Chương 1: Thanh tra Blân nhận vụ án
Câu chuyện lạ lùng sau đây do một người tình cờ quen trên tàu hoả kể lại cho tôi. Ông là một quý ông đã ngoài bảy mươi. Gương mặt hết sức tốt bụng, hiền hậu, cùng cung cách nghiêm trang, thành thật của ông in dấu ấn sự thật không thể nhầm lẫn lên mọi lời ông nói ra. Ông kể:
Anh cũng biết dân xứ Xiêm tôn kính con voi trắng của nhà vua tới mức nào. Anh biết nó là con vật thiêng của bậc đế vương, chỉ vua mới được sở hữu, và thật ra ở một mức nào đó nó còn hơn cả vua, vì nó không chỉ được tôn vinh mà còn được thờ phụng.
Thế đấy. Năm năm trước, khi nổ ra những rắc rối về đường biên giới giữa nước Anh và nước Xiêm, chẳng bao lâu đã rõ là phía Xiêm sai. Vì vậy mọi khoản đền bù đều được thực hiện nhanh chóng, và đại diện nước Anh tuyên bố ông đã hài lòng, chuyện cũ nên bỏ qua. Vua Xiêm nhẹ cả người. Một phần để tỏ lòng biết ơn, nhưng có lẽ một phần cũng để xoá nốt chút vương vấn khó chịu nào còn sót lại trong lòng nước Anh, nhà vua muốn gửi tặng Nữ hoàng một món quà. Theo quan niệm phương Đông, đó là cách chắc chắn duy nhất để làm nguôi lòng kẻ thù. Món quà ấy không những phải xứng tầm vua chúa, mà còn phải vương giả vượt bậc. Vậy thì còn lễ vật nào thích hợp hơn một con voi trắng?
Chức vụ của tôi trong ngạch công chức Ấn Độ khiến người ta coi tôi là người đặc biệt xứng đáng được vinh dự đưa món quà tới Nữ hoàng. Người ta trang bị một con tàu cho tôi, cho người hầu của tôi, cho các viên chức và người chăm sóc con voi. Đúng hẹn, tôi tới cảng Niu Oóc, đưa món hàng vương giả của mình vào một chỗ ở tuyệt vời ở thành phố Giơ-xi. Cần phải dừng lại một thời gian cho con vật lấy lại sức trước khi tiếp tục hải trình.
Mọi chuyện suôn sẻ được hai tuần. Rồi tai hoạ của tôi bắt đầu. Con voi trắng bị mất trộm! Giữa đêm khuya tôi bị đánh thức dậy, được báo tin rủi ro khủng khiếp ấy. Trong mấy phút, tôi hoảng loạn, lo âu tới mất trí. Tôi bất lực. Rồi tôi bình tĩnh lại, thu xếp lại đầu óc. Chẳng mấy chốc tôi thấy ra con đường mình phải đi, vì thật ra một người thông minh chỉ có một con đường duy nhất. Dù đã khuya, tôi vẫn vội vã sang Niu Oóc, nhờ một viên cảnh sát dẫn tới trụ sở sở thám tử.
May sao tôi tới kịp, đúng lúc ông chánh sở, thanh tra Blân lừng danh, sắp sửa ra về. Ông dáng người tầm thước, chắc lẳn. Khi suy nghĩ sâu xa, ông có thói quen nhíu mày, lấy ngón tay gõ gõ lên trán, trầm ngâm, khiến người ta lập tức tin chắc rằng mình đang đứng trước một con người không tầm thường. Chỉ nhìn thấy ông thôi tôi đã thấy tin tưởng, thấy hy vọng.
Tôi trình bày việc mình. Ông chẳng hề bối rối chút nào. Nó tác động tới cái vẻ tự chủ cứng như sắt của ông chẳng hơn gì nếu tôi bảo ông có kẻ vừa ăn trộm con chó của tôi. Ông ra hiệu mời tôi ngồi, rồi điềm tĩnh nói:
“Xin cho phép tôi suy nghĩ một lát.”
Nói xong, ông ngồi xuống bàn làm việc, tì đầu lên tay. Đầu kia căn phòng có mấy viên thư ký đang làm việc. Tiếng ngòi bút sột soạt của họ là âm thanh duy nhất tôi nghe thấy trong sáu bảy phút tiếp theo. Trong lúc ấy, ông thanh tra ngồi đó, chìm đắm trong suy tư. Cuối cùng ông ngẩng lên, và những nét rắn rỏi trên gương mặt ông cho tôi thấy bộ óc ông đã làm xong việc, kế hoạch đã thành hình. Ông nói, giọng trầm, đầy sức nặng:
“Đây không phải vụ án thường. Mỗi bước phải thận trọng. Bước này phải chắc chắn rồi mới liều bước tiếp. Và phải giữ bí mật, bí mật tuyệt đối, sâu kín. Đừng nói chuyện này với ai, kể cả các nhà báo. Tôi sẽ lo liệu họ. Tôi sẽ để họ chỉ biết những gì có lợi cho mục đích của tôi.”
Ông bấm chuông. Một cậu thanh niên xuất hiện.
“A-la-rích, bảo các nhà báo tạm thời ở lại.”
Cậu thanh niên lui ra.
“Giờ chúng ta bắt tay vào việc, một cách có hệ thống. Trong nghề của tôi, không có phương pháp chặt chẽ, tỉ mỉ thì chẳng làm nên trò trống gì.”
Ông cầm bút và giấy.
“Nào, tên con voi?”
“Ha-xan Ben A-li Ben Xê-lim Áp-đa-la Mô-ha-mét Môi-xê An-ham-man Giam-xết-gi-bôi Đu-líp Xun-tan Ê-bu Bút-pua.”
“Tốt lắm. Tên gọi thường ngày?”
“Giăm-bô.”
“Tốt lắm. Nơi sinh?”
“Kinh đô nước Xiêm.”
“Cha mẹ còn sống không?”
“Không, mất cả rồi.”
“Họ có sinh thêm đứa con nào khác ngoài nó không?”
“Không. Nó là con một.”
“Tốt lắm. Mục này như thế là đủ. Giờ xin ông tả con voi, đừng bỏ sót chi tiết nào, dù nhỏ nhặt đến đâu, ý tôi là nhỏ nhặt theo cách nhìn của ông. Với người làm nghề như tôi thì không có chi tiết nào nhỏ nhặt cả. Chúng không tồn tại.”
Tôi tả, ông ghi. Khi tôi tả xong, ông nói:
“Giờ ông nghe đây. Nếu tôi có ghi sai chỗ nào, ông sửa cho.”
Ông đọc như sau:
“Chiều cao, gần sáu mét. Chiều dài từ đỉnh trán tới gốc đuôi, tám mét. Vòi dài gần năm mét. Đuôi dài gần hai mét. Tổng chiều dài, tính cả vòi lẫn đuôi, gần mười lăm mét. Ngà dài gần ba mét. Tai tương xứng với các số đo ấy. Dấu chân giống vết để lại khi dựng ngược một cái thùng tô-nô trên tuyết. Màu da: trắng đục. Mỗi tai có một lỗ to bằng cái đĩa để đeo đồ trang sức. Có thói quen đặc biệt rõ là phun nước vào người đứng xem, và lấy vòi hành hạ không chỉ những người nó quen mà cả người hoàn toàn xa lạ. Chân sau bên phải hơi khập khiễng. Nách trái có một vết sẹo nhỏ do một cái nhọt cũ. Khi bị trộm, trên lưng có một cái lầu chứa được mười lăm chỗ ngồi, và một tấm vải yên bằng kim tuyến to bằng tấm thảm thường.”
Không có chỗ nào sai. Ông thanh tra bấm chuông, đưa bản mô tả cho A-la-rích, và nói:
“Cho in ngay năm mươi nghìn bản, gửi tới mọi văn phòng thám tử và mọi hiệu cầm đồ trên khắp lục địa.”
A-la-rích lui ra.
“Đấy, tới giờ thì mọi sự đều tốt. Tiếp theo, tôi cần một tấm ảnh của tài sản.”
Tôi đưa ông một tấm. Ông xem xét kỹ lưỡng, rồi nói:
“Đành dùng tạm vậy, vì chẳng có tấm nào tốt hơn. Nhưng trong ảnh nó đang cuộn vòi nhét vào miệng. Thật đáng tiếc, dễ gây nhầm lẫn lắm, vì dĩ nhiên thường ngày nó không để vòi như thế.”
Ông bấm chuông.
“A-la-rích, sáng mai việc đầu tiên là in năm mươi nghìn bản tấm ảnh này, gửi kèm với tờ mô tả.”
A-la-rích lui ra thi hành lệnh. Ông thanh tra nói:
“Dĩ nhiên phải treo thưởng. Thế còn số tiền?”
“Ông đề nghị bao nhiêu?”
“Để bắt đầu, tôi nghĩ là, chà, hai mươi lăm nghìn đô la. Đây là một vụ rắc rối, khó khăn. Có cả nghìn ngả để trốn, cả nghìn cơ hội để ẩn náu. Bọn trộm này có bạn bè, đồng bọn ở khắp nơi...”
“Trời ơi, ông biết chúng là ai à?”
Gương mặt cảnh giác, đã quen che giấu ý nghĩ và cảm xúc bên trong, chẳng để lộ chút dấu hiệu gì. Câu trả lời nói ra thật khẽ cũng vậy:
“Chuyện đó ông khỏi bận tâm. Có thể tôi biết, có thể không. Thường thì nhìn cách làm và cỡ con mồi kẻ trộm nhắm tới, chúng tôi đoán khá chính xác hắn là ai. Lần này chúng ta không phải đối phó với một tên móc túi hay một tên trộm vặt trong hành lang đâu, ông cứ xác định thế. Món tài sản này không phải do một tay mơ ‘nhấc’ đi. Nhưng như tôi đang nói, xét quãng đường phải đi, và sự cần mẫn của bọn trộm trong việc xoá dấu vết dọc đường, thì hai mươi lăm nghìn có khi còn ít. Nhưng tôi nghĩ cứ bắt đầu bằng con số ấy.”
Thế là chúng tôi quyết định bắt đầu bằng con số ấy. Rồi con người không để lọt bất cứ điều gì có thể dùng làm manh mối ấy nói:
“Trong lịch sử ngành thám tử có những vụ tội phạm bị phát hiện nhờ những đặc điểm trong khẩu vị của chúng. Vậy con voi này ăn gì, ăn bao nhiêu?”
“Chà, về chuyện nó ăn gì thì, cái gì nó cũng ăn. Nó ăn người, nó ăn Kinh Thánh, nó ăn mọi thứ nằm giữa con người và cuốn Kinh Thánh.”
“Tốt, rất tốt, nhưng chung chung quá. Cần chi tiết. Trong nghề chúng tôi, chỉ có chi tiết là quý. Được rồi, về chuyện người. Một bữa, hay nếu ông thích thì một ngày, nó ăn bao nhiêu người, nếu người còn tươi?”
“Nó chẳng quan tâm tươi hay không. Một bữa nó ăn năm người bình thường.”
“Tốt lắm. Năm người, ta ghi vậy. Nó thích người quốc tịch nào?”
“Nó không câu nệ quốc tịch. Nó thích người quen hơn, nhưng cũng chẳng có thành kiến gì với người lạ.”
“Tốt lắm. Giờ tới Kinh Thánh. Một bữa nó ăn bao nhiêu cuốn Kinh Thánh?”
“Nó ăn cả một lần xuất bản.”
“Chưa đủ cô đọng. Ý ông là loại khổ nhỏ thường, hay loại khổ lớn có tranh minh hoạ dùng trong gia đình?”
“Tôi nghĩ nó chẳng để ý tới tranh minh hoạ. Nghĩa là tôi nghĩ nó không coi tranh minh hoạ quý hơn chữ in thường.”
“Không, ông không hiểu ý tôi. Tôi nói về khối lượng. Cuốn Kinh Thánh khổ nhỏ thường nặng chừng một cân, còn cuốn khổ lớn có tranh minh hoạ thì nặng năm cân. Một bữa nó ăn bao nhiêu cuốn Kinh Thánh khổ lớn có tranh của Đô-rê?”
“Nếu ông biết con voi này thì ông chẳng hỏi thế. Có bao nhiêu nó ăn bấy nhiêu.”
“Thế thì tính ra tiền vậy. Ta phải xác định được bằng cách nào đó. Cuốn Đô-rê giá một trăm đô một bản, bìa da Nga, gáy vát cạnh.”
“Nó cần chừng năm mươi nghìn đô la, tức là một lần xuất bản năm trăm cuốn.”
“Thế thì chính xác hơn rồi. Tôi sẽ ghi vào. Tốt lắm, nó thích người và Kinh Thánh. Tới giờ vẫn ổn. Nó còn ăn gì nữa? Tôi cần chi tiết.”
“Nó bỏ Kinh Thánh để ăn gạch, bỏ gạch để ăn chai, bỏ chai để ăn quần áo, bỏ quần áo để ăn mèo, bỏ mèo để ăn hàu, bỏ hàu để ăn giăm bông, bỏ giăm bông để ăn đường, bỏ đường để ăn bánh nướng, bỏ bánh nướng để ăn khoai tây, bỏ khoai tây để ăn cám, bỏ cám để ăn cỏ khô, bỏ cỏ khô để ăn yến mạch, bỏ yến mạch để ăn gạo, vì nó được nuôi chủ yếu bằng gạo. Chẳng có thứ gì nó không ăn, ngoài bơ châu Âu. Mà bơ châu Âu nó cũng ăn nếu nó nếm được vị.”
“Tốt lắm. Lượng ăn chung mỗi bữa, chừng...”
“Chà, từ một phần tư cho tới nửa tấn.”
“Còn uống...”
“Mọi thứ dạng lỏng. Sữa, nước, rượu uýt-ki, mật mía, dầu thầu dầu, dầu thắp đèn, a-xít các-bô-lích. Kể chi tiết cũng vô ích. Ông nghĩ ra thứ chất lỏng nào thì cứ ghi vào. Nó uống mọi thứ chất lỏng, trừ cà phê châu Âu.”
“Tốt lắm. Về số lượng?”
“Ông ghi từ năm tới mười lăm thùng tô-nô. Cơn khát của nó lúc nhiều lúc ít, còn các khẩu vị khác thì không.”
“Những điều này thật khác thường. Chúng sẽ là những manh mối khá tốt để lần theo nó.”
Ông bấm chuông.
“A-la-rích, gọi đại uý Bơn tới.”
Đại uý Bơn xuất hiện. Thanh tra Blân trình bày toàn bộ sự việc với anh, từng chi tiết một. Rồi ông nói, bằng cái giọng rõ ràng, dứt khoát của một người có kế hoạch rành mạch trong đầu và quen ra lệnh:
“Đại uý Bơn, cử các thám tử Giôn-xơ, Đê-vít, Hôn-xi, Bết và Hác-kết đi bám theo con voi.”
“Vâng, thưa ngài.”
“Cử các thám tử Mô-dơ, Đây-kin, Mơ-phi, Rô-giơ, Táp-pơ, Hích-ghin và Ba-thô-lô-miu đi bám theo bọn trộm.”
“Vâng, thưa ngài.”
“Đặt một đội canh gác mạnh, ba mươi người chọn lọc, thêm ba mươi người thay ca, canh giữ nơi con voi bị trộm, theo dõi nghiêm ngặt ngày đêm, không cho ai tới gần, trừ các nhà báo, nếu không có giấy phép của tôi.”
“Vâng, thưa ngài.”
“Đặt thám tử mặc thường phục ở các ga tàu hoả, bến tàu thuỷ, bến phà, và trên mọi con đường dẫn ra khỏi thành phố Giơ-xi, với lệnh khám xét mọi kẻ khả nghi.”
“Vâng, thưa ngài.”
“Phát cho tất cả những người ấy ảnh và bản mô tả con voi, chỉ thị cho họ khám xét mọi chuyến tàu, mọi chuyến phà và tàu thuyền rời bến.”
“Vâng, thưa ngài.”
“Nếu tìm thấy con voi thì bắt giữ nó, rồi đánh điện báo cho tôi.”
“Vâng, thưa ngài.”
“Báo ngay cho tôi nếu tìm thấy manh mối gì, dấu chân con vật, hay bất cứ thứ gì như thế.”
“Vâng, thưa ngài.”
“Lấy một lệnh yêu cầu cảnh sát cảng tuần tra cẩn mật dọc bờ.”
“Vâng, thưa ngài.”
“Phái thám tử mặc thường phục đi khắp các tuyến đường sắt, phía bắc tới tận Ca-na-đa, phía tây tới tận Ô-hai-ô, phía nam tới tận Oa-sinh-tơn.”
“Vâng, thưa ngài.”
“Đặt chuyên viên ở mọi bưu điện để nghe mọi bức điện, và bắt phải giải mã cho họ mọi bức điện viết bằng mật mã.”
“Vâng, thưa ngài.”
“Mọi việc này phải làm hết sức bí mật. Nhớ đấy, bí mật tuyệt đối, không lọt ra ngoài.”
“Vâng, thưa ngài.”
“Báo cáo cho tôi đúng giờ thường lệ.”
“Vâng, thưa ngài.”
“Đi đi!”
“Vâng, thưa ngài.”
Anh đi rồi.
Thanh tra Blân im lặng, trầm ngâm một lúc, trong khi ngọn lửa trong mắt ông dịu xuống rồi tắt hẳn. Rồi ông quay sang tôi, nói giọng điềm tĩnh:
“Tôi không quen khoe khoang, đó không phải thói của tôi. Nhưng chúng ta sẽ tìm ra con voi.”
Tôi nồng nhiệt bắt tay ông, cảm ơn ông, và tôi cảm ơn thật lòng. Càng thấy con người ấy, tôi càng mến, càng khâm phục ông, càng kinh ngạc trước những điều kỳ diệu bí ẩn của nghề ông. Rồi chúng tôi chia tay để nghỉ đêm, và tôi về nhà với trái tim hạnh phúc hơn nhiều so với lúc tới văn phòng ông.
— Hết chương 1 —
😄 Truyện cười dân gian
😄 Truyện cười dân gian
😄 Truyện cười dân gian
😄 Truyện cười dân gian
😄 Truyện cười dân gian
😄 Truyện cười dân gian