Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Bí mật của bác thợ xay Cô-ri-nây

của Alphonse Daudet

⏱ 10 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 9.907 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Phờ-răng-xê Ma-mai, một ông già thổi sáo, thỉnh thoảng…
  2. 2:32Bác Cô-ri-nây là một ông thợ xay già, sống…
  3. 4:46Chào bác Cô-ri-nây! Nghề xay xát vẫn khá đấy…
  4. 5:14Đi qua trước cối xay, người ta chỉ thấy…
  5. 7:05Vừa lúc chúng lên tới nơi thì bác Cô-ri-nây…
  6. 8:40Cối xay mở toang cửa… Trước cửa, bác Cô-ri-nây…
  7. 9:14Ơi cối xay!… Ơi bác Cô-ri-nây!
  8. 9:37À! Tôi biết thế nào các người cũng quay…

Phờ-răng-xê Ma-mai, một ông già thổi sáo, thỉnh thoảng vẫn đến nhà tôi ngồi chơi buổi tối, nhấp chén rượu nấu, hôm nọ kể cho tôi nghe một tấn bi kịch nhỏ ở làng mà cái cối xay gió của tôi đã chứng kiến chừng hai mươi năm trước. Chuyện ông lão kể làm tôi xúc động, và tôi sẽ cố kể lại cho các bạn nghe đúng như tôi đã được nghe.

Các bạn đọc thân mến, hãy tưởng tượng một lúc rằng các bạn đang ngồi trước một bình rượu thơm phức, và người đang nói với các bạn là một ông già thổi sáo.

Thưa ông, xứ chúng tôi không phải lúc nào cũng là một nơi chết lặng, vắng tiếng hát như bây giờ đâu. Ngày trước, ở đây buôn bán xay xát lớn lắm. Trong vòng mười dặm, người các trang trại đều mang lúa mì đến cho chúng tôi xay… Quanh làng, đồi nào cũng phủ đầy cối xay gió. Bên phải bên trái, đâu đâu cũng chỉ thấy những cánh quạt quay trong gió mi-xtơ-ran trên ngọn thông, những đoàn lừa con dài dằng dặc chở bao tải, lên dốc xuống dốc dọc các nẻo đường. Suốt cả tuần, nghe trên đồi tiếng roi quất, tiếng vải buồm kêu răng rắc và tiếng thợ phụ hò lừa “Dí! Hầy!”, thật là vui tai… Ngày chủ nhật, chúng tôi kéo nhau từng tốp lên các cối xay. Trên ấy, các bác thợ xay đãi rượu nho ngọt. Các bà vợ thợ xay đẹp như hoàng hậu, với khăn quàng đăng ten và thánh giá vàng. Còn tôi thì mang sáo theo, và người ta nhảy điệu pha-răng-đôn cho tới tối mịt. Những cối xay ấy, ông thấy đấy, là niềm vui và sự giàu có của xứ chúng tôi.

Khốn thay, mấy ông người Pháp ở Pa-ri nghĩ ra chuyện dựng một nhà máy xay chạy bằng hơi nước trên con đường đi Ta-ra-xcông. Cái gì mới chả đẹp! Người ta quen dần cái lệ gửi lúa mì cho nhà máy, và những cái cối xay gió tội nghiệp đành ngồi không. Một thời gian, chúng cố chống chọi, nhưng hơi nước mạnh hơn, và khổ thân, lần lượt từng cái một đều phải đóng cửa… Không còn thấy những chú lừa con đến nữa… Những bà vợ thợ xay xinh đẹp bán cả thánh giá vàng… Hết rượu nho ngọt! Hết điệu pha-răng-đôn!… Gió mi-xtơ-ran có thổi mấy cũng vô ích, cánh quạt cứ đứng im… Rồi một ngày kia, xã cho phá hết những căn nhà xiêu vẹo ấy, và người ta trồng nho, trồng ô liu vào chỗ đó.

Thế nhưng giữa cảnh sụp đổ ấy, có một cái cối xay vẫn trụ vững, vẫn dũng cảm quay trên gò của nó, ngay trước mũi bọn nhà máy. Đó là cối xay của bác Cô-ri-nây, chính là cái cối xay mà chúng ta đang ngồi chơi tối nay đây.

Bác Cô-ri-nây là một ông thợ xay già, sống giữa bột mì đã sáu mươi năm, mê nghề đến cuồng nhiệt. Nhà máy mọc lên làm bác gần như phát điên. Suốt tám ngày, người ta thấy bác chạy khắp làng, tụ tập mọi người quanh mình, gào lên hết sức rằng người ta muốn đầu độc cả xứ Pờ-rô-văng-xơ bằng bột của nhà máy. Bác bảo: “Đừng đến đấy. Bọn cướp ấy làm bánh mì bằng hơi nước, mà hơi nước là thứ quỷ sứ đẻ ra. Còn tôi, tôi làm việc bằng gió mi-xtơ-ran và gió bấc, là hơi thở của Chúa lòng lành…”. Cứ thế, bác nghĩ ra cả một tràng lời hay ý đẹp để ca ngợi cối xay gió, nhưng chẳng ai nghe.

Thế là, giận đến điên người, ông già đóng cửa ở lì trong cối xay, sống một mình như con thú hoang. Bác không muốn giữ cả đứa cháu gái Vi-vét ở bên mình, một con bé mười lăm tuổi, từ khi bố mẹ mất, trên đời chỉ còn có ông nội. Con bé tội nghiệp phải tự kiếm sống, đi làm thuê khắp các trang trại, khi thì gặt lúa, khi nuôi tằm, khi hái ô liu. Thế mà ông nội có vẻ thương nó lắm. Nhiều khi bác cuốc bộ bốn dặm đường dưới nắng gắt đến thăm nó ở trang trại nơi nó làm, và khi ở bên nó, bác ngồi hàng giờ liền nhìn nó mà khóc…

Trong xứ, người ta nghĩ ông thợ xay già đuổi Vi-vét đi là vì hà tiện. Để cháu gái mình lang thang từ trại này sang trại khác như thế, chịu sự thô bạo của bọn đốc công và mọi nỗi cực nhục của phận đi ở, thật chẳng vẻ vang gì. Người ta cũng chê trách một người có tiếng tăm như bác Cô-ri-nây, xưa nay vẫn biết giữ thể diện, mà nay lại đi ngoài đường như một gã du mục thực thụ, chân đất, mũ thủng, thắt lưng rách tả tơi… Sự thật là ngày chủ nhật, thấy bác vào nhà thờ dự lễ, bọn già chúng tôi xấu hổ thay cho bác. Bác Cô-ri-nây cũng cảm thấy rõ điều ấy, nên không dám đến ngồi ở hàng ghế dành cho các vị trong hội đồng giáo xứ nữa. Bao giờ bác cũng đứng tận cuối nhà thờ, cạnh bình nước thánh, cùng với những người nghèo.

Trong cuộc sống của bác Cô-ri-nây có cái gì đó không minh bạch. Từ lâu rồi trong làng chẳng ai mang lúa mì đến cho bác nữa, thế mà cánh quạt cối xay của bác vẫn quay đều như trước… Buổi tối, người ta vẫn gặp ông thợ xay già trên đường, lùa con lừa chở những bao bột to tướng.

Bà con nông dân gọi to:

– Chào bác Cô-ri-nây! Nghề xay xát vẫn khá đấy chứ?

Ông già đáp, vẻ hồ hởi:

– Vẫn khá, các con ạ. Ơn Chúa, chúng tôi chẳng thiếu việc.

Bấy giờ, nếu có ai hỏi việc ở đâu ra mà nhiều thế, bác đặt ngón tay lên môi, nghiêm trang đáp: “Suỵt! Tôi làm hàng xuất khẩu…”. Chẳng bao giờ người ta moi thêm được câu nào.

Còn chuyện thò mũi vào cối xay của bác thì đừng có mơ. Ngay cả con bé Vi-vét cũng không được vào…

Đi qua trước cối xay, người ta chỉ thấy cửa lúc nào cũng đóng, những cánh quạt to lúc nào cũng quay, con lừa già gặm cỏ trên sân, và một con mèo to gầy nhom phơi nắng trên bậu cửa sổ, nhìn người qua lại bằng con mắt hằn học.

Tất cả những cái ấy đều có mùi bí ẩn, khiến thiên hạ bàn tán nhiều. Mỗi người giải thích bí mật của bác Cô-ri-nây một kiểu, nhưng tiếng đồn chung là trong cối xay ấy, bao tiền còn nhiều hơn bao bột.

Thế nhưng lâu dần mọi chuyện cũng vỡ lở. Chuyện thế này.

Một hôm, đang thổi sáo cho bọn trẻ nhảy, tôi phát hiện ra thằng con trai lớn của tôi và con bé Vi-vét đã phải lòng nhau. Thật lòng tôi chẳng lấy thế làm phiền, vì dẫu sao cái tên Cô-ri-nây ở xứ chúng tôi vẫn được trọng, và tôi cũng muốn được thấy con chim sẻ nhỏ xinh xắn Vi-vét lăng xăng trong nhà mình. Có điều, đôi trẻ có nhiều dịp ở bên nhau, nên sợ xảy ra chuyện không hay, tôi muốn thu xếp việc này ngay, và tôi lên cối xay để thưa chuyện đôi lời với ông nội nó… Chao ôi, cái lão phù thuỷ già! Phải thấy lão tiếp tôi thế nào! Không cách gì bảo được lão mở cửa. Tôi đành trình bày lý lẽ của mình qua lỗ khoá, được chăng hay chớ. Suốt lúc tôi nói, con mèo gầy khốn kiếp cứ phì phì như quỷ trên đầu tôi.

Ông già không để tôi nói hết, mà hét lên rất vô lễ, bảo tôi quay về với cái ống sáo của tôi, rằng nếu tôi vội cưới vợ cho con trai đến thế thì cứ việc ra nhà máy mà tìm gái… Các bạn hiểu cho, nghe những lời độc địa ấy, máu tôi sôi lên. Nhưng tôi vẫn đủ khôn ngoan để kìm mình lại, để mặc lão già điên với cái cối đá của lão, quay về báo cho bọn trẻ biết chuyện không thành… Đôi trẻ tội nghiệp không sao tin nổi. Chúng xin tôi như xin một ân huệ, cho cả hai cùng lên cối xay nói chuyện với ông nội… Tôi không nỡ từ chối, và vèo một cái, đôi uyên ương đã đi mất.

Vừa lúc chúng lên tới nơi thì bác Cô-ri-nây vừa ra ngoài. Cửa khoá hai vòng. Nhưng lúc đi, ông lão để quên cái thang bên ngoài, và lập tức bọn trẻ nảy ra ý trèo vào qua cửa sổ, xem thử trong cái cối xay nổi tiếng ấy có gì…

Lạ lùng thay! Gian đặt cối đá trống trơn… Không một bao tải, không một hạt lúa mì. Trên tường, trên mạng nhện, không một chút bột nào… Đến cái mùi lúa mì xay ấm áp thơm lừng vẫn thường toả ra trong các cối xay cũng không có… Cái trục quay phủ đầy bụi, và con mèo gầy to tướng nằm ngủ trên đó.

Gian dưới cũng cùng một vẻ nghèo khổ, bỏ hoang như thế. Một cái giường tồi tàn, vài manh giẻ rách, một mẩu bánh mì trên bậc cầu thang, và trong một góc, ba bốn cái bao thủng, từ đó chảy ra gạch vụn và đất trắng.

Bí mật của bác Cô-ri-nây là thế đấy! Chính cái đống vôi vữa ấy, tối tối bác chở đi khắp các nẻo đường, để cứu lấy danh dự của cối xay, để người ta tưởng vẫn có bột xay ở đấy… Tội nghiệp cái cối xay! Tội nghiệp bác Cô-ri-nây! Từ lâu bọn nhà máy đã cướp mất người khách hàng cuối cùng của họ. Cánh quạt vẫn quay, nhưng cối đá quay suông.

Bọn trẻ quay về, nước mắt đầm đìa, kể cho tôi nghe những gì chúng đã thấy. Nghe chúng kể mà lòng tôi tan nát… Không để mất một phút, tôi chạy sang nhà hàng xóm, kể vắn tắt cho họ nghe chuyện ấy, và chúng tôi thoả thuận ngay rằng phải mang tất cả lúa mì có trong nhà đến cối xay của bác Cô-ri-nây… Nói là làm. Cả làng lên đường, và chúng tôi tới nơi với cả một đoàn lừa chở lúa mì, lúa mì thật hẳn hoi!

Cối xay mở toang cửa… Trước cửa, bác Cô-ri-nây ngồi trên một bao vôi, ôm đầu mà khóc. Khi về đến nhà, bác vừa nhận ra rằng trong lúc mình đi vắng, có người đã lọt vào và khám phá ra bí mật đáng buồn của mình.

Bác than:

– Khốn khổ thân tôi! Bây giờ tôi chỉ còn có chết… Cối xay đã bị ô danh rồi.

Và bác khóc nức nở đến xé lòng, gọi cái cối xay bằng đủ mọi tên âu yếm, nói với nó như nói với một con người thật.

Đúng lúc ấy, đoàn lừa lên tới sân, và tất cả chúng tôi đồng thanh gọi thật to, như hồi các bác thợ xay còn thịnh:

– Ơi cối xay!… Ơi bác Cô-ri-nây!

Thế là các bao tải chất đống trước cửa, và những hạt lúa đỏ au đẹp đẽ đổ tràn ra đất, khắp mọi phía…

Bác Cô-ri-nây mở to mắt. Bác vốc một nắm lúa mì vào lòng bàn tay già nua, vừa cười vừa khóc:

– Lúa mì đây!… Lạy Chúa tôi!… Lúa mì tốt!… Để yên cho tôi ngắm nó.

Rồi quay về phía chúng tôi:

– À! Tôi biết thế nào các người cũng quay lại với tôi mà… Bọn nhà máy toàn là quân ăn cướp.

Chúng tôi muốn công kênh bác về làng trong khải hoàn:

– Không, không, các con ạ. Trước hết tôi phải cho cối xay của tôi ăn đã… Các con nghĩ mà xem! Đã bao lâu rồi nó chẳng có gì bỏ vào miệng!

Và tất cả chúng tôi đều rơm rớm nước mắt khi thấy ông già tội nghiệp tất tả bên phải bên trái, rạch bao, trông chừng cối đá, trong khi hạt lúa vỡ ra và bụi bột mịn bay lên tận trần nhà.

Phải nói cho công bằng với chúng tôi: từ hôm ấy trở đi, chúng tôi không bao giờ để ông thợ xay già thiếu việc. Rồi một buổi sáng, bác Cô-ri-nây qua đời, và cánh quạt của chiếc cối xay cuối cùng ở xứ chúng tôi ngừng quay, lần này thì ngừng mãi mãi… Bác Cô-ri-nây mất rồi, không ai nối nghiệp bác. Biết làm sao được, thưa ông!… Cái gì trên đời này cũng có lúc hết, và phải tin rằng thời của những cối xay gió đã qua rồi, cũng như thời của những chuyến xe ngựa trên sông Rôn, của các toà án cũ và những chiếc áo khoác hoa to.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAlphonse Daudet (1840 – 1897)
Năm mất1897
Xuất bản lần đầu1869
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Le Secret de maître Cornille, trong tập Lettres de mon moulin, bản Project Gutenberg
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →