Chương 1: Khúc một: Đêm Giáng sinh trong phòng giấy
Trước hết, phải nói ngay: Mác-lây đã chết. Chuyện ấy chẳng có gì phải nghi ngờ cả. Sổ ghi chôn cất của ông đã có chữ ký của ông mục sư, ông thư ký nhà thờ, ông chủ hiệu đám ma và người chủ tang. Cờ-rút đã ký vào đó. Mà tên Cờ-rút ký vào bất cứ giấy tờ gì ở Sở Giao dịch cũng đều có giá. Lão Mác-lây già đã chết, chết cứng như cái đinh cửa.
Xin lưu ý! Tôi không có ý nói rằng chính tôi biết cái đinh cửa có gì đặc biệt chết chóc. Riêng tôi thì có lẽ tôi đã thiên về coi cái đinh đóng quan tài là món đồ sắt chết nhất trong nghề. Nhưng trí khôn của tổ tiên nằm trong câu ví ấy, và đôi tay phàm tục của tôi chẳng dám động vào nó, kẻo đất nước tiêu tan mất. Vì thế xin các bạn cho phép tôi nhấn mạnh nhắc lại rằng Mác-lây đã chết cứng như cái đinh cửa.
Cờ-rút có biết lão ấy đã chết không? Dĩ nhiên là biết. Làm sao khác được? Cờ-rút và lão ấy đã là bạn làm ăn với nhau không biết bao nhiêu năm trời. Cờ-rút là người thi hành di chúc duy nhất của lão, người quản lý tài sản duy nhất, người được uỷ quyền duy nhất, người thừa kế duy nhất, người bạn duy nhất và người đưa tang duy nhất của lão. Mà ngay cả Cờ-rút cũng chẳng đau đớn ghê gớm gì vì sự kiện đáng buồn ấy, đến mức ngay hôm đám ma, lão vẫn là một nhà buôn tuyệt vời, và đánh dấu ngày ấy bằng một vụ làm ăn hời không thể chối cãi.
Nhắc tới đám ma của Mác-lây lại đưa tôi về chỗ tôi bắt đầu. Không có gì phải nghi ngờ rằng Mác-lây đã chết. Phải hiểu thật rõ điều ấy, nếu không thì câu chuyện tôi sắp kể chẳng có gì kỳ diệu cả. Nếu chúng ta không hoàn toàn tin chắc rằng cha của chàng Hăm-lét đã chết trước khi vở kịch bắt đầu, thì việc ông ta đi dạo đêm trong gió đông trên mặt thành của chính mình cũng chẳng có gì đáng chú ý hơn việc bất cứ một quý ông trung niên nào khác liều lĩnh ra ngoài sau khi trời tối ở một chỗ lộng gió, chẳng hạn như sân nhà thờ Thánh Pôn, chỉ để làm cho thằng con trai yếu bóng vía của mình sửng sốt.
Cờ-rút chẳng bao giờ xoá tên lão Mác-lây già đi. Nó vẫn ở đó, nhiều năm sau, phía trên cửa nhà kho: Cờ-rút và Mác-lây. Hãng buôn vẫn mang tên Cờ-rút và Mác-lây. Đôi khi những người mới vào nghề gọi Cờ-rút là Cờ-rút, đôi khi gọi là Mác-lây, nhưng lão trả lời cả hai tên. Đối với lão cũng thế cả.
Ôi! Nhưng lão là một kẻ bóc lột không biết tiếc tay, cái lão Cờ-rút ấy! Một lão già tội lỗi chuyên bóp nặn, vắt kiệt, vơ vét, cạo cóp, bám chặt, tham lam! Cứng và sắc như đá lửa, thứ đá mà chưa một miếng thép nào đánh ra được ngọn lửa rộng lượng. Kín đáo, khép kín và đơn độc như một con hàu. Cái lạnh bên trong làm đông cứng những nét mặt già nua của lão, làm buốt cái mũi nhọn của lão, làm teo đôi má lão, làm cứng dáng đi của lão. Nó làm mắt lão đỏ ngầu, đôi môi mỏng của lão tím tái, và lộ ra sắc sảo trong cái giọng rít rít của lão. Một lớp sương giá phủ trên đầu lão, trên lông mày và trên cái cằm lởm chởm của lão. Lão mang cái nhiệt độ thấp của riêng mình đi theo khắp nơi. Lão làm phòng giấy của mình lạnh như băng vào những ngày nóng nhất mùa hè, và chẳng để nó ấm lên lấy một độ vào dịp Giáng sinh.
Nóng lạnh bên ngoài chẳng ảnh hưởng mấy tới Cờ-rút. Chẳng hơi ấm nào sưởi ấm được lão, chẳng tiết trời mùa đông nào làm lão lạnh thêm. Không cơn gió nào thổi cay nghiệt hơn lão, không trận tuyết rơi nào khăng khăng theo đuổi mục đích của mình hơn lão, không cơn mưa xối xả nào ít chịu nghe lời van xin hơn lão. Thời tiết xấu cũng chẳng biết đường nào mà lần với lão. Mưa to nhất, tuyết, mưa đá và mưa tuyết nặng hạt nhất chỉ có thể tự hào hơn lão ở một điểm duy nhất. Chúng thường trút xuống rất rộng rãi, còn Cờ-rút thì chẳng bao giờ rộng rãi.
Chẳng bao giờ có ai dừng lão lại ngoài phố để vui vẻ nói: “Ông Cờ-rút thân mến, ông có khoẻ không? Bao giờ ông đến chơi nhà tôi?” Chẳng kẻ ăn mày nào van xin lão bố thí một chút, chẳng đứa trẻ nào hỏi lão mấy giờ rồi, chẳng người đàn ông hay đàn bà nào, suốt cả đời lão, lấy một lần hỏi Cờ-rút đường tới chỗ này chỗ nọ. Ngay cả chó dẫn đường của người mù dường như cũng biết lão. Hễ thấy lão đi tới, chúng lại lôi chủ vào trong cổng hay vào trong ngõ, rồi vẫy đuôi như muốn nói: “Thà không có mắt còn hơn có con mắt độc ác, ông chủ mù ạ!”
Nhưng Cờ-rút cần gì! Đó lại chính là điều lão thích. Lách mình đi trên những con đường đông đúc của cuộc đời, cảnh cáo mọi sự cảm thông của con người phải giữ khoảng cách, đó là cái mà những người sành sỏi gọi là món khoái khẩu của Cờ-rút.
Ngày xửa ngày xưa, vào ngày đẹp nhất trong mọi ngày đẹp của năm, đêm Giáng sinh, lão Cờ-rút già đang ngồi làm việc trong phòng giấy của mình. Trời lạnh, ảm đạm, rét cắt da, lại thêm sương mù. Lão có thể nghe những người ngoài sân thở khò khè đi tới đi lui, đập tay vào ngực, giậm chân lên những phiến đá lát đường cho ấm. Đồng hồ thành phố vừa mới điểm ba giờ, nhưng trời đã tối hẳn. Suốt cả ngày trời chẳng hề sáng. Và những ngọn nến cháy bập bùng ở cửa sổ những phòng giấy bên cạnh, như những vệt đỏ quệt lên bầu không khí nâu đặc sệt như sờ được. Sương mù tràn vào qua mọi khe hở và lỗ khoá, và bên ngoài dày đặc đến nỗi, dù cái sân hẹp hết mức, những ngôi nhà đối diện chỉ còn là những bóng ma. Nhìn đám mây xám xịt ấy sà xuống, che khuất mọi thứ, người ta có thể tưởng như Mẹ Thiên Nhiên đang sống ngay gần đây và đang nấu rượu với quy mô lớn.
Cửa phòng giấy của Cờ-rút để mở để lão có thể để mắt tới người thư ký, đang chép thư trong một cái buồng nhỏ ảm đạm bên ngoài, một thứ bể chứa. Lò sưởi của Cờ-rút đã rất nhỏ, nhưng lò sưởi của người thư ký còn nhỏ hơn nhiều, trông như chỉ có một hòn than. Nhưng anh không thể cho thêm than, vì Cờ-rút giữ thùng than trong phòng mình. Và hễ người thư ký cầm xẻng bước vào, ông chủ lại dự báo rằng có lẽ đã tới lúc hai bên phải chia tay. Vì thế người thư ký quàng cái khăn quàng cổ trắng, và cố sưởi ấm mình bên ngọn nến. Mà vì không phải người giàu tưởng tượng, nên anh đã thất bại trong cố gắng ấy.
– Chúc cậu Giáng sinh vui vẻ! Cầu Chúa phù hộ cậu!
Một giọng vui vẻ reo lên. Đó là giọng của cháu trai Cờ-rút, anh đến nhanh đến nỗi đó là dấu hiệu đầu tiên cho Cờ-rút biết anh đã tới.
Cờ-rút nói:
– Xì! Vớ vẩn!
Anh cháu trai của Cờ-rút đi nhanh trong sương mù và giá rét đến nỗi người nóng bừng. Mặt anh hồng hào và đẹp trai, mắt anh lấp lánh, và hơi thở anh lại bốc khói.
Anh cháu trai của Cờ-rút nói:
– Giáng sinh là chuyện vớ vẩn sao, cậu? Cháu chắc cậu không có ý thế đâu nhỉ?
Cờ-rút nói:
– Có đấy. Giáng sinh vui vẻ! Mày có quyền gì mà vui vẻ? Mày có lý do gì mà vui vẻ? Mày nghèo đủ rồi còn gì.
Anh cháu vui vẻ đáp lại:
– Thế thì cậu có quyền gì mà ủ rũ? Cậu có lý do gì mà cau có? Cậu giàu đủ rồi còn gì.
Cờ-rút chẳng có câu trả lời nào hay hơn để đáp ngay, nên lại nói:
– Xì!
Rồi tiếp theo:
– Vớ vẩn.
Anh cháu nói:
– Cậu đừng cáu kỉnh thế!
Ông cậu phẫn nộ đáp:
– Thế tao còn biết làm gì khác, khi tao sống trong một thế giới toàn những thằng ngốc thế này? Giáng sinh vui vẻ! Dẹp cái Giáng sinh vui vẻ đi! Với mày, mùa Giáng sinh là gì, nếu không phải là lúc phải trả các hoá đơn mà không có tiền, là lúc thấy mình già thêm một tuổi mà chẳng giàu thêm được một giờ, là lúc kết toán sổ sách mà khoản nào trong suốt mười hai tháng tròn cũng chống lại mày? Nếu tao được làm theo ý tao, thì mọi thằng ngốc đi khắp nơi mồm cứ “Giáng sinh vui vẻ” đều phải bị luộc cùng với cái bánh pudding của nó, và chôn với một cọc cây ô rô đâm xuyên tim. Phải thế!
Anh cháu nài nỉ:
– Cậu ơi!
Ông cậu nghiêm khắc đáp:
– Cháu ơi! Mày cứ mừng Giáng sinh theo kiểu của mày, còn để tao mừng theo kiểu của tao.
Anh cháu nhắc lại:
– Mừng ư! Nhưng cậu có mừng đâu.
Cờ-rút nói:
– Thế thì để mặc tao với nó. Chúc cho nó đem lại nhiều điều tốt cho mày! Nó đã từng đem lại cho mày bao nhiêu điều tốt rồi đấy!
Anh cháu đáp:
– Cháu dám nói là có nhiều điều lẽ ra cháu đã có thể được lợi mà cháu chẳng được gì. Giáng sinh cũng là một trong số đó. Nhưng cháu chắc chắn rằng cháu vẫn luôn nghĩ về mùa Giáng sinh, mỗi khi nó trở về, ngoài lòng tôn kính dành cho cái tên và cội nguồn thiêng liêng của nó, nếu có điều gì thuộc về nó mà tách rời được khỏi điều ấy, cháu vẫn nghĩ đó là một khoảng thời gian tốt đẹp. Một khoảng thời gian tử tế, khoan dung, nhân ái, dễ chịu. Thời gian duy nhất mà cháu biết, trong cuốn lịch dài của năm, khi đàn ông và đàn bà dường như cùng đồng lòng mở rộng những trái tim đóng kín của mình, và nghĩ về những người dưới mình như thể họ thật sự là bạn đồng hành cùng đi tới nấm mồ, chứ không phải một giống sinh vật khác đang đi trên những hành trình khác. Vì thế, cậu ạ, dù nó chưa bao giờ bỏ vào túi cháu một mẩu vàng hay bạc nào, cháu tin rằng nó đã đem lại điều tốt cho cháu, và sẽ đem lại điều tốt cho cháu. Và cháu nói, cầu Chúa ban phước cho nó!
Người thư ký trong cái bể chứa bất giác vỗ tay. Lập tức nhận ra mình đã thất lễ, anh cời lửa, và dập tắt vĩnh viễn tia lửa mong manh cuối cùng.
Cờ-rút nói:
– Mày còn để tao nghe thêm một tiếng nữa thì mày sẽ mừng Giáng sinh bằng cách mất việc đấy!
Rồi lão quay sang anh cháu, nói thêm:
– Mày là một tay diễn thuyết đáng gờm đấy, quý ngài ạ. Tao lạ là sao mày không vào Nghị viện.
– Cậu đừng giận. Thôi mà! Mai cậu đến ăn tối với nhà cháu nhé.
Cờ-rút nói lão sẽ gặp anh, phải, lão nói thật. Lão nói trọn cả câu thành ngữ ấy, rằng lão sẽ gặp anh ở dưới địa ngục trước đã.
Anh cháu của Cờ-rút kêu lên:
– Nhưng tại sao? Tại sao?
Cờ-rút nói:
– Thế tại sao mày lại lấy vợ?
– Vì cháu đã yêu.
Cờ-rút gầm gừ, như thể đó là thứ duy nhất trên đời còn lố bịch hơn một cái Giáng sinh vui vẻ:
– Vì mày đã yêu! Chào buổi chiều!
– Không, cậu ơi, nhưng trước khi chuyện ấy xảy ra cậu cũng có bao giờ đến thăm cháu đâu. Sao lại lấy nó làm lý do để bây giờ không đến?
Cờ-rút nói:
– Chào buổi chiều.
– Cháu chẳng cần gì ở cậu. Cháu chẳng xin cậu gì. Sao chúng ta lại không thể là bạn?
Cờ-rút nói:
– Chào buổi chiều.
– Cháu thật lòng rất tiếc khi thấy cậu cương quyết như thế. Chúng ta chưa bao giờ cãi nhau, ít ra cháu chưa bao giờ cãi. Nhưng cháu đã thử để tỏ lòng tôn kính Giáng sinh, và cháu sẽ giữ tâm trạng Giáng sinh của mình đến cùng. Vậy chúc cậu Giáng sinh vui vẻ!
Cờ-rút nói:
– Chào buổi chiều!
– Và chúc cậu năm mới hạnh phúc!
Cờ-rút nói:
– Chào buổi chiều!
Dù vậy, anh cháu vẫn ra khỏi phòng mà không nói một lời giận dữ nào. Anh dừng lại ở cửa ngoài để chúc mừng mùa lễ người thư ký. Người thư ký, dù lạnh cóng, vẫn ấm áp hơn Cờ-rút, vì anh đáp lại lời chúc rất nồng hậu.
Cờ-rút nghe thấy, lẩm bẩm:
– Lại thêm một thằng nữa. Thằng thư ký của mình, mỗi tuần mười lăm si-linh, lại có vợ có con, mà cũng nói chuyện Giáng sinh vui vẻ. Mình phải vào nhà thương điên mất.
Gã điên ấy, khi tiễn anh cháu của Cờ-rút ra, lại để hai người khác vào. Đó là hai quý ông bệ vệ, trông dễ mến, giờ đang đứng bỏ mũ trong phòng giấy của Cờ-rút. Tay họ cầm sổ sách giấy tờ, và họ cúi chào lão.
Một trong hai quý ông vừa nói vừa xem danh sách của mình:
– Đây là hãng Cờ-rút và Mác-lây, phải không ạ? Tôi có hân hạnh được nói chuyện với ông Cờ-rút hay ông Mác-lây ạ?
Cờ-rút đáp:
– Ông Mác-lây chết đã bảy năm nay rồi. Ông ấy chết cách đây bảy năm, đúng đêm nay.
Quý ông đưa giấy uỷ nhiệm ra, nói:
– Chúng tôi không nghi ngờ gì rằng lòng hào phóng của ông ấy được người bạn làm ăn còn sống thể hiện đầy đủ.
Quả là đầy đủ thật, vì họ là hai tâm hồn đồng điệu. Nghe đến cái chữ “hào phóng” đầy điềm gở, Cờ-rút cau mày, lắc đầu, và đưa trả lại giấy uỷ nhiệm.
Quý ông cầm bút lên, nói:
– Vào mùa lễ hội này trong năm, thưa ông Cờ-rút, việc chúng ta góp chút ít giúp đỡ những người nghèo khổ, túng thiếu, những người đang chịu đựng rất nhiều vào lúc này, là điều đáng mong muốn hơn thường lệ. Hàng nghìn người đang thiếu những thứ cần dùng thông thường. Hàng trăm nghìn người đang thiếu những tiện nghi thông thường, thưa ông.
Cờ-rút hỏi:
– Không có nhà tù à?
Quý ông lại đặt bút xuống, nói:
– Nhà tù thì nhiều lắm.
Cờ-rút hỏi gặng:
– Thế còn các nhà tế bần của Liên đoàn? Chúng vẫn còn hoạt động chứ?
Quý ông đáp:
– Vẫn còn. Dù vậy, tôi ước gì mình có thể nói là chúng không còn nữa.
Cờ-rút nói:
– Thế thì cối xay đạp chân và Luật Người nghèo vẫn đang có hiệu lực mạnh mẽ chứ?
– Cả hai đều rất bận rộn, thưa ông.
Cờ-rút nói:
– Ồ! Nghe ông nói lúc đầu, tôi lại sợ có chuyện gì xảy ra làm chúng ngừng con đường hữu ích của chúng. Tôi rất mừng được nghe thế.
Quý ông đáp lại:
– Vì nghĩ rằng chúng khó mà đem lại niềm vui của người Ki-tô hữu cho tâm hồn hay thể xác của số đông, nên vài người chúng tôi đang cố gắng gây một quỹ để mua cho người nghèo chút thịt, chút đồ uống và chút gì để sưởi ấm. Chúng tôi chọn dịp này vì đây là dịp, hơn mọi dịp khác, khi sự thiếu thốn được cảm thấy gay gắt nhất, và sự sung túc thì hân hoan. Tôi ghi tên ông bao nhiêu ạ?
Cờ-rút đáp:
– Không gì cả!
– Ông muốn giấu tên ạ?
Cờ-rút nói:
– Tôi muốn được để yên. Vì các ông hỏi tôi muốn gì, thưa các ông, thì đó là câu trả lời của tôi. Bản thân tôi chẳng vui vẻ gì vào dịp Giáng sinh, và tôi không có tiền để làm cho những kẻ lười biếng vui vẻ. Tôi góp phần nuôi những cơ sở tôi vừa nói, chúng tốn đủ rồi. Kẻ nào túng quẫn thì phải vào đó.
– Nhiều người không thể vào đó. Và nhiều người thà chết còn hơn.
Cờ-rút nói:
– Nếu họ thà chết thì họ cứ chết đi cho xong, để giảm bớt số dân thừa. Vả lại, xin lỗi, tôi không biết chuyện ấy.
Quý ông nhận xét:
– Nhưng ông có thể biết.
Cờ-rút đáp:
– Đó không phải việc của tôi. Một người hiểu được việc của mình là đủ rồi, đừng xen vào việc của người khác. Việc của tôi đã chiếm hết thời gian của tôi. Chào buổi chiều, thưa các ông!
Thấy rõ có theo đuổi chuyện này nữa cũng vô ích, hai quý ông rút lui. Cờ-rút lại tiếp tục công việc, với một ý kiến về bản thân tốt hơn trước, và một tâm trạng vui đùa hơn thường lệ.
Trong khi ấy sương mù và bóng tối dày đặc đến nỗi người ta cầm những bó đuốc cháy bập bùng chạy khắp nơi, mời người đánh xe cho mình đi trước dẫn đường cho ngựa. Cái tháp cổ của một nhà thờ, mà cái chuông già khàn khàn lúc nào cũng lén nhìn xuống Cờ-rút qua một ô cửa sổ kiểu Gô-tích trên tường, giờ đã khuất hẳn, và điểm giờ, điểm khắc trong những đám mây, kèm theo những rung động run rẩy như thể răng nó đang va lập cập trong cái đầu đông cứng trên ấy. Cái lạnh trở nên dữ dội. Ở phố chính, góc sân, mấy người thợ đang sửa ống dẫn khí đốt, và đã đốt một đống lửa lớn trong một cái lò than, quanh đó một nhóm đàn ông và trẻ con rách rưới đang tụ tập, hơ tay và nheo mắt ngây ngất trước ngọn lửa. Cái vòi nước bị bỏ mặc một mình, nước tràn ra rầu rĩ đông lại, biến thành thứ băng ghét đời. Ánh sáng rực rỡ của những cửa hàng, nơi những nhành ô rô và những chùm quả đỏ kêu lách tách trong hơi nóng của đèn bên cửa kính, làm những gương mặt xanh xao đi qua cũng ửng hồng. Các cửa hàng gà vịt và tạp hoá trở thành một trò vui tuyệt vời, một cuộc diễu hành huy hoàng, đến nỗi gần như không thể tin rằng những nguyên tắc buồn tẻ như mua bán lại có dính dáng gì tới nó. Ngài Thị trưởng, trong thành trì của Dinh Thị trưởng hùng vĩ, ra lệnh cho năm mươi đầu bếp và quản gia của mình mừng Giáng sinh như gia đình một ngài Thị trưởng phải mừng. Và ngay cả anh thợ may nhỏ bé, người mà thứ hai vừa rồi ngài đã phạt năm si-linh vì say rượu và hung hăng ngoài phố, cũng đang khuấy cái bánh pudding cho ngày mai trên gác xép của mình, trong khi bà vợ gầy gò và đứa con nhỏ đi mua thịt bò.
Sương mù càng dày, càng lạnh hơn. Cái lạnh buốt, thấu xương, cắn da cắn thịt. Giá như Thánh Đun-xtan tốt bụng đã kẹp mũi quỷ dữ bằng một chút thời tiết như thế, thay vì dùng những vũ khí quen thuộc của ngài, thì hẳn con quỷ đã rống lên ra trò. Một cậu bé có cái mũi non nớt bé xíu, bị cái lạnh đói khát gặm nhấm như chó gặm xương, cúi xuống lỗ khoá cửa nhà Cờ-rút để tặng lão một bài thánh ca Giáng sinh. Nhưng vừa nghe những tiếng đầu tiên:
“Chúa ban phước lành cho quý ông vui vẻ! Mong chẳng điều gì làm ông lo âu!”
thì Cờ-rút đã chộp lấy cây thước kẻ hăng hái đến nỗi cậu bé hoảng sợ bỏ chạy, để cái lỗ khoá lại cho sương mù và cho thứ giá lạnh còn hợp với lão hơn.
Cuối cùng đã tới giờ đóng cửa phòng giấy. Miễn cưỡng, Cờ-rút bước xuống khỏi chiếc ghế đẩu cao, và lặng lẽ thừa nhận điều ấy với người thư ký đang mong đợi trong cái bể chứa. Anh lập tức thổi tắt nến và đội mũ lên.
Cờ-rút nói:
– Tao đoán mai mày muốn nghỉ cả ngày chứ gì?
– Nếu ông thấy tiện, thưa ông.
Cờ-rút nói:
– Chẳng tiện chút nào, mà cũng chẳng công bằng. Nếu tao trừ nửa đồng crao vì chuyện ấy, mày sẽ cho là mày bị đối xử tệ, tao dám chắc thế?
Người thư ký mỉm cười yếu ớt.
Cờ-rút nói:
– Thế mà mày không cho là tao bị đối xử tệ, khi tao trả một ngày lương mà chẳng có việc gì.
Người thư ký nhận xét rằng mỗi năm chỉ có một lần.
Cờ-rút vừa nói vừa cài khuy áo khoác tới tận cằm:
– Một cái cớ tồi để móc túi người ta vào mỗi ngày hai mươi lăm tháng mười hai! Nhưng tao đoán mày phải được nghỉ cả ngày. Sáng hôm sau đến sớm hơn nhé.
Người thư ký hứa sẽ đến sớm, và Cờ-rút gầm gừ bước ra. Phòng giấy đóng cửa trong nháy mắt. Còn người thư ký, hai đầu dài của chiếc khăn quàng trắng lủng lẳng dưới thắt lưng, vì anh chẳng có áo khoác nào để mà khoe, trượt xuống một đường băng trượt ở phố Coóc-hin, ở cuối một hàng dài bọn trẻ, những hai mươi lần, để mừng đêm Giáng sinh, rồi chạy hết sức về nhà ở khu Cam-đơn để chơi trò bịt mắt bắt dê.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn