Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Người nằm trong lều ong

Xác sống · Chương 1/2 · của Ivan Turgenev

⏱ 15 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 15.998 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Hỡi quê hương nhẫn nại muôn đời, Hỡi xứ…
  2. 1:31Tôi không hỏi người bạn đồng hành trung thành…
  3. 3:30Một cái đầu khô quắt hoàn toàn, một màu…
  4. 5:23Bác Éc-mô-lai, người đi săn, dẫn tôi tới đây.…
  5. 7:29Lu-ke-ri-a hơi đưa mắt sang chỗ khác.
  6. 9:03Em nói thế là sao?
  7. 11:45Lu-ke-ri-a liếc nhìn tôi, như muốn hỏi: "Buồn cười…
  8. 14:36Em biết, cậu ạ, cậu muốn tốt cho em.…

Chương 1: Người nằm trong lều ong

Hỡi quê hương nhẫn nại muôn đời,
Hỡi xứ sở của người dân Nga.

Người Pháp có câu: "Dân câu mà khô ráo, dân săn mà ướt sũng, trông đều thảm hại cả." Tôi chưa bao giờ ham câu cá, nên chẳng biết người đi câu cảm thấy thế nào khi trời đẹp, và khi trời xấu thì cá được nhiều có bù lại được cái khổ bị ướt hay không. Nhưng với người đi săn, mưa là một tai hoạ thật sự. Chính cái tai hoạ ấy đã ập xuống đầu tôi và Éc-mô-lai trong một chuyến đi săn gà gô ở huyện Bê-li-ốp.

Mưa không ngớt từ sáng sớm. Chúng tôi làm đủ mọi cách để tránh mưa mà chẳng ăn thua. Chúng tôi trùm áo đi mưa gần kín cả đầu, rồi đứng nép dưới gốc cây cho khỏi bị nước rỏ. Mấy cái áo không thấm nước ấy, chưa nói đến chuyện vướng víu khi bắn, lại để nước lọt vào một cách trơ trẽn hết chỗ nói. Còn đứng dưới gốc cây thì lúc đầu, đúng là mưa không tới được, nhưng sau đó nước đọng trên lá bỗng ào xuống, cành nào cũng xối lên người như vòi nước, một dòng nước lạnh luồn vào dưới khăn quàng cổ, chảy dọc xuống sống lưng. Như lời Éc-mô-lai nói, thế là "khó chịu hết sức".

– Không được, cậu Piốt Pê-tơ-rô-vích ạ, – cuối cùng bác ta kêu lên. – Cứ thế này thì không xong. Hôm nay chẳng săn được gì đâu. Mũi chó ngửi chẳng ra hơi nữa. Súng thì tịt ngòi. Chà! Khổ thật!

– Thế thì làm sao bây giờ? – tôi hỏi.

– Thì ta đến A-léc-xê-ép-ca. Có khi cậu không biết, ở đó có một xóm trại của bà nhà, cách đây chừng mười cây số. Ta nghỉ đêm ở đó, rồi mai…

– Rồi mai lại quay về đây à?

– Không, không về đây đâu… Tôi biết mấy chỗ bên kia A-léc-xê-ép-ca… gà gô còn nhiều hơn ở đây gấp bội!

Tôi không hỏi người bạn đồng hành trung thành của mình vì sao trước đây bác không dẫn tôi tới mấy chỗ ấy, và ngay hôm đó chúng tôi tới cái xóm trại của mẹ tôi, cái xóm mà phải thú thật, đến lúc ấy tôi cũng chẳng hề biết là có. Hoá ra ở xóm ấy có một ngôi nhà nhỏ dành cho chủ. Nhà rất cũ, nhưng vì không có ai ở nên sạch sẽ. Tôi ngủ ở đó một đêm khá yên ổn.

Hôm sau tôi dậy rất sớm. Mặt trời vừa mới mọc, trên trời không một gợn mây. Mọi vật xung quanh lấp lánh một vẻ rực rỡ gấp đôi: ánh nắng ban mai tươi mới, và cơn mưa như trút hôm qua. Trong khi người ta đóng xe cho tôi, tôi đi dạo một vòng quanh khu vườn cây ăn quả nho nhỏ, giờ đã bỏ hoang, mọc um tùm, bao bọc ngôi nhà bốn phía bằng cả một đám cây lá thơm tho, căng nhựa. Chao ôi, ở ngoài trời mới dễ chịu làm sao, dưới bầu trời trong sáng, nơi những con sơn ca đang lảnh lót, những tiếng hót trong như chuông của chúng rơi xuống như những hạt cườm bạc! Hẳn là trên cánh chúng còn mang theo những giọt sương, và tiếng hót của chúng như cũng đẫm sương. Tôi bỏ mũ ra, hít một hơi thật sâu, thật sung sướng.

Bên sườn một khe đất nông, sát hàng rào, có một trại ong. Một lối mòn hẹp dẫn tới đó, ngoằn ngoèo như con rắn giữa hai bức tường dày đặc cỏ cao và tầm ma, bên trên lại nhô lên mấy ngọn gai dầu xanh thẫm nhọn hoắt, có Chúa mới biết ở đâu mọc tới.

Tôi rẽ vào lối ấy, đi tới trại ong. Bên cạnh có một cái lều nhỏ đan bằng phên, mùa đông người ta để các tổ ong vào đó. Tôi ghé nhìn qua cánh cửa khép hờ. Bên trong tối, yên lặng, khô ráo, thoang thoảng mùi bạc hà và mùi tía tô đất. Trong góc kê mấy cái giá ghép lại với nhau, trên đó, đắp một tấm chăn, là một hình thù bé nhỏ gì đó. Tôi toan bỏ đi…

– Cậu ơi, cậu ơi! Cậu Piốt Pê-tơ-rô-vích! – tôi nghe một giọng nói yếu ớt, chậm rãi, khàn khàn, như tiếng cói đầm lầy thì thào.

Tôi dừng lại.

– Cậu Piốt Pê-tơ-rô-vích! Cậu vào đây với! – giọng nói nhắc lại. Nó phát ra từ cái góc có mấy cái giá tôi vừa thấy.

Tôi lại gần, và sững sờ đến không nói nên lời. Trước mặt tôi là một con người đang sống, nhưng là một sinh vật như thế nào?

Một cái đầu khô quắt hoàn toàn, một màu đồng đỏ đều đặn, giống như một bức tranh thánh rất cổ đã ngả vàng. Cái mũi nhọn như lưỡi dao sắc. Môi thì hầu như không nhìn thấy, chỉ có hàm răng và đôi mắt là ánh lên trắng. Dưới chiếc khăn trùm đầu, mấy lọn tóc vàng mỏng rủ xuống trán. Chỗ cằm, nơi mép chăn gấp lại, hai bàn tay tí xíu cũng màu đồng ấy đang cử động, những ngón tay chậm chạp co giật như những que củi nhỏ. Tôi nhìn kỹ hơn. Khuôn mặt ấy chẳng những không xấu, mà còn đẹp nữa, nhưng lạ lùng và đáng sợ. Và khuôn mặt ấy càng làm tôi sợ hơn, vì trên đó, trên đôi má như bằng kim loại ấy, tôi thấy một nụ cười đang gắng gượng… gắng gượng mãi mà không sao thành hình được.

– Cậu không nhận ra em à, cậu? – giọng nói lại thì thầm, như thoát ra từ đôi môi hầu như không động đậy. – Mà làm sao cậu nhận ra được? Em là Lu-ke-ri-a đây… Cậu còn nhớ không, cái đứa hay cầm đầu vòng múa ở nhà bà, ở Xpát-xcôi-ê ấy? Cậu còn nhớ không, em còn hay lĩnh xướng trong đội hát nữa?

– Lu-ke-ri-a! – tôi kêu lên. – Có phải em đấy không? Lẽ nào thế được?

– Vâng, em đây, cậu ạ, em là Lu-ke-ri-a đây.

Tôi không biết nói gì, chỉ sững sờ nhìn khuôn mặt sẫm màu bất động với đôi mắt sáng trong mà như mắt người chết đang dán chặt vào tôi. Lẽ nào lại như thế? Cái xác ướp này là Lu-ke-ri-a, cô gái đẹp nhất trong cả đám gia nhân nhà tôi, cô gái cao ráo, đẫy đà, má hồng da trắng, hay hát, hay cười, hay múa ấy! Lu-ke-ri-a, cô Lu-ke-ri-a duyên dáng của chúng tôi, người mà bao nhiêu chàng trai trong nhà theo đuổi, người mà chính tôi, một cậu bé mười sáu tuổi, cũng từng thầm thở dài vì cô!

– Trời ơi, Lu-ke-ri-a! – cuối cùng tôi nói. – Em làm sao thế này?

– Ôi, em gặp phải một tai hoạ như thế đấy! Nhưng cậu đừng ngại, cậu đừng ghê cái nỗi khổ của em. Cậu ngồi lên cái thùng nhỏ kia, nhích lại gần một chút, không thì cậu không nghe được em nói đâu… Giờ em chẳng còn hơi sức gì mà nói to nữa! Chà, gặp được cậu em mừng quá! Sao cậu lại đến A-léc-xê-ép-ca?

Lu-ke-ri-a nói rất khẽ và yếu ớt, nhưng không ngừng nghỉ.

– Bác Éc-mô-lai, người đi săn, dẫn tôi tới đây. Nhưng em kể cho tôi nghe đi…

– Kể chuyện em gặp nạn ấy ạ? Vâng, cậu ạ. Chuyện xảy ra lâu lắm rồi, sáu bảy năm rồi. Hồi ấy em vừa mới hứa hôn với anh Va-xi-li Pô-li-a-cốp. Cậu còn nhớ không, anh ấy đẹp trai lắm, tóc quăn, hầu bàn ở nhà bà? Nhưng hồi ấy cậu không ở quê, cậu đã lên Mát-xcơ-va đi học. Em với anh Va-xi-li yêu nhau lắm, lúc nào em cũng nghĩ tới anh ấy. Chuyện xảy ra vào mùa xuân. Một đêm kia… gần sáng rồi… em không ngủ được. Ngoài vườn có con hoạ mi hót hay quá! Em không đừng được, bèn dậy ra đứng ngoài bậc thềm mà nghe. Nó hót mãi, hót mãi… thế rồi bỗng em tưởng như có ai gọi em, nghe như giọng anh Va-xi-li, khe khẽ thế này: "Lu-sa!" Em quay lại, mà chắc là đang ngái ngủ, em hụt chân, ngã lộn từ bậc trên cùng xuống, nằm sóng soài dưới đất! Em cứ tưởng mình không đau lắm, vì em đứng dậy được ngay và trở về phòng. Có điều hình như trong người em, trong thân thể em, có cái gì bị vỡ… Cậu để em thở một tí… nửa phút thôi… cậu ạ.

Lu-ke-ri-a ngừng lại, và tôi nhìn cô mà ngạc nhiên. Điều làm tôi ngạc nhiên nhất là cô kể chuyện mình gần như vui vẻ, không thở than, không rên rỉ, không phàn nàn, cũng không xin ai thương hại.

– Từ khi xảy ra chuyện ấy, – Lu-ke-ri-a nói tiếp, – em bắt đầu héo hon, gầy rộc đi. Da em sạm lại, đi đứng khó khăn, rồi sau đó hai chân em liệt hẳn. Em không đứng được, không ngồi được, lúc nào cũng phải nằm. Ăn uống em cũng chẳng thiết, cứ ngày một tệ đi. Bà nhà thương em, cho em đi chạy thầy chạy thuốc, gửi em vào nhà thương. Nhưng không chữa được. Mà không ông thầy thuốc nào nói nổi em mắc bệnh gì. Họ làm đủ mọi thứ với em: họ lấy sắt nung đốt sống lưng em, họ ướp em trong những tảng nước đá, mà chẳng ăn thua gì. Cuối cùng em tê dại hết cả người…

Thế là các ông các bà quyết định chữa cho em nữa cũng vô ích, mà giữ người tàn tật ở nhà lớn thì chẳng ra làm sao… nên người ta đưa em về đây, vì em có bà con ở đây. Thế là em sống ở đây, như cậu thấy đấy.

Lu-ke-ri-a lại im lặng, và lại cố gắng mỉm cười.

– Nhưng thế này thì khủng khiếp quá, cái cảnh của em! – tôi kêu lên… rồi chẳng biết nói gì thêm, tôi hỏi: – Thế còn Va-xi-li Pô-li-a-cốp?

Thật là một câu hỏi ngớ ngẩn hết sức.

Lu-ke-ri-a hơi đưa mắt sang chỗ khác.

– Anh Pô-li-a-cốp ấy ạ? Anh ấy buồn, buồn một dạo, rồi lấy người khác, một cô ở Gơ-lin-nôi-ê. Cậu có biết Gơ-lin-nôi-ê không? Cách đây không xa đâu. Cô ấy tên A-gra-phê-na. Anh ấy yêu em lắm, nhưng cậu xem, anh ấy còn trẻ, đâu có ở vậy mãi được. Mà em thì làm sao giúp đỡ được anh ấy? Người vợ anh ấy lấy là một người tốt, hiền lành, hai vợ chồng có con rồi. Anh ấy sống ở vùng này, làm thư ký cho một nhà láng giềng. Bà nhà cấp giấy cho anh ấy đi làm ăn, anh ấy đang khá lắm, tạ ơn Chúa.

– Thế là em cứ nằm đây suốt à? – tôi lại hỏi.

– Vâng, cậu ạ, em nằm thế này đã bảy năm rồi. Mùa hè em nằm trong cái lều này, đến khi trời lạnh thì người ta khiêng em sang nhà tắm, em nằm ở đó.

– Ai chăm sóc em? Có ai trông nom em không?

– Ôi, ở đây cũng như ở đâu, đều có người tốt cả, họ không bỏ em đâu. Vâng, họ cũng trông nom em chút ít. Còn ăn thì em hầu như chẳng ăn gì, nhưng nước thì có đây, trong cái bình kia, lúc nào cũng có nước suối trong đầy bình. Em tự với tới cái bình được, em còn một tay cử động được mà. Ở đây có một con bé mồ côi, thỉnh thoảng nó lại sang thăm em, con bé ngoan lắm. Nó vừa mới ở đây… Cậu không gặp nó à? Xinh lắm, tóc vàng hoe. Nó mang hoa đến cho em. Ở trong vườn cũng có hoa, đã từng có, nhưng mất hết rồi. Nhưng cậu biết đấy, hoa dại cũng đẹp, lại còn thơm hơn hoa vườn nữa. Như hoa linh lan chẳng hạn… có gì thơm hơn?

– Thế em không buồn chán, không khổ sở à, Lu-ke-ri-a tội nghiệp của tôi?

– Thì biết làm sao được? Em không nói dối cậu đâu. Lúc đầu buồn lắm. Nhưng rồi em quen, em nhẫn nại hơn, chẳng sao cả. Còn có người khổ hơn em nữa kia.

– Em nói thế là sao?

– Thì có người không có mái nhà mà che thân, có người mù, có người điếc. Còn em, tạ ơn Chúa, mắt em tinh lắm, tai nghe cái gì cũng rõ, cái gì cũng rõ. Một con chuột chũi đào đất thôi em cũng nghe được. Mà mùi gì em cũng ngửi thấy, dù là thoang thoảng nhất! Khi kiều mạch ngoài đồng trổ hoa, hay cây đoạn trong vườn nở hoa, chẳng cần ai bảo em cũng biết, em biết đầu tiên. Ấy là chỉ cần có chút gió thổi từ phía ấy lại thôi. Không, những kẻ làm Chúa nổi giận còn khổ hơn em nhiều. Lại thế này nữa: người khoẻ mạnh dễ sa vào tội lỗi lắm. Còn em thì ngay cả tội lỗi cũng chẳng với tới được. Hôm nọ cha A-léc-xây đến làm phép ban thánh thể cho em, cha bảo: "Chẳng cần xưng tội cho con làm gì, con nằm thế này thì phạm tội làm sao được?" Nhưng em thưa với cha: "Thế còn tội trong ý nghĩ thì sao, thưa cha?" Cha bảo: "À, cái đó thì chẳng phải tội gì to tát." Rồi chính cha cũng bật cười.

– Mà em nghĩ ngay cả trong ý nghĩ em cũng chẳng phạm tội gì to tát, – Lu-ke-ri-a nói tiếp, – vì em đã tập cho mình không nghĩ ngợi, nhất là không nhớ lại. Như thế thời gian trôi nhanh hơn.

Thú thật, tôi kinh ngạc.

– Em lúc nào cũng một mình, Lu-ke-ri-a ạ, làm sao em ngăn được những ý nghĩ cứ chui vào đầu? Hay là em ngủ suốt?

– Ồ không đâu, cậu! Em đâu có ngủ suốt được. Tuy em không đau lắm, nhưng vẫn cứ ê ẩm, ở trong này này, tận bên trong, cả trong xương nữa, nó không cho em ngủ cho ra ngủ. Không… nhưng mà em cứ nằm một mình, nằm đây, nằm mãi, và không nghĩ gì cả. Em cảm thấy mình đang sống, đang thở, và em dồn hết cả mình vào đó. Em nhìn và em nghe. Bầy ong vo ve, ù ù trong tổ. Một con bồ câu đậu trên mái gù gù. Một con gà mái dẫn đàn con đến mổ vụn bánh. Hay một con sẻ bay vào, hay một con bướm, ấy là một niềm vui lớn với em đấy. Năm ngoái còn có đôi én làm tổ ngay ở góc đằng kia, rồi nuôi con ở đó. Ôi, thích lắm cậu ạ! Một con bay về tổ, ép sát vào, mớm cho một con nhỏ, rồi bay đi. Nhìn lại thì con kia đã thế chỗ rồi. Có khi nó không bay vào mà chỉ bay lướt qua cửa, thế là bọn con nhỏ kêu chiêm chiếp, há mỏ ra ngay… Em cứ mong năm sau chúng lại về, nhưng người ta bảo có một ông đi săn ở đây đã lấy súng bắn chết chúng rồi. Mà bắn thế thì được cái gì cơ chứ? Con én có to hơn con bọ cánh cứng là mấy đâu… Các ông đi săn ác thật đấy!

– Tôi không bắn chim én đâu, – tôi vội nói.

– Lại có lần, – Lu-ke-ri-a lại bắt đầu, – buồn cười lắm cơ. Một con thỏ chạy vào đây, thật đấy! Chắc là bị chó săn đuổi, mà nó cứ như lăn tọt vào qua cửa ấy! Nó ngồi sát ngay cạnh em, ngồi thế lâu lắm, cái mũi cứ khịt khịt, bộ râu cứ giật giật, y như một ông sĩ quan! Nó nhìn em. Chắc nó hiểu em chẳng làm gì nó được. Cuối cùng nó đứng dậy, nhảy tưng tưng ra cửa, đứng ở ngưỡng cửa ngoái nhìn lại. Trông nó ra sao cậu biết không? Buồn cười ơi là buồn cười!

Lu-ke-ri-a liếc nhìn tôi, như muốn hỏi: "Buồn cười không cậu?" Để cô vui lòng, tôi bật cười. Cô liếm đôi môi khô nẻ.

– Mùa đông thì dĩ nhiên em khổ hơn, vì trời tối. Thắp nến thì tiếc, mà thắp để làm gì? Em biết đọc chữ, hồi trước lại thích đọc lắm, nhưng biết đọc gì bây giờ? Sách vở chẳng có quyển nào, mà có đi nữa thì em làm sao cầm sách được? Cha A-léc-xây có mang cho em một cuốn lịch để em đọc cho đỡ buồn, nhưng cha thấy chẳng được tích sự gì nên lại mang về. Nhưng dù trời tối, lúc nào cũng có cái để mà nghe: con dế kêu, hay con chuột cào sột soạt ở đâu đó. Những lúc ấy, không nghĩ ngợi gì là hay nhất!

– Em còn đọc kinh nữa, – Lu-ke-ri-a nói tiếp, sau khi thở lấy hơi một lát, – có điều em không thuộc nhiều kinh. Mà vả lại, làm phiền Chúa làm gì? Em biết xin Chúa cái gì đây? Chúa biết em cần gì hơn em chứ. Chúa đã đặt cây thập giá lên vai em, nghĩa là Chúa thương em. Người ta dạy chúng em phải hiểu như vậy. Em đọc kinh Lạy Cha, kinh Kính Mừng, kinh cầu cho những người đau khổ, rồi em lại nằm yên, chẳng nghĩ ngợi gì, thế là ổn!

Hai phút trôi qua. Tôi không phá vỡ sự im lặng, cũng không nhúc nhích trên cái thùng hẹp dùng làm ghế ngồi. Sự bất động lạnh lẽo, như đá, của con người bất hạnh, vẫn đang sống, nằm trước mặt tôi như truyền sang cả tôi. Tôi cũng như tê dại đi.

– Nghe này, Lu-ke-ri-a, – cuối cùng tôi bắt đầu, – em nghe tôi đề nghị thế này nhé. Em có muốn tôi thu xếp cho người ta đưa em vào nhà thương không, một nhà thương tốt trên tỉnh? Biết đâu em lại chữa được. Dù sao thì em cũng không phải ở một mình…

Đôi lông mày của Lu-ke-ri-a khẽ rung rung.

– Ôi không, cậu ạ, – cô đáp, giọng thì thào lo lắng. – Đừng chuyển em vào nhà thương, đừng đụng đến em. Vào đó em chỉ thêm đau đớn thôi! Bây giờ thì chữa cho em làm sao được nữa? Có lần một ông thầy thuốc đến đây, ông ấy muốn khám cho em. Em lạy ông ấy, nhân danh Chúa, xin ông ấy đừng động đến em. Vô ích. Ông ấy bắt đầu lật em qua lật em lại, nắn bóp chân tay em, kéo em như kéo cái gì ấy. Ông ấy bảo: "Ta làm thế này là vì khoa học. Ta là đầy tớ của khoa học, ta là nhà khoa học! Còn chị thì không được chống lại ta, vì ta đã được thưởng huân chương vì công lao của ta, mà ta khó nhọc thế này là vì những người khờ khạo như các chị đấy." Ông ấy nắn bóp em một hồi, nói cho em biết tên bệnh của em, một cái tên dài lạ lùng lắm, rồi ông ấy đi. Thế là cả tuần sau đó, xương cốt em đau ê ẩm. Cậu bảo em "một mình, lúc nào cũng một mình". Ồ không, không phải lúc nào cũng thế đâu, người ta vẫn đến thăm em. Em hiền lành, em không làm phiền ai. Các cô gái trong làng ghé vào nói chuyện một lúc. Có bà hành hương lạc bước vào, kể cho em nghe chuyện Giê-ru-xa-lem, chuyện Ki-ép, chuyện các thành phố thánh. Mà em cũng chẳng sợ ở một mình. Thật đấy, như thế còn hơn, thật mà! Cậu ơi, đừng động đến em, đừng đưa em vào nhà thương… Em cảm ơn cậu, cậu tốt bụng lắm, chỉ xin cậu đừng động đến em, cậu nhé!

– Thôi được, tuỳ em, tuỳ em, Lu-ke-ri-a ạ. Em biết đấy, tôi chỉ đề nghị thế vì muốn tốt cho em thôi.

– Em biết, cậu ạ, cậu muốn tốt cho em. Nhưng cậu ơi, ai giúp được ai? Ai vào được tận trong lòng người khác? Mỗi người phải tự giúp mình thôi! Có khi cậu không tin em đâu. Có lúc em nằm đây một mình… mà cứ như trên đời chẳng còn ai ngoài em. Như chỉ có một mình em đang sống! Và em thấy như có cái gì đang ban phúc cho em… Em mơ màng đi vào những giấc mơ kỳ diệu lắm!

– Thế em mơ thấy gì, Lu-ke-ri-a?

– Cái đó thì em cũng không nói được, cậu ạ, không giải thích được. Vả lại tỉnh ra là quên mất. Nó giống như một đám mây kéo tới rồi vỡ ra, thế là mát mẻ, dễ chịu lắm, nhưng chính xác là cái gì thì không biết được! Em chỉ nghĩ là nếu có người ở bên cạnh, thì em chẳng có được những thứ ấy, và chẳng cảm thấy gì ngoài nỗi bất hạnh của mình.

Lu-ke-ri-a thở dài một cách khó nhọc. Hơi thở của cô, cũng như chân tay cô, không còn theo ý cô nữa.

— Hết chương 1 —

Mục lục Xác sống

  1. 1Người nằm trong lều ong15 phút
  2. 2Những giấc mơ của Lu-ke-ri-aĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảIvan Turgenev (1818 – 1883)
Năm mất1883
Xuất bản lần đầu1874
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Живые мощи, 1874, trong tập Bút ký người đi săn; dịch qua bản tiếng Anh của Constance Garnett (mất 1946), Project Gutenberg
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →