Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Xác tàu

của Guy de Maupassant

⏱ 22 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 21.991 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Chuyện mới hôm qua, ngày ba mươi mốt tháng…
  2. 3:36Theo thư của chủ tàu, cơn bão đã quăng…
  3. 5:15Ông phá lên cười.
  4. 9:38Vâng, thưa ông.
  5. 12:42Ông người Anh định lao đi. Mình giữ ông…
  6. 14:46Mình tự hỏi tại sao lại có cái cảm…
  7. 17:18Cô gái người Anh run rẩy. Mình cảm thấy…
  8. 20:14Mình từ từ đứng dậy, và bỗng mình nhìn…

Chuyện mới hôm qua, ngày ba mươi mốt tháng Chạp.

Tôi vừa ăn trưa xong với người bạn già Gioóc-giơ Ga-ranh. Người hầu mang vào cho anh một bức thư dán đầy dấu niêm và tem nước ngoài.

Gioóc-giơ bảo tôi:

- Cậu cho phép nhé?

- Tất nhiên rồi.

Và anh bắt đầu đọc tám trang giấy viết nét chữ Anh to, viết cả ngang lẫn dọc chồng lên nhau. Anh đọc chậm rãi, chăm chú nghiêm trang, với cái quan tâm người ta vẫn dành cho những điều chạm đến trái tim.

Rồi anh đặt bức thư lên một góc lò sưởi, và nói:

- Này, đây là một câu chuyện lạ mà mình chưa bao giờ kể cho cậu nghe, một chuyện tình cảm hẳn hoi, và đã xảy ra với chính mình! Ôi, cái ngày đầu năm năm ấy mới kỳ lạ làm sao. Cách đây đã hai mươi năm rồi, vì hồi ấy mình ba mươi tuổi, mà bây giờ mình năm mươi rồi!

Hồi ấy mình làm thanh tra cho Công ty bảo hiểm hàng hải mà bây giờ mình làm giám đốc. Mình đang định đón ngày mồng một tháng Giêng ở Pa-ri, vì người ta đã quy ước biến ngày ấy thành ngày hội, thì nhận được thư của ông giám đốc ra lệnh phải đi ngay ra đảo Rê, nơi một chiếc tàu ba cột buồm của cảng Xanh Na-de, do công ty mình bảo hiểm, vừa mắc cạn. Lúc ấy là tám giờ sáng. Mười giờ mình đến công ty nhận chỉ thị, và ngay tối hôm đó mình đáp chuyến tàu tốc hành, sáng hôm sau, ngày ba mươi mốt tháng Chạp, thì tới La Rô-sen.

Mình có hai tiếng trước khi xuống chiếc tàu ra đảo, chiếc Giăng Ghi-tông. Mình đi dạo một vòng trong thành phố. La Rô-sen quả là một thành phố kỳ lạ và đầy cá tính. Phố xá rối như mê cung, vỉa hè chạy dưới những dãy hành lang dài bất tận, những hành lang có vòm cuốn như ở phố Ri-vô-li, nhưng thấp hơn. Những hành lang và vòm cuốn ấy thấp lè tè, bí ẩn, như được xây lên và còn giữ nguyên làm cảnh cho những kẻ mưu phản, cái cảnh cổ kính và ấn tượng của những cuộc chiến tranh xưa, những cuộc chiến tranh tôn giáo anh hùng và man rợ. Đúng là cái thành cổ của người Tin Lành, nghiêm trang, kín đáo, không có kiến trúc lộng lẫy, không có một công trình tuyệt mỹ nào như những công trình làm nên vẻ huy hoàng của Ru-ăng, nhưng nổi bật nhờ toàn bộ dáng vẻ khắc khổ, lại có phần ngấm ngầm, một thành phố của những kẻ chiến đấu ngoan cố, nơi mà lòng cuồng tín hẳn phải nảy nở.

Sau khi lang thang một lúc qua những phố xá kỳ lạ ấy, mình xuống một chiếc tàu hơi nước nhỏ, đen và bụng phệ, để ra đảo Rê. Nó phì phò khởi hành với vẻ giận dữ, đi qua giữa hai ngọn tháp cổ canh giữ bến cảng, băng qua vũng tàu, ra khỏi con đê do Ri-sơ-li-ơ xây, mà người ta còn thấy những tảng đá khổng lồ nhô lên sát mặt nước, quây lấy thành phố như một chuỗi vòng cổ mênh mông. Rồi nó rẽ sang bên phải.

Đó là một trong những ngày buồn bã đè nặng, bóp nghẹt ý nghĩ, thắt chặt trái tim, dập tắt trong ta mọi sức lực. Một ngày xám xịt, giá buốt, nhơ nhớp vì một màn sương nặng nề, ướt như mưa, lạnh như sương giá, hít vào thì hôi như hơi bốc lên từ cống rãnh.

Dưới cái trần sương mù thấp và u ám ấy, mặt biển vàng, mặt biển nông và đầy cát của những bãi biển vô tận ở vùng này, nằm im không một gợn sóng, không một chuyển động, không sự sống. Một biển nước đục, nước nhờn, nước tù đọng. Chiếc Giăng Ghi-tông lướt qua, hơi lắc lư theo thói quen, xẻ đôi cái tấm nước đục và phẳng lì ấy, rồi để lại sau lưng mấy con sóng, mấy tiếng óc ách, mấy gợn nước rồi chúng cũng lặng ngay.

Mình bắt chuyện với ông thuyền trưởng, một người nhỏ thó gần như chẳng có chân, tròn trịa như con tàu của ông và cũng lắc lư như nó. Mình muốn biết thêm vài chi tiết về vụ tai nạn sắp phải đến khám. Một chiếc tàu ba cột buồm vuông lớn của Xanh Na-de, chiếc Ma-ri Giô-dép, đã mắc cạn trên những bãi cát của đảo Rê trong một đêm bão.

Theo thư của chủ tàu, cơn bão đã quăng con tàu vào sâu đến nỗi không thể nào kéo nó ra được nữa, và người ta đã phải nhanh chóng dỡ đi mọi thứ tháo ra được. Vậy là mình phải xem xét tình trạng của xác tàu, đánh giá xem trước khi đắm nó ra sao, xét xem người ta đã dốc hết sức để cho nó nổi lại chưa. Mình đến với tư cách người của công ty, để sau này làm chứng đối chất, nếu cần, trong vụ kiện.

Nhận được báo cáo của mình, ông giám đốc sẽ có những biện pháp ông thấy cần thiết để bảo vệ quyền lợi của công ty.

Ông thuyền trưởng chiếc Giăng Ghi-tông biết rất rõ vụ này, vì ông đã được gọi tới cùng con tàu của mình để góp sức vào những lần thử cứu hộ.

Ông kể lại vụ tai nạn, mà thật ra cũng đơn giản thôi. Chiếc Ma-ri Giô-dép, bị một cơn gió dữ đẩy đi, lạc trong đêm, trôi hú hoạ trên một mặt biển sủi bọt, "một biển cháo sữa", ông thuyền trưởng bảo thế, đã mắc cạn trên những bãi cát mênh mông, những bãi cát biến bờ biển vùng này thành những sa mạc Xa-ha-ra vô tận vào lúc triều xuống.

Vừa nói chuyện, mình vừa nhìn quanh và nhìn ra phía trước. Giữa đại dương và bầu trời nặng nề còn một khoảng trống, nơi mắt có thể nhìn xa. Chúng tôi đang đi men theo một dải đất. Mình hỏi:

- Đảo Rê đấy à?

- Vâng, thưa ông.

Bỗng ông thuyền trưởng giơ thẳng tay ra phía trước, chỉ cho mình thấy ngoài khơi một vật gần như không nhìn thấy được, và bảo:

- Kia, tàu của ông đấy!

- Chiếc Ma-ri Giô-dép à?

- Chứ còn gì nữa.

Mình sững sờ. Cái chấm đen gần như vô hình ấy, mà mình cứ tưởng là một mỏm đá ngầm, có vẻ nằm cách bờ ít nhất cũng ba cây số.

Mình hỏi lại:

- Nhưng thưa thuyền trưởng, chỗ ông chỉ hẳn phải sâu đến cả trăm sải nước chứ?

Ông phá lên cười.

- Trăm sải à, ông bạn! Chưa tới hai sải đâu, tôi bảo ông!

Ông là người Boóc-đô. Ông nói tiếp:

- Bây giờ đang triều cường, chín giờ bốn mươi phút. Ông cứ ăn trưa ở khách sạn Cá Heo xong, đút tay vào túi mà đi bộ theo bãi biển, tôi hứa với ông là đến hai giờ năm mươi hay chậm nhất ba giờ ông sẽ sờ được vào xác tàu, chân ráo hoảnh, ông bạn ạ. Và ông sẽ có một tiếng bốn lăm phút đến hai tiếng để ở trên đó, không hơn đâu nhé, kẻo bị nước vây. Biển rút càng xa thì quay về càng nhanh. Cái bờ biển này nó phẳng như con rệp! Bốn giờ năm mươi thì ông lên đường về, tin tôi đi. Bảy rưỡi ông lên lại chiếc Giăng Ghi-tông, nó sẽ đưa ông về bến La Rô-sen ngay tối nay.

Mình cảm ơn ông thuyền trưởng rồi ra ngồi ở mũi tàu để ngắm thị trấn nhỏ Xanh Mác-tanh, nơi chúng tôi đang tiến đến rất nhanh.

Nó giống mọi bến cảng tí hon làm thủ phủ cho những hòn đảo cằn cỗi rải rác dọc các lục địa. Đó là một làng chài lớn, một chân dưới nước, một chân trên bờ, sống nhờ cá và gà vịt, rau và sò ốc, củ cải và vẹm. Hòn đảo rất thấp, ít đất trồng trọt, vậy mà có vẻ rất đông dân. Nhưng mình không vào sâu trong đảo.

Ăn trưa xong, mình băng qua một mỏm đất nhỏ. Rồi, vì nước đang rút nhanh, mình đi băng qua bãi cát về phía một thứ như tảng đá đen mà mình trông thấy nhô lên khỏi mặt nước, ở tít đằng kia.

Mình đi nhanh trên cái đồng bằng màu vàng ấy, nó đàn hồi như da thịt và như đang rịn mồ hôi dưới chân mình. Lúc nãy biển còn ở đây, vậy mà giờ mình chỉ thấy nó ở xa xa, đang chạy trốn đến mút tầm mắt, và mình không còn phân biệt nổi cái đường ranh giới giữa cát và đại dương nữa. Mình tưởng như đang dự một cảnh thần tiên khổng lồ và siêu nhiên. Đại Tây Dương vừa mới ở trước mặt mình, rồi nó biến mất vào bãi cát, như cảnh trí sân khấu biến mất qua cửa sập, và giờ mình đang đi giữa sa mạc. Chỉ có cái cảm giác, cái hơi thở của nước mặn là còn ở lại trong mình. Mình ngửi thấy mùi rong biển, mùi sóng, cái mùi nồng và dễ chịu của bờ biển. Mình đi nhanh, không còn thấy lạnh nữa. Mình nhìn cái xác tàu mắc cạn cứ lớn dần lên theo mỗi bước mình tiến tới, giờ trông như một con cá voi khổng lồ bị đắm.

Nó như trồi lên từ mặt đất, và trên cái dải phẳng lì mênh mông màu vàng ấy, nó mang một kích thước đáng kinh ngạc. Đi bộ một tiếng thì mình tới nơi. Nó nằm nghiêng, thủng toác, gãy nát, phơi ra, như xương sườn một con vật, những cái xương gãy của nó, những cái xương bằng gỗ quét hắc ín, đóng những cái đinh khổng lồ. Cát đã tràn vào, len qua mọi khe nứt, và cát giữ lấy nó, chiếm lấy nó, sẽ không bao giờ buông ra nữa. Nó như đã bén rễ vào cát. Mũi tàu cắm sâu vào cái bãi biển mềm mại và xảo trá ấy, còn đuôi tàu thì vểnh lên, như đang ném lên trời, như một tiếng kêu cứu tuyệt vọng, hai chữ trắng trên mạn tàu đen: Ma-ri Giô-dép.

Mình trèo lên cái xác tàu ấy từ phía thấp nhất. Rồi lên tới boong, mình đi vào bên trong. Ánh sáng lọt qua những cửa sập bị phá toang và những khe nứt trên mạn tàu, rọi buồn bã vào những thứ như hầm dài và tối, đầy gỗ gãy vụn. Trong ấy chẳng còn gì ngoài cát làm nền cho cái hầm ván ấy.

Mình bắt đầu ghi chép về tình trạng con tàu. Mình ngồi trên một cái thùng rỗng đã vỡ và viết nhờ ánh sáng của một khe nứt rộng, qua đó mình có thể nhìn thấy bãi cát mênh mông vô tận. Thỉnh thoảng một cơn rùng mình lạ lùng vì lạnh và vì cô quạnh lại chạy dọc da thịt mình. Đôi lúc mình ngừng viết để nghe cái tiếng động mơ hồ và bí ẩn của xác tàu: tiếng những con cua cào mạn tàu bằng những cái càng quặp, tiếng của hàng nghìn sinh vật biển bé tí đã đến định cư trên cái xác chết này, và cả tiếng êm đều của con hà đục gỗ, nó cứ gặm không ngừng, với tiếng ken két như mũi khoan, mọi khung gỗ cũ mà nó khoét rỗng và ăn dần.

Thế rồi bỗng nhiên mình nghe thấy tiếng người ngay sát bên. Mình giật nảy người như đứng trước một bóng ma. Trong một giây, mình thật sự tưởng sắp thấy hai người chết đuối đứng dậy từ đáy khoang tàu u ám để kể cho mình nghe họ đã chết ra sao. Hẳn nhiên là mình chẳng mất mấy thời gian để đu tay leo lên boong. Và mình thấy đứng ở mũi tàu một ông cao lớn với ba cô gái trẻ, hay nói đúng hơn, một ông người Anh cao lớn với ba cô tiểu thư người Anh. Chắc chắn là họ còn sợ hơn mình khi thấy một sinh vật nhanh nhẹn bỗng hiện ra trên con tàu bỏ hoang. Cô bé nhất bỏ chạy. Hai cô kia ôm chầm lấy bố. Còn ông thì há hốc miệng ra. Đó là dấu hiệu duy nhất cho thấy ông xúc động.

Rồi vài giây sau ông lên tiếng:

- Ô, thưa ông, ông là cái chủ của cái tàu này hả?

- Vâng, thưa ông.

- Tôi có được thăm nó không?

- Được, thưa ông.

Thế là ông nói một câu tiếng Anh thật dài, trong đó mình chỉ nhận ra mỗi một chữ "gracious", lặp đi lặp lại mấy lần.

Thấy ông đang tìm chỗ để trèo lên, mình chỉ cho ông chỗ dễ nhất và đưa tay kéo ông. Ông leo lên. Rồi chúng tôi giúp ba cô gái, giờ đã yên tâm. Các cô thật xinh, nhất là cô chị cả, một cô tóc vàng mười tám tuổi, tươi như hoa, và thanh mảnh, dễ thương làm sao! Quả thật những cô gái Anh xinh đẹp trông như những trái cây non mềm của biển. Có thể nói cô ấy vừa từ trong cát bước ra, và tóc cô còn giữ màu của cát. Với vẻ tươi mát tuyệt vời, các cô làm người ta nghĩ đến những màu sắc mỏng manh của vỏ sò hồng và những hạt ngọc trai óng ánh, quý hiếm, bí ẩn, sinh ra dưới đáy sâu không ai biết của đại dương.

Cô nói tiếng Pháp khá hơn bố một chút, nên cô làm phiên dịch cho chúng tôi. Mình phải kể lại vụ đắm tàu đến từng chi tiết nhỏ nhất, mà mình bịa ra, như thể mình đã có mặt lúc tai nạn xảy ra. Rồi cả gia đình xuống bên trong xác tàu. Vừa bước vào cái hành lang tối om lờ mờ ánh sáng ấy, họ đã kêu lên những tiếng ngạc nhiên và thán phục. Rồi bỗng dưng ông bố và ba cô con gái đã cầm trong tay mấy cuốn sổ vẽ, chắc là giấu trong những chiếc áo không thấm nước rộng thùng thình, và cả bốn người cùng một lúc bắt đầu vẽ phác bằng bút chì cái nơi buồn bã và kỳ lạ ấy.

Họ ngồi cạnh nhau trên một thanh dầm nhô ra, và bốn cuốn sổ, trên tám cái đầu gối, phủ dần những nét đen nhỏ hẳn là để vẽ cái bụng toác của chiếc Ma-ri Giô-dép.

Vừa vẽ, cô chị cả vừa trò chuyện với mình, trong khi mình vẫn tiếp tục xem xét bộ khung con tàu.

Mình được biết họ qua mùa đông ở Bi-a-rít và đã cất công tới đảo Rê chỉ để ngắm chiếc tàu ba cột buồm sa lầy này. Những người ấy chẳng có chút gì cái vẻ kiêu kỳ của người Anh. Họ chỉ là những người gàn dở giản dị và tử tế, thuộc giống người lang thang muôn đời mà nước Anh rải khắp thế giới. Ông bố cao, khô đét, khuôn mặt đỏ au viền hai dải râu má bạc trắng, đúng là một cái bánh kẹp sống, một lát thịt dăm bông cắt thành hình đầu người kẹp giữa hai cái gối lông. Mấy cô con gái thì chân dài, như những con cò con đang lớn, cũng khô đét, trừ cô chị cả, cả ba đều dễ thương, nhưng nhất là cô lớn.

Cô có một cách nói, cách kể, cách cười, cách hiểu và cách không hiểu, cách ngước mắt lên hỏi mình, đôi mắt xanh như nước sâu, cách ngừng vẽ để đoán, rồi lại vẽ tiếp và nói "yes" hay "no", ngộ nghĩnh đến nỗi mình có thể đứng nghe và ngắm cô mãi không biết chán.

Bỗng cô khẽ nói:

- Tôi nghe một cái động đậy nhỏ trên cái tàu này.

Mình lắng tai, và lập tức nhận ra một tiếng động nhẹ, lạ lùng, liên tục. Cái gì thế nhỉ? Mình đứng dậy, ra nhìn qua khe nứt, và thét lên một tiếng kinh hoàng. Biển đã đuổi kịp chúng tôi, nó sắp vây kín chúng tôi rồi!

Chúng tôi lập tức lên boong. Đã quá muộn. Nước đã vây quanh chúng tôi, và nó chạy vào bờ với tốc độ kinh người. Không, nó không chạy, nó trượt, nó bò, nó loang ra như một vết loang khổng lồ. Chỉ vài phân nước phủ trên cát, nhưng người ta đã không còn nhìn thấy cái đường ranh đang chạy của làn nước gần như vô hình ấy.

Ông người Anh định lao đi. Mình giữ ông lại. Không thể chạy thoát được, vì những vũng nước sâu mà lúc đến chúng tôi đã phải đi vòng, giờ về chúng tôi sẽ sa xuống đó.

Đó là một phút lo sợ khủng khiếp trong lòng mỗi người. Rồi cô gái người Anh nhỏ nhắn bắt đầu mỉm cười và thì thầm:

- Chúng ta là những người bị đắm tàu rồi!

Mình muốn cười, nhưng nỗi sợ đang siết chặt lấy mình, một nỗi sợ hèn nhát, ghê tởm, thấp hèn và lén lút như con nước kia. Mọi hiểm nguy chúng tôi đang gặp phải cùng một lúc hiện ra trước mắt mình. Mình muốn hét lên: "Cứu với!" Nhưng gọi ai?

Hai cô bé người Anh đã nép sát vào bố, ông đang nhìn bằng con mắt bàng hoàng mặt biển mênh mông bao quanh chúng tôi.

Và đêm xuống, nhanh như đại dương đang dâng lên, một đêm nặng nề, ẩm ướt, giá buốt.

Mình nói:

- Chẳng còn cách nào khác ngoài việc ở lại trên con tàu này.

Ông người Anh đáp:

- Ô, yes!

Và chúng tôi ở đó mười lăm phút, nửa tiếng, thật tình mình không biết bao lâu, nhìn quanh mình làn nước vàng cứ dày lên, xoáy tròn, như đang sôi, như đang đùa giỡn trên bãi cát mênh mông vừa chiếm lại được.

Một cô bé thấy lạnh, và chúng tôi nảy ra ý xuống lại bên dưới để tránh làn gió nhẹ mà buốt giá đang lướt qua, châm chích da thịt chúng tôi.

Mình cúi xuống nhìn cửa sập. Con tàu đã đầy nước. Thế là chúng tôi phải ngồi nép vào thành đuôi tàu, nó che chắn cho chúng tôi được một chút.

Giờ thì bóng tối đã bao trùm lấy chúng tôi. Chúng tôi ngồi ép sát vào nhau, bốn bề là bóng đêm và nước. Mình cảm thấy bờ vai của cô gái người Anh run lên áp vào vai mình, răng cô thỉnh thoảng lại đánh lập cập. Nhưng mình cũng cảm thấy hơi ấm dịu dàng của thân thể cô qua lớp vải, và hơi ấm ấy ngọt ngào với mình như một nụ hôn. Chúng tôi không nói gì nữa. Chúng tôi ngồi im, câm lặng, thu mình như những con vật nấp dưới hào trong giờ bão tố. Vậy mà, bất chấp tất cả, bất chấp đêm tối, bất chấp hiểm nguy khủng khiếp mỗi lúc một lớn, mình bắt đầu thấy sung sướng vì được ở đó, sung sướng vì cái lạnh và hiểm nguy, sung sướng vì những giờ dài tối tăm và lo âu phải trải qua trên tấm ván này, gần cô gái xinh xắn dễ thương này đến thế.

Mình tự hỏi tại sao lại có cái cảm giác dễ chịu và vui sướng lạ lùng đang thấm vào mình như thế.

Tại sao ư? Ai mà biết được? Vì cô ấy đang ở đó chăng? Mà cô ấy là ai? Một cô gái người Anh nhỏ nhắn xa lạ. Mình không yêu cô, mình chẳng quen biết gì cô, vậy mà mình thấy lòng mềm lại, bị chinh phục hoàn toàn! Mình muốn cứu cô, muốn hy sinh vì cô, muốn làm cả nghìn điều điên rồ. Lạ thật! Làm sao mà chỉ sự có mặt của một người đàn bà lại làm ta xao động đến vậy? Phải chăng đó là sức mạnh của vẻ duyên dáng bao phủ lấy ta? Là sự quyến rũ của nhan sắc và tuổi trẻ làm ta say như rượu?

Hay đúng hơn đó là một cái chạm của tình yêu, của thứ tình yêu bí ẩn luôn tìm cách gắn kết mọi sinh vật, thứ tình yêu thử sức mạnh của mình ngay khi vừa đặt người đàn ông và người đàn bà đối diện nhau, và thấm vào họ một nỗi xúc động, một xúc động mơ hồ, thầm kín, sâu xa, như người ta tưới đất để hoa mọc lên!

Nhưng sự im lặng của bóng tối đã trở nên đáng sợ, sự im lặng của bầu trời. Vì quanh chúng tôi, chúng tôi nghe mơ hồ một tiếng xào xạc nhẹ, bất tận, tiếng rì rầm của biển cả đang âm thầm dâng lên, và tiếng óc ách đơn điệu của dòng nước vỗ vào thân tàu.

Bỗng mình nghe thấy tiếng nức nở. Cô bé nhất đang khóc. Thế là ông bố dỗ dành cô, và họ nói với nhau bằng thứ tiếng của họ mà mình không hiểu. Mình đoán là ông đang trấn an cô, còn cô thì vẫn sợ.

Mình hỏi cô gái ngồi cạnh:

- Cô có lạnh lắm không, cô tiểu thư?

- Ô, có. Tôi lạnh nhiều lắm.

Mình muốn đưa áo khoác cho cô, cô từ chối. Nhưng mình đã cởi nó ra rồi, mình cứ thế khoác lên người cô dù cô không chịu. Trong lúc giằng co ngắn ngủi ấy, mình chạm phải bàn tay cô, và nó làm một cơn rùng mình êm ái chạy khắp người mình.

Từ mấy phút nay, không khí đã trở nên gắt hơn, tiếng nước vỗ vào mạn tàu mạnh hơn. Mình đứng thẳng dậy. Một luồng hơi lớn phả qua mặt mình. Gió đang nổi lên!

Ông người Anh nhận ra cùng lúc với mình, và ông chỉ nói giản dị:

- Cái này xấu cho chúng ta đấy.

Hẳn là xấu rồi, đó là cái chết chắc chắn nếu những con sóng, dù chỉ là những con sóng yếu, kéo đến tấn công và lay chuyển cái xác tàu đã vỡ nát rời rạc đến mức con sóng mạnh đầu tiên cũng đủ cuốn nó đi thành bã.

Thế là nỗi lo của chúng tôi tăng lên từng giây theo những cơn gió giật mỗi lúc một mạnh. Giờ thì biển đã bắt đầu vỡ sóng, và mình thấy trong bóng tối những đường trắng hiện ra rồi biến mất, những đường bọt nước, trong khi mỗi con sóng lại xô vào thân xác chiếc Ma-ri Giô-dép, làm nó rùng lên một cái ngắn ngủi mà như dội lên tận tim chúng tôi.

Cô gái người Anh run rẩy. Mình cảm thấy cô run lên áp vào mình, và mình thèm điên cuồng được ôm cô vào lòng.

Đằng kia, trước mặt chúng tôi, bên trái, bên phải, sau lưng chúng tôi, những ngọn hải đăng sáng lên dọc bờ biển, những ngọn đèn trắng, vàng, đỏ, quay tròn, như những con mắt khổng lồ, những con mắt khổng lồ đang nhìn chúng tôi, rình chúng tôi, thèm thuồng chờ chúng tôi biến mất. Có một ngọn làm mình đặc biệt bực bội. Cứ ba mươi giây nó lại tắt đi rồi bật sáng lại ngay. Đúng là một con mắt, cái ngọn đèn ấy, với cái mi mắt cứ cụp xuống mãi trên cái nhìn rực lửa của nó.

Thỉnh thoảng ông người Anh lại quẹt một que diêm để xem giờ, rồi cất đồng hồ vào túi. Bỗng ông nói với mình, qua đầu mấy cô con gái, với một vẻ trang nghiêm tuyệt đối:

- Thưa ông, tôi xin chúc ông năm mới tốt lành.

Đã nửa đêm. Mình chìa tay ra, ông bắt lấy. Rồi ông nói một câu tiếng Anh, và bỗng nhiên ông cùng các con gái cất tiếng hát bài quốc ca Anh, bài Chúa phù hộ Nữ hoàng. Tiếng hát bay lên trong không khí đen kịt, trong không khí câm lặng, rồi tan biến vào khoảng không.

Thoạt đầu mình muốn cười. Rồi mình bị cuốn đi bởi một nỗi xúc động mãnh liệt và kỳ lạ.

Đó là một cái gì vừa thê lương vừa hùng tráng, cái bài hát của những người đắm tàu, những người bị kết án ấy. Một cái gì như lời cầu nguyện, và còn một cái gì lớn lao hơn, có thể sánh với lời chào cổ xưa và cao cả của những đấu sĩ La Mã: Kính chào Hoàng đế, những kẻ sắp chết xin chào ngài.

Khi họ hát xong, mình xin cô gái ngồi bên hát một mình một bài ca, một khúc truyền thuyết, bài gì tuỳ cô, để chúng tôi quên đi nỗi lo âu. Cô bằng lòng, và lập tức giọng hát trong trẻo và trẻ trung của cô bay lên trong đêm. Hẳn cô đang hát một bài buồn, vì các nốt nhạc ngân dài, thong thả thoát ra khỏi miệng cô, rồi chập chờn như những con chim bị thương trên mặt sóng.

Biển mỗi lúc một dữ, giờ đã đập vào xác tàu của chúng tôi. Còn mình, mình chỉ còn nghĩ đến giọng hát ấy. Và mình cũng nghĩ đến những nàng tiên cá. Nếu có một con thuyền đi ngang qua gần chúng tôi, các thuỷ thủ sẽ nói gì nhỉ? Đầu óc bị giày vò của mình lạc vào mộng mị! Một nàng tiên cá! Thật vậy, phải chăng cô con gái của biển cả ấy chính là một nàng tiên cá, người đã giữ mình lại trên con tàu mục nát này, và lát nữa sẽ cùng mình chìm xuống sóng nước?

Nhưng bất thình lình cả năm chúng tôi lăn lông lốc trên boong, vì chiếc Ma-ri Giô-dép vừa sụp xuống về phía mạn phải. Cô gái người Anh ngã đè lên mình, mình ôm chặt lấy cô, và như điên dại, chẳng biết gì, chẳng hiểu gì, tưởng giây phút cuối cùng của mình đã đến, mình hôn ngấu nghiến lên má cô, lên thái dương và lên tóc cô. Con tàu không động đậy nữa. Chúng tôi cũng không nhúc nhích.

Ông bố gọi: "Kây-tơ!" Cô gái mình đang ôm đáp "yes", và cựa mình để gỡ ra. Hẳn nhiên là vào lúc ấy, mình chỉ muốn con tàu vỡ làm đôi để cùng cô rơi xuống nước.

Ông người Anh nói tiếp:

- Một cái lật nhỏ, không là gì cả. Tôi còn giữ được đủ ba đứa con gái.

Không thấy cô chị cả đâu, lúc đầu ông đã tưởng cô mất rồi!

Mình từ từ đứng dậy, và bỗng mình nhìn thấy một ánh đèn trên mặt biển, rất gần chúng tôi. Mình hét lên. Có tiếng đáp lại. Đó là một chiếc thuyền đang đi tìm chúng tôi, vì ông chủ khách sạn đã đoán trước sự liều lĩnh của chúng tôi.

Chúng tôi được cứu. Mình lại thấy buồn ghê gớm! Người ta đón chúng tôi khỏi cái bè của mình và đưa về Xanh Mác-tanh.

Giờ thì ông người Anh xoa xoa hai tay và lẩm bẩm:

- Bữa tối ngon! Bữa tối ngon!

Quả thật là có ăn tối. Mình chẳng vui vẻ gì, mình tiếc chiếc Ma-ri Giô-dép.

Hôm sau thì phải chia tay, sau bao nhiêu cái ôm siết và hứa hẹn sẽ viết thư cho nhau. Họ đi về Bi-a-rít. Suýt nữa thì mình đi theo họ.

Mình mất trí rồi. Mình suýt nữa thì cầu hôn cô gái. Chắc chắn là nếu chúng tôi ở cạnh nhau tám ngày, mình đã cưới cô! Con người đôi khi yếu đuối và khó hiểu biết bao!

Hai năm trôi qua mà mình không nghe tin gì về họ. Rồi mình nhận được một bức thư từ Niu Oóc. Cô đã lấy chồng, và cô báo cho mình biết. Và từ đó, năm nào chúng tôi cũng viết thư cho nhau, vào ngày mồng một tháng Giêng. Cô kể cho mình nghe về cuộc sống của cô, về các con, về các em gái, nhưng không bao giờ nói về chồng! Tại sao? Ôi, tại sao chứ? Còn mình, mình chỉ nói với cô về chiếc Ma-ri Giô-dép. Có lẽ đó là người đàn bà duy nhất mình đã yêu. Không, người đàn bà duy nhất mình lẽ ra đã yêu. Ôi, thì đấy, ai mà biết được? Những biến cố cuốn ta đi. Rồi thì, rồi thì mọi thứ đều qua. Giờ hẳn cô đã già rồi, mình sẽ không nhận ra cô nữa. Ôi, cô gái ngày xưa, cô gái của xác tàu, một sinh vật thần tiên làm sao! Cô viết cho mình rằng tóc cô đã bạc trắng cả. Trời ơi, chuyện đó làm mình đau đớn khủng khiếp. Ôi, mái tóc vàng của cô! Không, cô gái của mình không còn nữa. Buồn thay, tất cả những điều ấy!

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGuy de Maupassant (1850 – 1893)
Năm mất1893
Xuất bản lần đầu1886
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: L'Épave, in trên báo Le Gaulois ngày 1 tháng 1 năm 1886, tập La Petite Roque, theo bản Conard 1910
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →