Kính tặng tử tước Ơ-gien Men-si-o đờ Vô-guy-ê.
"Phương Đông thường có những vị vua là đạo sĩ."
Tẹc-tun-li-ên.
Thuở ấy, Ban-ta-da, người mà dân Hy Lạp gọi là Xa-ra-xanh, làm vua xứ Ê-ti-ô-pi-a. Chàng da đen nhưng mặt mũi đẹp đẽ. Chàng có tâm hồn giản dị và trái tim rộng lượng. Năm thứ ba thời trị vì, tức năm chàng hai mươi hai tuổi, chàng đi thăm Ban-kít, nữ hoàng xứ Sa-ba. Đạo sĩ Xăm-bô-bi-tít và viên thái giám Men-kê-ra đi theo chàng. Theo sau là bảy mươi lăm con lạc đà chở quế, nhựa thơm, bột vàng và ngà voi. Dọc đường, Xăm-bô-bi-tít giảng cho chàng nghe về ảnh hưởng của các vì sao và công dụng của các thứ đá quý, còn Men-kê-ra thì hát cho chàng nghe những bài thánh ca. Nhưng chàng chẳng nghe, chàng mải xem những con chó rừng nhỏ ngồi chồm hỗm, tai dựng đứng, ở tít chân trời cát.
Cuối cùng, sau mười hai ngày đường, Ban-ta-da và những người bạn đồng hành ngửi thấy mùi hoa hồng, rồi chẳng mấy chốc họ thấy những khu vườn bao quanh kinh thành Sa-ba.
Ở đó, họ gặp những thiếu nữ đang múa dưới những cây lựu trổ hoa.
Đạo sĩ Xăm-bô-bi-tít nói:
— Múa là một lời cầu nguyện.
Thái giám Men-kê-ra nói:
— Những người đàn bà này bán được giá rất cao.
Vào tới kinh thành, họ trầm trồ trước những cửa hàng, những nhà kho, những xưởng đóng thuyền rộng lớn trải dài trước mặt, cùng vô số hàng hoá chất đống ở đó. Họ đi rất lâu trong những con phố đầy xe cộ, phu khuân vác, lừa và người dắt lừa, rồi bỗng thấy hiện ra những bức tường đá hoa, những chiếc lều đỏ thẫm, những mái vòm vàng của cung điện Ban-kít.
Nữ hoàng xứ Sa-ba tiếp họ trong một khoảng sân mát rượi nhờ những vòi nước thơm rơi xuống thành những hạt ngọc với tiếng róc rách trong trẻo. Nàng đứng đó trong chiếc áo nạm ngọc, mỉm cười.
Thấy nàng, Ban-ta-da bối rối vô cùng. Chàng thấy nàng dịu dàng hơn giấc mơ và đẹp hơn mọi khát khao.
Xăm-bô-bi-tít khẽ nói với chàng:
— Thưa bệ hạ, xin bệ hạ nhớ ký với nữ hoàng một hiệp ước buôn bán có lợi.
Men-kê-ra thêm:
— Xin bệ hạ coi chừng. Người ta bảo bà ấy dùng phép thuật để đàn ông phải yêu mình.
Rồi sau khi phủ phục, đạo sĩ và thái giám lui ra.
Ở lại một mình với Ban-kít, Ban-ta-da cố nói, chàng mở miệng, nhưng chẳng thốt được lời nào. Chàng tự nhủ: "Nữ hoàng sẽ giận vì mình im lặng."
Vậy mà nữ hoàng vẫn mỉm cười, chẳng có vẻ gì phật ý.
Nàng nói trước, bằng một giọng êm ái hơn cả khúc nhạc êm ái nhất:
— Xin chào mừng ngài, mời ngài ngồi xuống bên ta.
Và bằng một ngón tay như một tia sáng trắng, nàng chỉ cho chàng những chiếc gối đỏ thẫm trải dưới đất.
Ban-ta-da ngồi xuống, thở dài một tiếng thật to, rồi chộp lấy hai chiếc gối, mỗi tay một chiếc, nói thật nhanh:
— Thưa bà, tôi ước gì hai chiếc gối này là hai tên khổng lồ, kẻ thù của bà. Vì tôi sẽ vặn cổ chúng.
Vừa nói chàng vừa bóp chặt hai chiếc gối trong nắm tay tới mức vải toác ra, và một đám lông tơ trắng bay tung. Một chiếc lông nhỏ chao lượn trong không khí một lúc, rồi đậu xuống ngực nữ hoàng.
Ban-kít đỏ mặt hỏi:
— Ngài Ban-ta-da, sao ngài lại muốn giết những tên khổng lồ?
Ban-ta-da đáp:
— Vì tôi yêu bà.
Ban-kít hỏi:
— Ngài cho ta biết, ở kinh đô của ngài nước giếng có ngon không?
Ban-ta-da ngạc nhiên đáp:
— Ngon ạ.
Ban-kít nói tiếp:
— Ta cũng tò mò muốn biết ở Ê-ti-ô-pi-a người ta làm mứt khô thế nào.
Nhà vua chẳng biết trả lời sao. Nàng giục:
— Ngài nói đi, nói đi cho ta vui.
Bấy giờ chàng cố hết sức nhớ lại, và tả cách các đầu bếp Ê-ti-ô-pi-a ngâm mộc qua trong mật ong. Nhưng nàng chẳng nghe. Bỗng nàng ngắt lời chàng:
— Thưa ngài, người ta bảo ngài yêu nữ hoàng Căng-đa-xơ, láng giềng của ngài. Đừng lừa ta: bà ấy có đẹp hơn ta không?
Ban-ta-da quỳ sụp dưới chân Ban-kít mà kêu lên:
— Đẹp hơn ư, thưa bà, làm sao có thể được?...
Nữ hoàng nói tiếp:
— Vậy à! Thế mắt bà ấy? Miệng bà ấy? Nước da bà ấy? Bộ ngực bà ấy?...
Ban-ta-da dang tay về phía nàng mà kêu:
— Xin bà cho tôi được nhặt chiếc lông nhỏ đậu trên cổ bà, rồi tôi sẽ tặng bà một nửa vương quốc của tôi cùng với nhà hiền triết Xăm-bô-bi-tít và viên thái giám Men-kê-ra.
Nhưng nàng đứng dậy và bỏ chạy, cười một tràng giòn tan.
Khi đạo sĩ và thái giám trở lại, họ thấy chủ mình ngồi trầm ngâm, một dáng vẻ mà chàng chẳng mấy khi có.
Xăm-bô-bi-tít hỏi:
— Thưa bệ hạ, bệ hạ đã ký được một hiệp ước buôn bán có lợi chưa?
Hôm ấy, Ban-ta-da ăn tối với nữ hoàng xứ Sa-ba và uống rượu cọ.
Trong bữa ăn, Ban-kít hỏi chàng:
— Vậy là thật à? Nữ hoàng Căng-đa-xơ không đẹp bằng ta?
Ban-ta-da đáp:
— Nữ hoàng Căng-đa-xơ da đen.
Ban-kít liếc nhanh nhìn Ban-ta-da mà nói:
— Người ta có thể da đen mà không xấu.
Nhà vua kêu lên:
— Ban-kít!...
Chàng không nói thêm được gì nữa. Chàng ôm lấy nàng, giữ vầng trán nữ hoàng ngả dưới đôi môi mình. Nhưng chàng thấy nàng khóc. Bấy giờ chàng nói thật khẽ với nàng bằng một giọng vỗ về, như hát, như các bà vú ru con. Chàng gọi nàng là bông hoa nhỏ, là ngôi sao nhỏ của chàng.
Chàng hỏi:
— Sao nàng khóc? Ta phải làm gì để nàng thôi khóc? Nếu nàng có điều gì mong muốn, hãy nói cho ta biết, ta sẽ làm cho nàng thoả.
Nàng không khóc nữa mà ngồi mơ màng. Chàng nài nỉ mãi nàng mới chịu nói ra điều mong muốn.
Cuối cùng nàng bảo:
— Em muốn được sợ hãi.
Thấy Ban-ta-da có vẻ không hiểu, nàng giải thích rằng từ lâu nàng vẫn thèm được gặp một mối nguy hiểm nào đó chưa biết, nhưng nàng không thể, vì người lẫn thần linh xứ Sa-ba đều canh giữ nàng.
Nàng thở dài nói thêm:
— Thế nhưng em muốn được cảm thấy trong đêm cái lạnh ngây ngất của nỗi kinh hoàng thấm vào da thịt. Em muốn cảm thấy tóc mình dựng ngược trên đầu. Ôi, được sợ hãi chắc thích lắm!
Nàng vòng tay ôm cổ ông vua da đen, và nói bằng giọng một đứa trẻ van nài:
— Đêm xuống rồi. Ta cải trang mà đi dạo trong thành, chàng nhé?
Chàng ưng ngay. Lập tức nàng chạy tới cửa sổ, nhìn qua mắt lưới ra quảng trường.
Nàng bảo:
— Có một người ăn mày nằm dựa tường cung điện. Chàng đưa cho hắn quần áo của chàng, xin đổi lấy chiếc khăn quấn đầu bằng lông lạc đà và tấm vải thô hắn quấn quanh hông. Làm nhanh lên, em đi sửa soạn đây.
Rồi nàng chạy khỏi phòng tiệc, vỗ tay để tỏ niềm vui.
Ban-ta-da cởi chiếc áo vải lanh thêu vàng, quấn tấm váy của người ăn mày. Thế là chàng trông như một người nô lệ thật. Chẳng mấy chốc nữ hoàng trở lại, mặc chiếc áo xanh không đường may của những người đàn bà làm đồng.
Nàng bảo:
— Đi thôi!
Rồi nàng kéo Ban-ta-da qua những hành lang hẹp, tới một cánh cửa nhỏ mở ra cánh đồng.
Đêm tối đen. Ban-kít nhỏ bé trong đêm.
Nàng dẫn Ban-ta-da tới một trong những quán rượu nơi dân khuân vác, phu bốc vác trong thành tụ tập cùng những người đàn bà lẳng lơ. Ngồi vào bàn, dưới ánh một ngọn đèn hôi hám, trong không khí đặc quánh, họ thấy những gã thô lỗ hôi hám đánh nhau bằng nắm đấm, bằng dao vì một người đàn bà hay vì một chén rượu lên men, trong khi những gã khác ngáy khò khò dưới gầm bàn, nắm tay vẫn siết chặt. Lão chủ quán nằm trên mấy bao tải, thận trọng liếc mắt theo dõi những cuộc ẩu đả của đám bợm rượu. Thấy mấy con cá muối treo trên xà nhà, Ban-kít bảo bạn:
— Em thèm ăn một con cá kia với hành giã quá.
Ban-ta-da gọi cho nàng. Nàng ăn xong, chàng mới nhận ra mình không mang theo tiền. Chàng chẳng mấy bận tâm, định cùng nàng đi ra mà không trả tiền. Nhưng lão chủ quán chặn đường, gọi họ là thằng nô lệ khốn kiếp và con lừa cái đê tiện. Ban-ta-da đấm một cú quật lão xuống đất. Mấy gã bợm rượu bèn giơ dao lao vào hai người lạ. Nhưng người da đen vớ lấy một cái chày khổng lồ dùng để giã hành Ai Cập, đập gục hai kẻ tấn công và buộc những kẻ khác lùi lại. Trong khi ấy chàng cảm thấy hơi ấm của thân hình Ban-kít đang nép vào mình, vì thế chàng vô địch. Bạn bè của lão chủ quán không dám lại gần nữa, từ cuối quán ném vào chàng những vò dầu, những chén thiếc, những ngọn đèn đang cháy, và cả cái nồi đồng khổng lồ đang hầm nguyên một con cừu. Cái nồi rơi đánh rầm khủng khiếp xuống đầu Ban-ta-da, làm sọ chàng vỡ toác. Chàng đứng sững một lúc, rồi dồn hết sức ném trả cái nồi mạnh tới mức sức nặng của nó như tăng gấp mười. Lẫn trong tiếng đồng va chạm là những tiếng rú chưa từng nghe và những tiếng hấp hối. Nhân lúc những kẻ sống sót kinh hoàng, và sợ Ban-kít bị thương, chàng bế nàng lên tay mà chạy trốn qua những ngõ hẻm tối tăm vắng vẻ. Sự im lặng của đêm bao trùm mặt đất, hai kẻ trốn chạy nghe tiếng la ó của đám bợm rượu và đám đàn bà đuổi bừa theo họ trong bóng tối nhỏ dần sau lưng. Chẳng mấy chốc họ chỉ còn nghe tiếng khẽ khàng của những giọt máu rơi từng giọt từ trán Ban-ta-da xuống ngực Ban-kít.
Nữ hoàng thì thầm:
— Em yêu chàng.
Và vầng trăng ló ra khỏi một đám mây, cho nhà vua thấy một ánh ướt và trắng trong đôi mắt khép hờ của Ban-kít. Họ đi xuống lòng một con suối cạn. Bỗng chân Ban-ta-da trượt trên rêu. Hai người cùng ngã, ôm chặt lấy nhau. Họ tưởng mình chìm mãi không cùng vào một cõi hư vô ngọt ngào, và thế giới của người sống không còn tồn tại với họ nữa. Họ vẫn còn đang nếm cái quên lãng êm đềm của thời gian, của con số và không gian, khi lúc rạng đông những con linh dương tới uống nước trong hốc đá.
Đúng lúc ấy, một bọn cướp đi qua thấy đôi tình nhân nằm trên rêu.
Bọn cướp bảo nhau:
— Chúng nó nghèo, nhưng ta sẽ bán chúng được giá cao, vì chúng trẻ và đẹp.
Thế là chúng lại gần, trói họ lại, buộc họ vào đuôi một con lừa rồi đi tiếp.
Người da đen bị xích, buông những lời doạ giết bọn cướp. Còn Ban-kít, run rẩy trong không khí mát lạnh buổi sớm, như đang mỉm cười với một điều gì vô hình.
Họ đi qua những vùng hoang vắng ghê rợn cho tới khi cái nóng ban ngày bắt đầu gắt. Mặt trời đã lên cao khi bọn cướp cởi trói cho tù nhân, bắt họ ngồi bên cạnh trong bóng một tảng đá, ném cho họ ít bánh mì mốc. Ban-ta-da khinh không nhặt, còn Ban-kít thì ăn ngấu nghiến.
Nàng cười. Tên đầu sỏ hỏi nàng vì sao cười, nàng đáp:
— Ta cười vì nghĩ rằng ta sẽ cho treo cổ hết chúng mày.
Tên đầu sỏ kêu lên:
— Thật à! Lời ấy lạ thật đấy, từ miệng một con bé rửa bát như mày, em yêu ạ! Hẳn là nhờ thằng nhân tình da đen của mày mà mày sẽ cho treo cổ hết bọn tao chứ gì?
Nghe những lời lăng mạ ấy, Ban-ta-da giận điên lên. Chàng lao vào tên cướp, bóp cổ hắn mạnh tới mức gần như làm hắn tắt thở.
Nhưng tên cướp đâm con dao vào bụng chàng ngập tới chuôi. Ông vua tội nghiệp lăn ra đất, quay về phía Ban-kít một ánh mắt hấp hối gần như tắt ngay.
Đúng lúc ấy vang lên tiếng ồn ào của người, ngựa và vũ khí, và Ban-kít nhận ra chàng Áp-ne dũng cảm dẫn đội cận vệ tới giải cứu nữ hoàng của mình, chàng đã biết tin nàng mất tích bí ẩn từ tối hôm trước.
Chàng phủ phục ba lần dưới chân Ban-kít, rồi cho đưa tới một chiếc kiệu đã chuẩn bị sẵn để rước nàng. Trong khi đó, lính cận vệ trói tay bọn cướp. Nữ hoàng quay về phía tên đầu sỏ mà dịu dàng nói:
— Ngươi sẽ không trách ta đã hứa suông đâu nhé, anh bạn, khi ta bảo ngươi sẽ bị treo cổ.
Đạo sĩ Xăm-bô-bi-tít và thái giám Men-kê-ra đứng bên Áp-ne kêu ầm lên khi thấy ông hoàng của mình nằm dưới đất, bất động, một con dao cắm trong bụng. Họ cẩn thận đỡ chàng dậy. Xăm-bô-bi-tít, giỏi nghề y, thấy chàng vẫn còn thở. Ông băng bó qua, trong khi Men-kê-ra lau bọt mép trên miệng nhà vua. Rồi họ buộc chàng lên lưng ngựa, từ từ đưa chàng về cung điện nữ hoàng.
Ban-ta-da mê sảng dữ dội suốt mười lăm ngày. Chàng cứ nói mãi về cái nồi bốc khói và lớp rêu dưới lòng suối, và gào gọi Ban-kít. Cuối cùng, ngày thứ mười sáu, mở mắt ra, chàng thấy bên giường Xăm-bô-bi-tít và Men-kê-ra, mà không thấy nữ hoàng.
— Nàng đâu? Nàng đang làm gì?
Men-kê-ra đáp:
— Thưa bệ hạ, bà ấy đang đóng cửa ở với vua xứ Cô-ma-gien.
Nhà hiền triết Xăm-bô-bi-tít thêm vào:
— Hẳn là họ đang bàn chuyện trao đổi hàng hoá. Nhưng xin bệ hạ đừng xúc động như thế, kẻo cơn sốt tăng lên.
Ban-ta-da kêu lên:
— Ta muốn gặp nàng!
Rồi chàng lao về phía phòng nữ hoàng, ông già lẫn viên thái giám không giữ nổi. Tới gần phòng ngủ, chàng thấy vua xứ Cô-ma-gien từ trong đi ra, vàng phủ khắp người, sáng chói như mặt trời.
Ban-kít nằm dài trên chiếc giường đỏ thẫm, mỉm cười, mắt nhắm.
Ban-ta-da kêu lên:
— Ban-kít của ta, Ban-kít của ta!
Nhưng nàng chẳng quay đầu, như đang kéo dài một giấc mơ.
Ban-ta-da lại gần, cầm lấy một bàn tay nàng, nàng giật mạnh tay lại.
Nàng hỏi chàng:
— Ngài muốn gì ở ta?
Ông vua da đen oà khóc mà đáp:
— Nàng còn hỏi ư!
Nàng quay về phía chàng đôi mắt bình thản và lạnh lùng.
Chàng hiểu nàng đã quên hết, và chàng nhắc lại cho nàng đêm bên lòng suối. Nhưng nàng bảo:
— Thật tình ta không hiểu ngài muốn nói gì, thưa ngài. Rượu cọ không hợp với ngài. Hẳn ngài đã nằm mơ.
Ông hoàng khốn khổ vặn vẹo đôi tay mà kêu:
— Sao! Những nụ hôn của nàng, và con dao mà ta còn mang dấu đây, là mơ cả ư!...
Nàng đứng dậy. Những viên ngọc trên áo nàng kêu như mưa đá và loé lên như chớp.
Nàng nói:
— Thưa ngài, đã đến giờ hội đồng của ta họp. Ta không rảnh để làm sáng tỏ những giấc mơ trong cái đầu đau ốm của ngài. Ngài hãy nghỉ ngơi đi. Vĩnh biệt!
Cảm thấy mình sắp ngất, Ban-ta-da cố gắng không để lộ sự yếu đuối trước người đàn bà độc ác ấy, chàng chạy về phòng mình và ngã vật xuống bất tỉnh, vết thương lại toác ra.
Chàng nằm ba tuần bất tỉnh như chết. Rồi tỉnh lại vào ngày thứ hai mươi hai, chàng nắm lấy tay Xăm-bô-bi-tít, người đang thức canh chàng cùng với Men-kê-ra, mà khóc:
— Ôi, các bạn của ta, hai người sung sướng biết bao, người thì già, người thì giống như người già!... Mà không! Trên đời chẳng có hạnh phúc gì, mọi thứ đều xấu xa, vì tình yêu là một thứ bệnh, và Ban-kít thì độc ác.
Xăm-bô-bi-tít đáp:
— Sự minh triết làm người ta hạnh phúc.
Ban-ta-da nói:
— Ta muốn thử. Nhưng ta về Ê-ti-ô-pi-a ngay thôi.
Và vì đã mất người mình yêu, chàng quyết định dâng mình cho sự minh triết và trở thành một đạo sĩ. Quyết định ấy dù không đem lại cho chàng niềm vui, ít ra cũng trả lại cho chàng chút bình yên. Tối nào chàng cũng ngồi trên sân thượng cung điện cùng đạo sĩ Xăm-bô-bi-tít và thái giám Men-kê-ra, ngắm những rặng cọ bất động ở chân trời, hoặc nhìn, dưới ánh trăng, những con cá sấu trôi trên sông Nin như những khúc gỗ.
Xăm-bô-bi-tít nói:
— Người ta ngắm thiên nhiên chẳng bao giờ chán.
Ban-ta-da đáp:
— Hẳn rồi. Nhưng trong thiên nhiên có cái còn đẹp hơn những rặng cọ và những con cá sấu.
Chàng nói thế vì chàng nhớ tới Ban-kít.
Còn Xăm-bô-bi-tít, vì đã già, thì nói:
— Có hiện tượng nước sông Nin lên xuống thật đáng thán phục, mà ta đã giải thích được. Con người sinh ra để hiểu biết.
Ban-ta-da thở dài đáp:
— Con người sinh ra để yêu. Có những điều không giải thích được.
Xăm-bô-bi-tít hỏi:
— Những điều gì?
Nhà vua đáp:
— Sự phản bội của một người đàn bà.
Thế nhưng, đã quyết làm đạo sĩ, Ban-ta-da cho xây một ngọn tháp, từ trên đỉnh nhìn thấy được nhiều vương quốc và mọi khoảng trời. Tháp xây bằng gạch, cao hơn mọi ngọn tháp khác. Xây mất ít nhất hai năm, và Ban-ta-da đã tiêu hết kho báu của vua cha để dựng nó. Đêm nào chàng cũng leo lên đỉnh tháp, và ở đó chàng quan sát bầu trời dưới sự chỉ dẫn của nhà hiền triết Xăm-bô-bi-tít.
Xăm-bô-bi-tít bảo chàng:
— Hình dạng các vì sao trên trời là dấu hiệu của số phận chúng ta.
Chàng đáp:
— Phải công nhận là những dấu hiệu ấy khó hiểu lắm. Nhưng trong khi ta nghiên cứu chúng, ta không nghĩ tới Ban-kít, và đó là một lợi lớn.
Trong số những chân lý có ích cần biết, đạo sĩ dạy chàng rằng các vì sao được đóng như những chiếc đinh trên vòm trời, và có năm hành tinh, là Ben, Mê-rô-đắc và Nê-bô, thuộc giống đực, Xin và My-li-ta, thuộc giống cái.
Ông còn bảo chàng:
— Bạc ứng với Xin, tức mặt trăng, sắt ứng với Mê-rô-đắc, thiếc ứng với Ben.
Còn Ban-ta-da hiền lành thì nói:
— Đó là những hiểu biết ta muốn có. Trong khi học thiên văn, ta chẳng nghĩ tới Ban-kít, chẳng nghĩ tới điều gì trên đời. Khoa học thật là ân phúc: nó khiến con người khỏi phải suy nghĩ. Xăm-bô-bi-tít, hãy dạy ta những hiểu biết huỷ diệt được tình cảm trong con người, và ta sẽ cho ông vinh hiển giữa dân ta.
Vì thế Xăm-bô-bi-tít dạy nhà vua sự minh triết.
Ông dạy chàng khoa đoán vận mệnh theo các vì sao, theo nguyên lý của những bậc thầy xa xưa. Càng quan sát mười hai cung của mặt trời, Ban-ta-da càng ít nghĩ tới Ban-kít.
Men-kê-ra nhận ra điều ấy, mừng lắm.
Một hôm hắn nói:
— Xin bệ hạ thừa nhận đi, nữ hoàng Ban-kít giấu dưới tấm áo vàng một đôi chân móng chẻ như chân dê.
Nhà vua hỏi:
— Ai kể cho ngươi chuyện ngu ngốc ấy?
Thái giám đáp:
— Thưa bệ hạ, cả xứ Sa-ba cũng như xứ Ê-ti-ô-pi-a ai cũng tin thế. Người ta vẫn nói rằng nữ hoàng Ban-kít có cẳng đầy lông và bàn chân là hai cái sừng đen.
Ban-ta-da nhún vai. Chàng biết đôi chân và bàn chân của Ban-kít cũng như của mọi người đàn bà khác, và đẹp hoàn hảo. Vậy mà ý nghĩ ấy làm hỏng đi kỷ niệm về người chàng từng yêu tha thiết. Chàng như trách Ban-kít rằng sắc đẹp của nàng không tránh khỏi bị xúc phạm trong trí tưởng tượng của những kẻ không biết nó. Nghĩ rằng mình đã yêu một người đàn bà thật ra rất đẹp nhưng lại bị đồn là quái vật, chàng thấy khó chịu thật sự, và không còn muốn gặp lại Ban-kít nữa. Ban-ta-da có tâm hồn giản dị, nhưng tình yêu bao giờ cũng là một tình cảm rất phức tạp.
Từ hôm ấy, nhà vua tiến bộ nhiều về pháp thuật và chiêm tinh. Chàng hết sức chú ý tới sự giao hội của các vì sao, và lập lá số chính xác chẳng kém gì chính nhà hiền triết Xăm-bô-bi-tít.
Chàng hỏi:
— Xăm-bô-bi-tít, ông có dám lấy đầu mình bảo đảm những lá số của ta là đúng không?
Và nhà hiền triết Xăm-bô-bi-tít đáp:
— Thưa bệ hạ, khoa học thì không bao giờ sai, nhưng các nhà khoa học thì lúc nào cũng sai.
Ban-ta-da có một trí tuệ thiên bẩm đẹp đẽ. Chàng nói:
— Chỉ những gì thần thánh mới là chân thật, mà cái thần thánh thì bị che khuất đối với chúng ta. Chúng ta tìm chân lý một cách vô ích. Thế nhưng ta vừa phát hiện một ngôi sao mới trên trời. Nó đẹp, nó như đang sống, và khi nó lấp lánh, ta tưởng như một con mắt trên trời đang dịu dàng chớp chớp. Ta tưởng như nghe nó gọi ta. Hạnh phúc thay, hạnh phúc thay, hạnh phúc thay, người sẽ sinh ra dưới ngôi sao này! Xăm-bô-bi-tít, ông xem ngôi sao duyên dáng và huy hoàng kia đang nhìn ta kìa.
Nhưng Xăm-bô-bi-tít không thấy ngôi sao, vì ông không muốn thấy. Uyên bác và già nua, ông không thích những điều mới mẻ.
Và Ban-ta-da một mình nhắc lại trong sự im lặng của đêm:
— Hạnh phúc thay, hạnh phúc thay, hạnh phúc thay, người sẽ sinh ra dưới ngôi sao này!
Thế rồi tin đồn lan khắp Ê-ti-ô-pi-a và các vương quốc láng giềng rằng vua Ban-ta-da không còn yêu Ban-kít nữa.
Khi tin ấy tới xứ Sa-ba, Ban-kít phẫn nộ như thể mình bị phản bội. Nàng chạy tới chỗ vua xứ Cô-ma-gien, người đang quên cả đế quốc của mình ở kinh thành Sa-ba, mà kêu lên:
— Chàng ơi, chàng có biết em vừa nghe tin gì không? Ban-ta-da không còn yêu em nữa.
Vua xứ Cô-ma-gien mỉm cười đáp:
— Có hề gì, vì chúng ta yêu nhau mà.
— Nhưng chàng không thấy cái nhục mà tên da đen ấy gây cho em sao?
Vua xứ Cô-ma-gien đáp:
— Không, ta không thấy.
Nàng đuổi ông ta đi một cách nhục nhã, và ra lệnh cho quan tể tướng chuẩn bị mọi thứ cho một chuyến đi Ê-ti-ô-pi-a.
Nàng bảo:
— Ta đi ngay đêm nay. Ta sẽ chém đầu ngươi nếu mọi thứ không sẵn sàng trước khi mặt trời lặn.
Rồi khi chỉ còn một mình, nàng bắt đầu nức nở.
Nàng thở dài, thành thật từ đáy lòng:
— Ta yêu chàng! Chàng không còn yêu ta nữa, mà ta lại yêu chàng!
Thế rồi một đêm, đang ở trên tháp quan sát ngôi sao kỳ diệu, Ban-ta-da cúi mắt nhìn xuống mặt đất, thấy một dải dài đen ngoằn ngoèo ở tít xa trên cát sa mạc như một đạo quân kiến. Dần dần, những gì trông như kiến lớn lên, rõ ra, đủ để nhà vua nhận ra ngựa, lạc đà và voi.
Đoàn lữ hành tới gần kinh thành, Ban-ta-da nhận ra những thanh mã tấu sáng loáng và những con ngựa đen của đội cận vệ nữ hoàng xứ Sa-ba. Chàng nhận ra cả chính nàng. Và chàng bối rối vô cùng. Chàng cảm thấy mình sắp lại yêu nàng. Ngôi sao chiếu sáng giữa đỉnh trời một ánh sáng kỳ diệu. Dưới kia, Ban-kít nằm trong một chiếc kiệu đỏ thẫm và vàng, nhỏ bé và lấp lánh như ngôi sao.
Ban-ta-da cảm thấy mình bị một sức mạnh khủng khiếp kéo về phía nàng. Thế nhưng, bằng một nỗ lực tuyệt vọng, chàng quay mặt đi, ngước mắt lên, và lại thấy ngôi sao. Bấy giờ ngôi sao cất tiếng nói:
"Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm!
Hỡi vua Ban-ta-da hiền hậu, hãy lấy một đấu nhựa thơm một-dược mà theo ta. Ta sẽ dẫn ngươi tới dưới chân hài nhi vừa ra đời trong một chuồng gia súc, giữa con lừa và con bò.
Và hài nhi ấy là vua của các vua. Người sẽ an ủi những ai muốn được an ủi.
Người gọi ngươi tới, hỡi Ban-ta-da, kẻ có tâm hồn còn u tối, nhưng có trái tim giản dị như trẻ nhỏ.
Người đã chọn ngươi vì ngươi đã đau khổ, và Người sẽ ban cho ngươi sự giàu có, niềm vui và tình yêu.
Người sẽ bảo ngươi: Hãy vui vẻ mà nghèo khó, đó mới là sự giàu có thật. Người còn bảo ngươi: Niềm vui thật nằm ở chỗ từ bỏ niềm vui. Hãy yêu Ta, và chỉ yêu các tạo vật trong Ta, vì chỉ mình Ta là tình yêu."
Nghe những lời ấy, một sự bình an thần thánh lan toả như ánh sáng trên khuôn mặt sẫm màu của nhà vua.
Ban-ta-da sung sướng lắng nghe ngôi sao. Và chàng cảm thấy mình trở thành một con người mới. Xăm-bô-bi-tít và Men-kê-ra phủ phục trán sát đá, thờ lạy bên cạnh chàng.
Nữ hoàng Ban-kít nhìn Ban-ta-da. Nàng hiểu rằng sẽ chẳng bao giờ còn tình yêu dành cho nàng trong trái tim đã đầy ắp tình yêu thần thánh ấy. Nàng tái mặt vì tức giận, và ra lệnh cho đoàn lữ hành quay về xứ Sa-ba ngay lập tức.
Khi ngôi sao ngừng nói, nhà vua và hai người bạn đồng hành xuống tháp. Rồi sửa soạn một đấu nhựa thơm một-dược, họ lập một đoàn lữ hành và ra đi tới nơi ngôi sao dẫn đường. Họ đi rất lâu qua những miền đất xa lạ, và ngôi sao đi trước họ.
Một hôm, tới một chỗ ba con đường gặp nhau, họ thấy hai ông vua đang tiến tới với một đoàn tuỳ tùng đông đảo. Một người còn trẻ, mặt trắng. Ông chào Ban-ta-da và nói:
— Ta tên là Gát-pa, ta là vua, ta đi mang vàng tặng hài nhi vừa ra đời ở Bê-lem xứ Giu-đê.
Ông vua thứ hai tiến lên. Đó là một ông già râu trắng phủ kín ngực.
Ông nói:
— Ta tên là Men-si-o, ta là vua, ta đi mang trầm hương tặng hài nhi thánh, người tới để dạy chân lý cho loài người.
Ban-ta-da đáp:
— Ta cũng đi như các ngài. Ta đã chiến thắng dục vọng của mình, vì thế ngôi sao đã nói với ta.
Men-si-o nói:
— Còn ta, ta đã chiến thắng lòng kiêu ngạo, vì thế ta được gọi.
Gát-pa nói:
— Còn ta, ta đã chiến thắng sự tàn bạo, vì thế ta đi cùng các ngài.
Và ba vị đạo sĩ cùng nhau tiếp tục cuộc hành trình. Ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông đi trước dẫn đường cho tới khi, đến phía trên nơi hài nhi ở, nó dừng lại.
Thấy ngôi sao dừng lại, họ mừng rỡ vô cùng.
Và vào trong nhà, họ thấy hài nhi cùng Ma-ri-a, mẹ Người. Họ sấp mình thờ lạy Người. Rồi mở những kho báu của mình, họ dâng Người vàng, trầm hương và một-dược, như lời trong Phúc Âm.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn