu, mặt đầy nếp nhăn, chòm râu thưa, lơ thơ đã bạc trắng, làm anh trông già đi nhiều tuổi. Anh nói giọng yếu ớt, thận trọng, và khi ho thì ôm ngực, những lúc ấy ánh mắt anh trở nên bồn chồn, lo lắng như ở những người rất hay nghĩ mình mắc bệnh. Anh chẳng bao giờ nói rõ mình đau ở đâu, nhưng thích kể dài dòng chuyện có lần ở xưởng anh khiêng một cái hòm nặng và bị sái, rồi vì thế mà sinh ra chứng thoát vị, khiến anh phải bỏ việc ở xưởng gạch men mà về quê. Còn thoát vị là gì thì anh không giải thích được.

Anh rót trà cho mình, nói tiếp:

— Thú thật, tôi không ưa ông anh tôi. Anh ấy là anh, chê trách thì mang tội, mà tôi kính sợ Chúa, nhưng tôi không nhịn được. Anh ấy là người kiêu ngạo, khắc nghiệt, hay chửi bới, là kẻ hành hạ họ hàng và người làm, và chẳng bao giờ đi xưng tội. Chủ nhật vừa rồi tôi dịu dàng xin anh ấy: "Anh ơi, ta đi lễ ở Pa-khô-mô-vô đi!" Thế mà anh ấy bảo: "Không đi, ông cha xứ ở đấy là dân cờ bạc." Hôm nay cũng chẳng đến đây, vì anh ấy bảo ông cha xứ làng Vê-đê-nha-pi-nô hút thuốc và uống vốt-ca. Anh ấy không ưa giới tăng lữ! Tự mình làm lễ trưa, đọc kinh giờ, làm lễ chiều, còn cô em gái thì làm thầy giúp lễ cho anh. Anh ấy: ta hãy cầu nguyện cùng Chúa! Còn cô ấy thì the thé như con gà tây: lạy Chúa xin thương xót!.. Đúng là tội lỗi. Ngày nào tôi cũng bảo anh ấy: "Anh tỉnh ngộ đi, anh ơi! Anh ăn năn đi, anh ơi!", mà anh ấy chẳng để ý.

Ông chủ quầy Xéc-gây Ni-ca-nô-rư-tsơ rót năm cốc trà, bưng khay mang vào phòng đợi dành cho các bà. Ông vừa bước vào thì có tiếng quát:

— Mày bưng thế à, đồ mõm lợn? Mày không biết bưng à!

Đó là giọng ông trưởng ga. Nghe tiếng lắp bắp rụt rè, rồi lại tiếng quát, giận dữ và gay gắt:

— Cút ra!

Ông chủ quầy trở ra, bối rối lắm.

Ông nói khẽ:

— Đã có thời tôi phục vụ cả bá tước lẫn hoàng thân, thế mà bây giờ, anh xem đấy, không biết bưng trà… Chửi tôi ngay trước mặt cha xứ và các bà…

Ông chủ quầy Xéc-gây Ni-ca-nô-rư-tsơ ngày trước có nhiều tiền, và mở quầy giải khát ở một ga hạng nhất, tại một thành phố tỉnh lỵ, nơi hai tuyến đường giao nhau. Hồi ấy ông mặc áo đuôi tôm, đeo đồng hồ vàng. Nhưng việc làm ăn của ông sa sút, ông tiêu hết tiền vào bộ đồ ăn sang trọng, người làm ăn cắp của ông, và dần dần sa lầy, ông chuyển sang một ga khác ít khách hơn. Ở đây vợ ông bỏ ông, mang theo cả bộ đồ bạc, và ông chuyển sang ga thứ ba, tệ hơn, nơi đã không được bán món nóng nữa. Rồi sang ga thứ tư. Cứ đổi chỗ luôn và mỗi lúc một tụt xuống thấp hơn, cuối cùng ông dạt về Prô-gôn-na-i-a, và ở đây chỉ bán trà, vốt-ca rẻ tiền, đồ nhắm thì có trứng luộc và thứ xúc xích cứng có mùi nhựa thông mà chính ông giễu gọi là "xúc xích nhạc công". Ông hói cả đỉnh đầu, đôi mắt xanh lồi, bộ tóc mai rậm, xù mà ông hay lấy lược chải, soi vào một cái gương nhỏ. Những kỷ niệm quá khứ giày vò ông không ngớt. Ông chẳng tài nào quen được với thứ xúc xích nhạc công, với sự thô lỗ của ông trưởng ga, và với những người nông dân hay mặc cả, mà theo ông, mặc cả ở quầy giải khát cũng khiếm nhã như mặc cả ở hiệu thuốc. Ông xấu hổ vì cảnh nghèo và nỗi nhục của mình, và nỗi xấu hổ ấy giờ là nội dung chính của cuộc đời ông.

Mát-vây vừa lắng nghe vừa nói:

— Năm nay xuân đến muộn. Thế lại hay, tôi không thích mùa xuân. Mùa xuân bùn lầy lắm, ông Xéc-gây Ni-ca-nô-rư-tsơ ạ. Trong sách người ta viết: mùa xuân, chim hót, mặt trời lặn, nhưng mà có gì dễ chịu đâu? Chim thì là chim, có thế thôi. Tôi thích chỗ có người tử tế, được nghe người ta nói, được bàn chuyện tôn giáo, hay cùng hát một bài gì đó dễ chịu, chứ mấy con hoạ mi với mấy bông hoa ấy, mặc kệ chúng!

Anh lại bắt đầu nói về xưởng gạch men, về đội hợp xướng, nhưng Xéc-gây Ni-ca-nô-rư-tsơ bị xúc phạm chẳng tài nào bình tĩnh lại được, cứ nhún vai và lẩm bẩm gì đó. Mát-vây chào rồi đi về nhà.

Trời không rét, trên mái nhà tuyết đã tan, nhưng tuyết vẫn rơi những bông to. Chúng xoay tít trong không trung, và những đám mây trắng của chúng đuổi nhau trên mặt đường ray. Còn khu rừng sồi ở hai bên đường tàu, được trăng soi lờ mờ, vầng trăng nấp đâu đó trên cao sau những đám mây, phát ra một tiếng gầm u ám, kéo dài. Khi bão lớn lay cây, cây cối mới đáng sợ làm sao! Mát-vây đi dọc đường cái song song với đường ray, giấu mặt và tay đi, gió đẩy vào lưng anh. Bỗng hiện ra một con ngựa nhỏ phủ đầy tuyết, chiếc xe trượt cào trên những hòn đá trơ trụi của đường cái, và một người đàn ông trùm kín đầu, cũng trắng xoá, đang vung roi. Mát-vây ngoảnh lại, nhưng đã chẳng còn thấy chiếc xe hay người đàn ông đâu nữa, như thể tất cả chỉ là ảo ảnh, và anh rảo bước, bỗng thấy sợ, chẳng biết sợ gì.

Đây là chỗ chắn tàu và ngôi nhà nhỏ tối om của người gác. Thanh chắn đã nâng lên, xung quanh tuyết dồn thành từng núi, và như những mụ phù thuỷ trong đêm hội quỷ, những đám mây tuyết xoay tròn. Ở đây đường tàu cắt ngang một con đường cũ, ngày trước là một con đường lớn mà đến giờ người ta vẫn gọi là đường trạm. Bên phải, không xa chỗ chắn tàu, ngay sát đường, là quán rượu của nhà Tê-rê-khốp, trước kia là một quán trọ. Ở đây đêm nào cũng le lói một ngọn đèn.

Khi Mát-vây về đến nhà, trong tất cả các phòng, thậm chí cả ở gian ngoài, mùi trầm hương toả ra nồng nặc. Anh trai anh là Gia-cốp I-va-nư-tsơ vẫn đang làm lễ đêm. Trong phòng cầu nguyện, nơi diễn ra buổi lễ, ở góc trước có một khám thờ với những bức tượng thánh cổ của ông cha bọc áo mạ vàng, và cả hai bức tường bên phải bên trái đều chất đầy tượng thánh vẽ theo lối cũ lẫn lối mới, có cái trong khám, có cái để trần. Trên chiếc bàn phủ khăn dài chấm đất, có bức tượng Truyền Tin, ngay đó là một cây thánh giá bằng gỗ bách và một bình hương. Những ngọn nến sáp đang cháy. Cạnh bàn có giá đọc kinh. Đi ngang qua phòng cầu nguyện, Mát-vây dừng lại nhìn qua cửa. Gia-cốp I-va-nư-tsơ lúc ấy đang đọc bên giá kinh. Cùng cầu nguyện với ông là em gái ông, A-gla-i-a, một bà già cao gầy mặc váy xanh, quàng khăn trắng. Ở đó còn có con gái Gia-cốp I-va-nư-tsơ là Đa-sút-ca, một cô gái chừng mười tám tuổi, không đẹp, mặt đầy tàn nhang, như thường lệ đi chân đất, vẫn mặc bộ váy lúc chiều đi cho gia súc uống nước.

Gia-cốp I-va-nư-tsơ xướng lên, giọng ê a, rồi cúi rạp người:

— Vinh danh Ngài, Đấng đã tỏ cho chúng con ánh sáng!

A-gla-i-a tay chống cằm, cất tiếng hát bằng giọng mảnh, the thé, kéo dài. Còn ở trên cao, trên trần nhà, cũng vang lên những giọng nói mơ hồ gì đó, như đang đe doạ hay báo trước điều chẳng lành. Ở tầng hai, sau một đám cháy từ lâu lắm rồi, chẳng ai ở nữa, cửa sổ đóng ván, và trên sàn giữa các thanh xà vương vãi những chai rỗng. Giờ gió gõ và rú lên ở đó, và nghe như có ai đang chạy, vấp vào các thanh xà.

Một nửa tầng dưới dùng làm quán rượu, nửa kia là chỗ ở của gia đình Tê-rê-khốp, thành ra khi trong quán có những khách qua đường say xỉn làm ồn, thì trong các phòng nghe rõ từng lời. Mát-vây ở cạnh bếp, trong một căn phòng có lò sưởi lớn, nơi trước kia, khi còn là quán trọ, ngày nào người ta cũng nướng bánh mì. Cũng trong căn phòng ấy, sau lò sưởi, là chỗ ở của Đa-sút-ca, cô không có phòng riêng. Ở đây đêm nào dế cũng kêu và chuột chạy loạt soạt.

Mát-vây thắp nến và bắt đầu đọc một cuốn sách mượn của viên hiến binh ở ga. Trong lúc anh ngồi đọc, buổi cầu nguyện đã xong và mọi người đi ngủ. Đa-sút-ca cũng nằm xuống. Cô ngáy ngay, nhưng chẳng mấy chốc thức dậy, vừa ngáp vừa nói:

— Chú Mát-vây ơi, chú đừng đốt nến phí thế.

Mát-vây đáp:

— Nến của tôi. Tôi mua bằng tiền của tôi.

Đa-sút-ca trở mình một lúc rồi lại ngủ. Mát-vây còn ngồi lâu nữa, anh không buồn ngủ, và đọc xong trang cuối cùng, anh lấy trong hòm ra một cây bút chì và viết lên cuốn sách: "Cuốn sách này tôi, Mát-vây Tê-rê-khốp, đã đọc, và thấy nó là cuốn hay nhất trong tất cả những cuốn tôi từng đọc, vì thế xin bày tỏ lòng cảm tạ tới hạ sĩ quan sở hiến binh đường sắt Cu-dơ-ma Ni-cô-la-ép Giu-cốp, là người sở hữu cuốn sách vô giá này." Viết những dòng như thế lên sách của người khác, anh coi là bổn phận lịch sự.

Đúng ngày lễ Truyền Tin, sau khi tiễn chuyến tàu thư, Mát-vây ngồi ở quầy giải khát, uống trà chanh và nói chuyện.

Người nghe anh là ông chủ quầy và viên hiến binh Giu-cốp.

Mát-vây kể:

— Tôi phải nói với các ông rằng từ thuở bé tôi đã sùng mộ tôn giáo. Tôi mới mười hai tuổi mà đã đọc sách sứ đồ trong nhà thờ, bố mẹ tôi được an ủi lắm, và mùa hè nào tôi cũng cùng bà mẹ quá cố đi hành hương. Có khi bọn trẻ khác hát hò hay bắt tôm, thì tôi ở cạnh mẹ. Người lớn khen tôi, mà chính tôi cũng thấy dễ chịu vì mình có hạnh kiểm tốt như thế. Rồi khi mẹ chúc phúc cho tôi đi làm ở xưởng, thì trong lúc làm, tôi hát giọng nam cao trong đội hợp xướng của chúng tôi, và chẳng có thú vui nào hơn. Dĩ nhiên tôi không uống vốt-ca, không hút thuốc lá, giữ thân thể trong sạch. Mà cái lối sống như thế, ai cũng biết, chẳng vừa lòng kẻ thù của loài người, và hắn, đồ khốn kiếp, muốn huỷ hoại tôi, bắt đầu làm mờ trí óc tôi, cũng như bây giờ với ông anh tôi vậy. Trước hết, tôi nguyện không ăn đồ mặn vào thứ hai, và không ăn thịt vào bất cứ ngày nào, và nói chung theo thời gian, một ý tưởng kỳ quặc đã nhập vào tôi. Trong tuần đầu Mùa Chay lớn cho đến thứ bảy, các thánh tổ phụ quy định chỉ ăn đồ khô, nhưng người lao động và người yếu thì uống chút trà cũng chẳng có tội gì, còn tôi thì đến tận chủ nhật không có một mẩu bánh nào trong miệng, rồi suốt mùa chay tôi không cho phép mình dùng dầu bao giờ, còn thứ tư và thứ sáu thì chẳng ăn gì cả. Những mùa chay nhỏ cũng thế. Có khi vào mùa chay thánh Phê-rô, bạn bè ở xưởng húp xúp cá rô, còn tôi thì ngồi riêng một chỗ mút miếng bánh khô. Dĩ nhiên sức người khác nhau, nhưng về phần tôi thì tôi nói: vào ngày chay tôi chẳng thấy khó khăn gì, thậm chí càng nhiệt thành càng thấy nhẹ nhõm. Chỉ thấy đói trong mấy ngày đầu mùa chay, rồi sau quen dần, mỗi lúc một nhẹ hơn, và nhìn mà xem, đến cuối tuần thì chẳng còn thấy gì, chân thì tê tê như mình không đi trên mặt đất mà trên mây. Ngoài ra tôi còn tự đặt cho mình đủ thứ việc khổ hạnh: đêm dậy cúi lạy, khuân những hòn đá nặng từ chỗ này sang chỗ khác, đi chân đất ra tuyết, rồi đeo cả xích sắt nữa. Thế nhưng một thời gian sau, có lần tôi đi xưng tội với một cha xứ, và bỗng một ý nghĩ: ông cha xứ này, tôi nghĩ, có vợ, ăn mặn, hút thuốc, thế thì sao ông ta có thể nghe tôi xưng tội, và ông ta có quyền gì tha tội cho tôi, nếu ông ta còn tội lỗi hơn tôi? Tôi còn kiêng cả dầu thực vật, thế mà chắc ông ta đã ăn cá tầm. Tôi đến một cha xứ khác, mà ông này, như cố tình, béo phị, mặc áo chùng lụa, sột soạt như đàn bà, mà người cũng có mùi thuốc lá. Tôi vào tu viện để xưng tội ăn chay, mà ở đó lòng tôi cũng chẳng yên, cứ thấy như các thầy tu sống không đúng luật. Và từ đó tôi chẳng tìm được buổi lễ nào hợp với mình: chỗ thì làm lễ nhanh quá, chỗ khác thì hát sai bài, chỗ nữa thì ông giúp lễ nói giọng mũi… Có khi, lạy Chúa tha tội cho con, tôi đứng trong nhà thờ mà tim run lên vì giận dữ. Thế thì còn cầu nguyện gì được? Và tôi tưởng như dân chúng trong nhà thờ làm dấu thánh giá không đúng, nghe kinh không đúng. Nhìn ai cũng thấy toàn bợm rượu, kẻ ăn mặn, kẻ hút thuốc, kẻ dâm đãng, kẻ cờ bạc, chỉ có mình tôi sống theo điều răn. Con quỷ xảo quyệt chẳng ngủ, càng ngày càng tệ, tôi thôi không hát trong đội hợp xướng và chẳng đi nhà thờ nữa. Tôi tự cho mình là người công chính, còn nhà thờ vì không hoàn hảo nên không hợp với tôi, nghĩa là, như thiên thần sa ngã, tôi kiêu ngạo mơ tưởng đến mức không thể tin nổi. Sau đó tôi bắt đầu lo lập một nhà thờ riêng cho mình. Tôi thuê của một bà thị dân bị điếc một căn phòng nhỏ xa tít ngoài thành phố, gần nghĩa trang, và lập một phòng cầu nguyện, giống như của ông anh tôi, có điều ở chỗ tôi còn có cả giá nến và bình hương thật. Trong phòng cầu nguyện ấy, tôi giữ theo luật của núi thánh A-thốt, tức là ngày nào lễ sáng cũng bắt đầu đúng nửa đêm, còn vào những ngày đại lễ đặc biệt thì lễ đêm của tôi kéo dài mười tiếng, có khi mười hai tiếng. Các thầy tu theo luật còn được ngồi khi đọc thánh vịnh và các đoạn sách thánh, còn tôi thì muốn đẹp lòng Chúa hơn các thầy tu, nên cứ đứng suốt. Tôi đọc và hát ngân dài, nước mắt đầm đìa, thở than, giơ hai tay lên, rồi cầu nguyện xong là đi làm luôn chẳng ngủ, mà làm cũng vừa làm vừa cầu nguyện. Thế là khắp thành phố đồn: Mát-vây là thánh, Mát-vây chữa khỏi người ốm người điên. Dĩ nhiên tôi chẳng chữa khỏi ai, nhưng ai cũng biết, hễ có một giáo phái hay một tà thuyết nào mọc lên là đàn bà kéo đến không dứt. Như ruồi bâu mật vậy. Đủ các bà già với các cô gái già kéo đến chỗ tôi, quỳ dưới chân tôi, hôn tay tôi, kêu lên rằng tôi là thánh, vân vân, có một bà còn bảo thấy hào quang trên đầu tôi. Phòng cầu nguyện chật chội, tôi thuê một phòng lớn hơn, và ở chỗ chúng tôi bắt đầu một cảnh hỗn loạn thật sự. Con quỷ đã chiếm hẳn lấy tôi, và lấy cái móng guốc bẩn thỉu của nó che khuất ánh sáng khỏi mắt tôi. Tất cả chúng tôi như phát điên. Tôi đọc, còn các bà già và các cô gái già hát, và cứ thế, nhịn ăn nhịn uống lâu ngày, đứng suốt một ngày đêm hay lâu hơn, bỗng nhiên họ bắt đầu run lên như bị sốt rét, rồi, ấy là, người này kêu lên, người kia kêu lên, đáng sợ lắm! Tôi cũng run lên khắp người như ngồi trên chảo nóng, chẳng biết vì sao, và chân chúng tôi bắt đầu nhảy. Lạ thật đấy: không muốn mà vẫn nhảy, tay vung vẩy, rồi, ấy là, la hét, rít lên, tất cả cùng nhảy múa và đuổi nhau, chạy cho đến khi ngã gục. Và thế là, trong cơn mê muội man rợ, tôi đã sa vào tội dâm ô.

Viên hiến binh bật cười, nhưng thấy chẳng ai cười theo, liền nghiêm mặt lại mà nói:

— Đấy là phái Mô-lô-can. Tôi đọc thấy rồi, ở Cáp-ca-dơ ai cũng thế.

Mát-vây làm dấu thánh giá hướng về bức tượng thánh, mấp máy môi, nói tiếp:

— Nhưng sét không đánh chết tôi. Chắc là ở thế giới bên kia, mẹ tôi đã cầu nguyện cho tôi. Khi cả thành phố đã coi tôi là thánh, thậm chí cả các bà, các ông tử tế cũng bắt đầu lén lút đến tìm tôi để được an ủi, thì có lần tôi đến nhà ông chủ của chúng tôi là ông Ô-xíp Vác-la-mư-tsơ để xin lỗi, hôm ấy là ngày tha thứ trước mùa chay. Thế là ông ấy cài móc cửa lại, chỉ còn hai chúng tôi, mặt đối mặt. Và ông ấy bắt đầu mắng tôi. Phải nói với các ông rằng ông Ô-xíp Vác-la-mư-tsơ không có học, nhưng là người sâu sắc, ai cũng kính trọng và sợ ông, vì ông sống nghiêm khắc, đẹp lòng Chúa và chăm chỉ làm lụng. Ông làm thị trưởng, làm trưởng ban nhà thờ có lẽ đến hai mươi năm, và làm nhiều điều tốt. Ông rải sỏi cả phố Nô-vô Mát-xcốp-xcai-a, sơn lại nhà thờ lớn, vẽ các cột giả đá lam ngọc. Thế là ông khoá cửa lại và: "Từ lâu, ông bảo, tao đã định tìm mày, đồ thế này thế nọ… Mày tưởng mày là thánh à? Không, mày chẳng phải thánh, mà là kẻ bội đạo, kẻ dị giáo, kẻ ác!.." Rồi cứ thế, cứ thế… Tôi chẳng diễn tả được ông ấy nói thế nào, trôi chảy, thông minh, như đọc sách, mà lại cảm động. Ông nói đến hai giờ đồng hồ. Ông làm tôi thấm thía, mắt tôi mở ra. Nghe mãi, nghe mãi, rồi tôi oà khóc! Ông bảo: "Hãy làm một người bình thường, ăn, uống, mặc và cầu nguyện như mọi người, còn cái gì vượt quá bình thường là từ quỷ dữ mà ra. Xích sắt của mày, ông bảo, là từ quỷ dữ, ăn chay của mày là từ quỷ dữ, phòng cầu nguyện của mày là từ quỷ dữ. Tất cả, ông bảo, là kiêu ngạo." Hôm sau, thứ hai sạch đầu mùa chay, Chúa khiến tôi đổ bệnh. Tôi bị sái người, người ta đưa tôi vào bệnh viện. Tôi đau đớn vô cùng, khóc lóc cay đắng và run sợ. Tôi nghĩ từ bệnh viện tôi sẽ đi thẳng xuống địa ngục, suýt nữa thì chết. Tôi khổ sở trên giường bệnh chừng nửa năm, và khi ra viện, việc đầu tiên là tôi xưng tội ăn chay cho đàng hoàng, và lại trở thành con người. Ông Ô-xíp Vác-la-mư-tsơ cho tôi về quê, và dặn dò: "Hãy nhớ lấy, Mát-vây, cái gì vượt quá bình thường là từ quỷ dữ mà ra." Và giờ tôi ăn uống như mọi người, cầu nguyện như mọi người… Giờ nếu có khi cha xứ có mùi thuốc lá hay mùi rượu, tôi cũng không dám chê trách, vì cha xứ cũng là một người bình thường. Nhưng hễ người ta bảo ở thành phố hay ở làng nào đó mọc ra một ông thánh, nhịn ăn hàng tuần, tự đặt ra luật lệ riêng, là tôi hiểu ngay đây là việc của ai. Đấy, thưa các ông, chuyện đời tôi là thế đấy. Giờ đây tôi cũng như ông Ô-xíp Vác-la-mư-tsơ, cứ răn dạy ông anh và bà chị, trách móc họ, nhưng thành ra tiếng kêu trong sa mạc. Chúa không cho tôi tài ấy.

Câu chuyện của Mát-vây hình như chẳng gây ấn tượng gì. Xéc-gây Ni-ca-nô-rư-tsơ chẳng nói gì, bắt đầu dọn đồ nhắm trên quầy, còn viên hiến binh thì bắt đầu nói về chuyện anh trai Mát-vây là Gia-cốp I-va-nư-tsơ giàu có đến thế nào.

Anh ta nói:

— Ông ấy có ít nhất ba chục nghìn.

Viên hiến binh Giu-cốp tóc đỏ, mặt đầy đặn, khi đi thì má rung rung, khoẻ mạnh, no nê. Thường khi không có cấp trên, anh ta ngồi ưỡn ra, vắt chân chữ ngũ. Khi nói chuyện thì đung đưa người và huýt sáo hờ hững, và những lúc ấy mặt anh ta có vẻ tự mãn, no nê, như vừa ăn trưa xong. Anh ta có tiền, và lúc nào cũng nói về tiền với vẻ một người rất sành sỏi. Anh ta làm nghề môi giới, và khi ai cần bán điền trang, ngựa hay cỗ xe cũ, người ta đều tìm đến anh ta.

Xéc-gây Ni-ca-nô-rư-tsơ đồng tình:

— Phải, có lẽ đến ba chục nghìn đấy.

Ông quay sang Mát-vây:

— Ông nội anh có một gia tài khổng lồ. Khổng lồ! Sau đấy tất cả để lại cho bố anh và chú anh. Bố anh mất khi còn trẻ, thế là chú anh lấy hết, rồi sau đó, nghĩa là, đến ông Gia-cốp I-va-nư-tsơ. Trong khi anh với mẹ đi hành hương và hát giọng nam cao ở xưởng, thì ở đây người ta chẳng ngồi không đâu.

Viên hiến binh đung đưa người, nói:

— Phần của anh phải được chừng mười lăm nghìn. Quán rượu là của chung, vậy thì vốn cũng là của chung. Phải. Ở địa vị anh, tôi đã kiện ra toà từ lâu rồi. Tôi sẽ kiện ra toà là cái chắc, còn trong khi chờ xử, thì một chọi một, tôi sẽ đánh cho cả cái mặt hắn toé máu…

Người ta không ưa Gia-cốp I-va-nư-tsơ, vì khi ai đó tin theo một cách khác mọi người, thì điều đó làm khó chịu ngay cả những người thờ ơ với đức tin. Còn viên hiến binh không ưa ông ta còn vì ông ta cũng buôn ngựa và xe cũ.

Ông chủ quầy nhìn Mát-vây ghen tị, nói:

— Anh không muốn kiện anh trai vì anh có nhiều tiền riêng. Ai có của thì sướng, còn tôi, có lẽ cứ thế mà chết trong cảnh này thôi…

Mát-vây bắt đầu quả quyết rằng anh hoàn toàn không có tiền, nhưng Xéc-gây Ni-ca-nô-rư-tsơ đã không nghe nữa. Những kỷ niệm quá khứ, những sự xúc phạm ông phải chịu hằng ngày ùa về. Cái đầu hói của ông đẫm mồ hôi, ông đỏ mặt và chớp chớp mắt.

Ông bực bội nói, rồi đập khúc xúc xích xuống sàn:

— Đời khốn kiếp!

— Hết chương 1 —

Mục lục Vụ án mạng

  1. 1Đêm lễ ở ga xép24 phút
  2. 2Nhà Cầu ChúaĐang thu âm
  3. 3Chai dầu ngày chayĐang thu âm
  4. 4Từ Prô-gôn-na-i-a đến Xa-kha-linĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAnton Chekhov (1860 – 1904)
Năm mất1904
Xuất bản lần đầu1895
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Убийство, 1895
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →