Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Tha thứ

của Guy de Maupassant

⏱ 11 phút🎙️ Giọng Bảo Trang📖 10.659 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Cô lớn lên trong một gia đình thuộc loại…
  2. 2:26Cô trở thành một người tỉnh lẻ giữa lòng…
  3. 3:50Người ta tiết lộ cho cô biết rằng chồng…
  4. 6:06Rồi có một căn hộ trống ngay trong toà…
  5. 7:25Rồi anh chạy vào phòng lấy mũ.
  6. 9:05Ra nhanh lên. Bà Rô-xê sắp mất rồi.
  7. 9:48Rồi dần dần anh nguôi đi. Nhưng cô thì…
  8. 10:33Anh run lên mà không hiểu gì, rồi đi…

Cô lớn lên trong một gia đình thuộc loại sống khép kín với chính mình, như lúc nào cũng ở thật xa mọi sự. Những gia đình ấy chẳng biết gì tới các biến cố chính trị, dù bên bàn ăn vẫn có nhắc tới. Nhưng những lần thay đổi chính phủ diễn ra ở tận đâu đâu, xa lắm, nên người ta nói về chúng như nói về một sự kiện lịch sử, như cái chết của vua Lu-i thứ mười sáu hay chuyện Na-pô-lê-ông đổ bộ.

Phong tục đổi thay, mốt này nối tiếp mốt khác. Trong gia đình êm ả ấy, nơi người ta vẫn luôn theo những lề thói cổ truyền, chẳng ai mấy khi nhận ra. Và nếu có câu chuyện tai tiếng nào xảy ra quanh vùng, thì vụ bê bối cũng tắt lịm ngay ở ngưỡng cửa. Chỉ có ông bố và bà mẹ, một buổi tối nào đó, trao đổi với nhau vài câu về chuyện ấy, mà cũng chỉ thì thầm, vì tường vách ở đâu cũng có tai. Ông bố dè dặt nói:

— Bà có biết cái chuyện khủng khiếp ở nhà Ri-voan không?

Và bà mẹ đáp:

— Ai mà ngờ được chứ? Thật kinh khủng.

Con cái chẳng hay biết gì. Chúng tới tuổi tự sống cuộc đời của mình với một dải băng bịt kín mắt và trí óc, không ngờ tới những mặt trái của cuộc sống, không biết rằng người ta nghĩ một đằng nói một nẻo, và nói một nẻo làm một nẻo. Chúng không biết rằng phải sống trong chiến tranh với cả thiên hạ, hay ít ra cũng trong một nền hoà bình có vũ trang. Chúng không đoán được rằng ngây thơ thì sẽ bị lừa mãi, thật thà thì bị xỏ mũi, tốt bụng thì bị ngược đãi.

Có những người cứ thế đi tới tận lúc chết trong sự mù quáng của lòng ngay thẳng, trung thực, danh dự, liêm khiết đến nỗi không gì làm họ sáng mắt ra được.

Có những người khác vỡ mộng mà không hiểu rõ vì sao, loạng choạng, rối bời, tuyệt vọng, rồi chết đi trong niềm tin rằng mình là trò đùa của một định mệnh khác thường, là nạn nhân khốn khổ của những biến cố tai hoạ và của những con người đặc biệt tội lỗi.

Nhà Xa-vi-nhôn gả con gái Béc-tơ năm cô mười tám tuổi. Cô lấy một chàng trai Pa-ri, Gioóc-giơ Ba-rông, làm ăn ở Sở Giao dịch. Anh là một chàng trai đẹp, ăn nói giỏi, có đủ mọi vẻ đứng đắn bên ngoài cần có. Nhưng tận đáy lòng, anh hơi coi thường bố mẹ vợ lạc hậu, mà khi ngồi với bạn bè anh vẫn gọi là "mấy món đồ cổ thân yêu của tôi".

Anh thuộc một gia đình tử tế, còn cô gái thì giàu có. Anh đưa cô về sống ở Pa-ri.

Cô trở thành một người tỉnh lẻ giữa lòng Pa-ri, thứ người mà ở đó nhiều vô kể. Cô vẫn không biết gì về thành phố lớn, về giới thanh lịch, những thú vui, những bộ cánh của nó, cũng như cô vẫn không biết gì về cuộc đời, về những trò lọc lừa và những bí ẩn của nó.

Đóng cửa trong tổ ấm của mình, cô hầu như chỉ biết mỗi con phố nhà mình. Khi nào liều đi sang một khu khác, cô có cảm giác như đang làm một chuyến đi xa tới một thành phố lạ hoắc xứ người. Tối về cô kể:

— Hôm nay em đi qua đại lộ đấy.

Mỗi năm đôi ba lần, chồng cô đưa cô đi xem hát. Đó là những ngày hội mà kỷ niệm không bao giờ phai, được nhắc đi nhắc lại mãi.

Có khi ba tháng sau, đang ngồi ăn, cô bỗng phá lên cười mà reo:

— Anh có nhớ cái ông diễn viên mặc đồ ông tướng mà bắt chước gà gáy không?

Mọi mối quan hệ của cô chỉ gói gọn trong hai gia đình họ hàng, mà với cô là cả nhân loại. Cô gọi họ bằng cách thêm chữ "nhà" vào trước tên: nhà Mác-ti-nê và nhà Mi-sơ-lanh.

Chồng cô sống theo ý mình, về nhà lúc nào tuỳ thích, có khi trời sáng mới về, lấy cớ công việc, chẳng giữ gìn gì, chắc mẩm rằng sẽ chẳng bao giờ có một mối ngờ nào lướt qua tâm hồn trong trắng ấy.

Nhưng một buổi sáng, cô nhận được một lá thư nặc danh.

Cô rối bời cả người. Trái tim cô quá ngay thẳng để hiểu được sự đê tiện của những lời tố giác, và để khinh bỉ lá thư ấy, lá thư mà người viết bảo là viết ra vì hạnh phúc của cô, vì ghét điều ác và vì yêu sự thật.

Người ta tiết lộ cho cô biết rằng chồng cô, đã hai năm nay, có một nhân tình, một goá phụ trẻ tên là Rô-xê, và đêm nào anh cũng tới nhà cô ta.

Cô không biết giả vờ, không biết che giấu, không biết rình rập, cũng chẳng biết dùng mẹo. Khi anh về ăn trưa, cô ném lá thư vào mặt anh, nức nở, rồi chạy vào phòng.

Anh có thì giờ để hiểu ra, để chuẩn bị câu trả lời, rồi tới gõ cửa phòng vợ. Cô mở ngay, không dám nhìn anh. Anh mỉm cười, ngồi xuống, kéo cô lên đùi, rồi nói bằng một giọng dịu dàng, hơi giễu cợt:

— Em yêu bé nhỏ của anh, quả là anh có một người bạn gái là bà Rô-xê, anh quen bà ấy đã mười năm và rất quý bà ấy. Anh còn nói thêm là anh quen hai chục gia đình khác mà anh chưa bao giờ kể với em, vì biết em không thích giao du, không thích tiệc tùng và những mối quan hệ mới. Nhưng để chấm dứt một lần cho xong những lời tố giác bỉ ổi này, anh xin em ăn trưa xong thì thay đồ, và chúng ta sẽ tới thăm người phụ nữ trẻ ấy, anh tin chắc bà ấy sẽ thành bạn em.

Cô ôm chầm lấy chồng. Và vì một trong những nỗi tò mò đàn bà một khi đã thức dậy thì không bao giờ ngủ lại được, cô không từ chối đi gặp người đàn bà lạ mà dù sao cô vẫn còn hơi ngờ vực. Bằng bản năng, cô cảm thấy một mối nguy đã biết mặt thì coi như đã tránh được phần nào.

Cô bước vào một căn hộ nhỏ xinh xắn, đầy đồ trang trí, bày biện khéo léo, trên tầng năm một toà nhà đẹp. Chờ được năm phút trong một phòng khách tối mờ vì những tấm thảm treo, những tấm rèm cửa, những tấm màn rủ duyên dáng, thì một cánh cửa mở ra và một thiếu phụ hiện ra, tóc đen nhánh, nhỏ người, hơi đầy đặn, vẻ ngạc nhiên và tươi cười.

Gioóc-giơ giới thiệu:

— Vợ tôi. Bà Giu-li Rô-xê.

Người goá phụ trẻ khẽ kêu lên vì ngạc nhiên và vui mừng, rồi lao tới, dang rộng hai tay. Bà nói không dám mong có được niềm hạnh phúc ấy, vì biết bà Ba-rông không tiếp ai. Nhưng bà vui biết mấy, vui biết mấy! Bà quý Gioóc-giơ đến thế, bà gọi tên anh trống không như thế, thân mật như anh em, nên bà thèm được quen cô vợ trẻ của anh và quý cả cô nữa.

Một tháng sau, hai người bạn mới đã không rời nhau nữa. Ngày nào họ cũng gặp nhau, thường là hai lần, tối nào cũng ăn tối với nhau, khi nhà này, khi nhà kia. Gioóc-giơ giờ chẳng mấy khi đi ra ngoài, không còn lấy cớ công việc nữa, anh bảo anh mê cái góc bên lò sưởi.

Rồi có một căn hộ trống ngay trong toà nhà bà Rô-xê ở, bà Ba-rông vội thuê ngay để được ở gần và gắn bó với nhau hơn.

Và suốt hai năm trời, đó là một tình bạn không gợn một bóng mây, một tình bạn của trái tim và tâm hồn, trọn vẹn, dịu dàng, tận tuỵ, tuyệt vời. Béc-tơ không nói được câu nào mà không nhắc tới Giu-li, người mà với cô là hiện thân của sự hoàn hảo.

Cô hạnh phúc, một hạnh phúc trọn vẹn, êm đềm và dịu ngọt.

Nhưng rồi bà Rô-xê lâm bệnh. Béc-tơ không rời bạn nữa. Cô thức trắng đêm, đau buồn. Chính chồng cô cũng tuyệt vọng.

Một buổi sáng, ông bác sĩ khám xong ra về, gọi riêng Gioóc-giơ và vợ ra, báo rằng ông thấy tình trạng người bạn của họ rất nặng.

Ông vừa đi khỏi, hai vợ chồng trẻ bàng hoàng ngồi đối diện nhau, rồi đột nhiên bật khóc. Đêm ấy cả hai cùng thức bên giường bệnh. Chốc chốc Béc-tơ lại âu yếm hôn người bệnh, trong khi Gioóc-giơ đứng ở cuối giường, lặng lẽ nhìn bà, nhìn mãi không rời, một cách đắm đuối.

Hôm sau bà còn yếu hơn nữa.

Rồi tới chiều, bà bảo bà thấy đỡ hơn, và buộc hai người bạn xuống nhà ăn tối.

Họ đang buồn bã ngồi trong phòng ăn, hầu như chẳng ăn uống gì, thì cô hầu đưa cho Gioóc-giơ một phong thư. Anh mở ra, đọc, mặt tái mét, rồi đứng dậy nói với vợ, vẻ khác lạ:

— Em chờ anh nhé, anh phải đi ra một lát, mười phút nữa anh về. Nhất là em đừng đi đâu.

Rồi anh chạy vào phòng lấy mũ.

Béc-tơ chờ anh, dằn vặt vì một nỗi lo mới. Nhưng vốn chuyện gì cũng ngoan ngoãn nghe lời, cô không muốn lên với bạn trước khi anh trở về.

Thấy anh mãi không quay lại, cô nảy ra ý định vào phòng anh xem anh có mang găng tay không, vì như thế có nghĩa là anh định vào nhà ai đó.

Ngay cái nhìn đầu tiên, cô đã thấy đôi găng. Bên cạnh là một mảnh giấy nhàu nát vứt lăn lóc. Cô nhận ra ngay, đó chính là tờ giấy người ta vừa đưa cho Gioóc-giơ.

Và một cơn cám dỗ bỏng rát, lần đầu tiên trong đời cô, xui cô đọc, xui cô tìm cho biết. Lương tâm cô phản kháng, chống cự, nhưng cơn ngứa ngáy của một nỗi tò mò bị quất roi và đau đớn cứ đẩy bàn tay cô. Cô cầm tờ giấy, mở ra, nhận ngay nét chữ của Giu-li, nét chữ run run viết bằng bút chì. Cô đọc:

"Anh tới đây một mình, hôn em lần cuối, anh yêu tội nghiệp của em, em sắp chết rồi."

Thoạt đầu cô không hiểu, đứng sững như kẻ ngây dại, chỉ bị đánh gục bởi ý nghĩ về cái chết. Rồi đột nhiên, cách xưng hô ấy, "anh yêu" và "em", chộp lấy ý nghĩ của cô. Và nó như một tia chớp lớn rọi sáng cả cuộc đời cô, cho cô thấy toàn bộ sự thật đê tiện, toàn bộ sự phản bội, toàn bộ sự lọc lừa của họ. Cô hiểu ra cái mưu mẹo dai dẳng của họ, những ánh mắt của họ, lòng thật thà của cô bị đem ra làm trò, niềm tin của cô bị lừa gạt. Cô thấy lại họ ngồi đối diện nhau, những buổi tối dưới chao đèn của cô, đọc chung một cuốn sách, trao đổi với nhau bằng mắt ở cuối mỗi trang.

Trái tim cô trào lên phẫn nộ, tan nát vì đau đớn, rồi chìm vào một nỗi tuyệt vọng không bờ bến.

Có tiếng bước chân vang lên. Cô chạy trốn vào phòng mình, khoá cửa lại.

Lát sau chồng cô gọi:

— Ra nhanh lên. Bà Rô-xê sắp mất rồi.

Béc-tơ xuất hiện ở cửa, môi run run:

— Anh quay lại một mình với bà ta đi, bà ta không cần tôi.

Anh nhìn cô như kẻ mất trí, đờ đẫn vì đau đớn, và nói lại:

— Nhanh lên, nhanh lên, bà ấy sắp chết.

Béc-tơ đáp:

— Anh mong người sắp chết là tôi thì hơn.

Có lẽ khi ấy anh đã hiểu, và anh bỏ đi, trở lên bên người đàn bà đang hấp hối.

Anh khóc thương bà ta không giấu giếm, không ngượng ngùng, mặc kệ nỗi đau của vợ. Còn cô không nói với anh một lời nào nữa, không nhìn anh nữa, sống một mình, khép kín trong nỗi ghê tởm, trong một cơn giận phẫn uất, và cầu Chúa sớm tối.

Thế mà họ vẫn sống chung, vẫn ăn cơm mặt đối mặt, câm lặng và tuyệt vọng.

Rồi dần dần anh nguôi đi. Nhưng cô thì không tha thứ cho anh.

Và cuộc sống cứ thế trôi, khắc nghiệt cho cả hai người.

Suốt một năm trời, họ xa lạ với nhau như thể chưa từng quen biết. Béc-tơ suýt hoá điên.

Rồi một buổi sáng, cô ra khỏi nhà từ tinh mơ, tới tám giờ mới về, hai tay ôm một bó hoa hồng to tướng, toàn hoa hồng trắng, trắng muốt.

Cô cho người báo với chồng rằng cô muốn nói chuyện với anh.

Anh tới, lo lắng, bối rối.

— Chúng ta sẽ cùng đi ra ngoài. Anh cầm lấy bó hoa này, nó nặng quá với tôi.

Anh cầm bó hoa và đi theo vợ. Một chiếc xe ngựa đã chờ sẵn, hai người vừa lên là xe chạy.

Xe dừng trước cổng sắt nghĩa trang. Bấy giờ Béc-tơ, mắt đẫm lệ, nói với Gioóc-giơ:

— Anh dẫn tôi tới mộ bà ấy.

Anh run lên mà không hiểu gì, rồi đi trước dẫn đường, tay vẫn ôm bó hoa. Cuối cùng anh dừng lại trước một tấm đá cẩm thạch trắng, lặng lẽ chỉ vào đó.

Cô đỡ lấy bó hoa lớn từ tay anh, quỳ xuống, đặt nó dưới chân ngôi mộ. Rồi cô chìm vào một lời cầu nguyện thầm kín, van lơn, không ai hay biết.

Đứng sau lưng cô, người chồng, bị những kỷ niệm ám ảnh, đang khóc.

Cô đứng dậy, chìa hai tay cho anh.

— Nếu anh muốn, chúng ta sẽ là bạn của nhau.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGuy de Maupassant (1850 – 1893)
Năm mất1893
Xuất bản lần đầu1882
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Le Pardon, in trên báo Le Gaulois năm 1882, tập Clair de lune, Monnier 1884
Giọng đọcBảo Trang — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →