Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Bác Boa-ten

của Guy de Maupassant

⏱ 17 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 14.696 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Tặng ông Rô-be Panh-sông.
  2. 3:44Sự chú ý của Boa-ten lập tức chia đôi…
  3. 7:57Hai ông bà không hiểu, và anh phải giải…
  4. 8:48Và cậu con, tin chắc, kêu lên:
  5. 9:51Ở nhà ga, lúc rời Ha-vrơ, người ta nhìn…
  6. 12:29Đó là một chuyện cười nổi tiếng trong nhà.…
  7. 13:57"Bố chẳng có ý kiến gì. Hỏi mẹ con…
  8. 16:44Và mỗi khi kể xong câu chuyện cả vùng…

Tặng ông Rô-be Panh-sông.

Khắp vùng, bác Boa-ten, tên Ăng-toan, chuyên làm những việc bẩn thỉu. Hễ cần dọn một hố xí, một đống phân, một hố nước thải, nạo một cống ngầm, một vũng bùn nào đó, là người ta đi tìm bác.

Bác tới với đồ nghề của người đổ thùng và đôi guốc trát đầy ghét bẩn, rồi bắt tay vào việc, miệng không ngớt rên rỉ về cái nghề của mình. Lúc ấy nếu ai hỏi vì sao bác làm cái việc ghê tởm ấy, bác đáp với vẻ cam chịu:

"Ôi dào, là vì lũ con phải nuôi. Nghề này kiếm được hơn nghề khác."

Quả thật bác có mười bốn đứa con. Nếu ai hỏi bây giờ chúng ra sao, bác nói với vẻ dửng dưng:

"Còn tám đứa ở nhà. Một đứa đi lính, năm đứa đã dựng vợ gả chồng."

Khi người ta muốn biết chúng có lấy được nơi tử tế không, bác đáp lại ngay:

"Tui có cản chúng nó đâu. Tui chẳng cản chúng nó cái gì hết. Chúng nó muốn lấy ai thì lấy. Không được cản sở thích của người ta, cản là hỏng. Tui mà thành ra cái đồ bẩn thỉu thế này, là vì bố mẹ tui đã cản sở thích của tui. Không thì tui đã thành một người thợ như bao người khác."

Đây là chuyện bố mẹ đã cản trở sở thích của bác như thế nào.

Hồi ấy bác đang đi lính, làm nghĩa vụ ở Ha-vrơ, chẳng ngốc hơn ai, cũng chẳng lanh lợi hơn ai, có điều hơi chất phác. Những giờ được nghỉ, thú vui lớn nhất của bác là đi dạo trên bến cảng, nơi tụ tập những người bán chim. Khi đi một mình, khi đi với một người cùng quê, bác chậm rãi đi dọc những dãy lồng. Ở đó có những con vẹt lưng xanh đầu vàng của xứ A-ma-dôn, những con vẹt lưng xám đầu đỏ của xứ Xê-nê-gan, những con vẹt đuôi dài khổng lồ trông như những loài chim trồng trong nhà kính, với bộ lông như nở hoa, những chùm lông và những mào lông. Có những con vẹt nhỏ đủ mọi cỡ, như được Chúa, một hoạ sĩ vẽ tranh nhỏ, tô màu tỉ mỉ, và những con chim bé xíu, bé tẹo nhảy nhót, đỏ, vàng, xanh, sặc sỡ. Tiếng kêu của chúng hoà vào tiếng ồn của bến cảng, mang vào giữa tiếng ầm ầm của những con tàu dỡ hàng, của người qua lại và xe cộ, một thứ âm thanh dữ dội, the thé, líu lo, inh tai, của một cánh rừng xa xôi và siêu nhiên.

Boa-ten dừng lại, mắt mở to, miệng há hốc, cười sung sướng, nhe răng ra với những con vẹt mào bị nhốt, chúng giương chiếc mào trắng hay vàng chào màu đỏ rực của chiếc quần lính và màu đồng của chiếc thắt lưng bác. Gặp con chim biết nói, bác đặt câu hỏi cho nó. Và nếu hôm ấy con vật vui lòng trả lời và trò chuyện với bác, thì bác mang theo niềm vui, niềm mãn nguyện ấy tới tận tối. Nhìn lũ khỉ bác cũng sướng đến nghiêng ngả, và bác chẳng tưởng tượng ra cái xa xỉ nào lớn hơn cho một người giàu là được nuôi những con vật ấy như người ta nuôi chó nuôi mèo. Cái sở thích ấy, sở thích những thứ của xứ lạ, ăn vào máu bác như người khác mê săn bắn, mê nghề thuốc hay mê làm linh mục. Lần nào cổng doanh trại mở ra, bác cũng không nhịn được mà quay lại bến cảng, như bị một cơn thèm kéo đi.

Rồi một lần, khi bác đang dừng lại, gần như ngây ngất, trước một con vẹt đuôi dài khổng lồ đang xù lông, cúi mình, rồi lại vươn thẳng, như đang làm những động tác chào của triều đình xứ vẹt, thì bác thấy cánh cửa một quán cà phê nhỏ sát hiệu bán chim mở ra. Một cô gái da đen trẻ, đầu quấn khăn đỏ, hiện ra, đang quét nút chai và cát trong quán ra phố.

Sự chú ý của Boa-ten lập tức chia đôi cho con vật và người đàn bà, và thật tình bác cũng chẳng nói được mình đang ngắm sinh vật nào với nhiều ngạc nhiên và thích thú hơn.

Cô gái da đen, sau khi đẩy rác của quán ra ngoài, ngước mắt lên, và đến lượt cô cũng sững sờ trước bộ quân phục của anh lính. Cô đứng đó, trước mặt anh, tay cầm chổi như đang bồng súng chào, trong khi con vẹt vẫn tiếp tục cúi chào. Thế rồi được một lúc, anh lính thấy ngượng vì bị chú ý như thế, bèn đi chầm chậm, để khỏi có vẻ rút lui.

Nhưng anh quay lại. Gần như ngày nào anh cũng đi qua trước quán cà phê Thuộc Địa, và nhiều lần qua cửa kính anh thấy cô hầu gái nhỏ da đen đang bưng bia hay rượu mạnh cho đám thuỷ thủ ở cảng. Nhiều lần cô cũng bước ra khi thấy anh. Chẳng bao lâu, dù chưa từng nói với nhau câu nào, họ đã mỉm cười với nhau như người quen. Và Boa-ten thấy lòng xao xuyến khi bỗng thấy loé lên, giữa đôi môi sẫm màu của cô gái, hàng răng trắng sáng. Cuối cùng một hôm anh bước vào, và ngạc nhiên lắm khi thấy cô nói tiếng Pháp như mọi người. Chai nước chanh mà cô nhận uống với anh một cốc mãi mãi đọng lại trong ký ức anh lính như một thứ ngon tuyệt vời đáng nhớ. Và anh quen dần với việc tới cái quán nhỏ bên cảng ấy uống hết mọi thứ nước ngọt mà túi tiền cho phép.

Với anh đó là một ngày hội, một niềm hạnh phúc anh nghĩ tới không thôi, được ngắm bàn tay đen của cô hầu gái nhỏ rót một thứ gì vào cốc mình, trong khi hàng răng thì cười, sáng hơn cả đôi mắt. Qua hai tháng qua lại, họ trở thành đôi bạn thân thiết. Và Boa-ten, sau cơn ngạc nhiên ban đầu khi thấy những suy nghĩ của cô gái da đen ấy giống hệt những suy nghĩ tốt đẹp của các cô gái quê mình, rằng cô trọng sự tằn tiện, sự cần cù, tôn giáo và nết na, lại càng yêu cô hơn, yêu say mê đến mức muốn cưới cô.

Anh nói với cô ý định ấy, khiến cô nhảy cẫng lên vì sung sướng. Vả lại cô cũng có chút tiền, do một bà bán sò để lại, người đã cưu mang cô khi cô được một thuyền trưởng người Mỹ đặt lên bến cảng Ha-vrơ. Ông thuyền trưởng ấy đã tìm thấy cô, chừng sáu tuổi, nằm co ro trên những kiện bông trong khoang tàu, vài giờ sau khi rời Niu Oóc. Tới Ha-vrơ, ông giao cho bà bán sò động lòng thương ấy chăm sóc đứa bé da đen nhỏ xíu trốn trên tàu mình, chẳng biết ai mang lên, và mang lên bằng cách nào. Bà bán sò mất đi, cô gái da đen trẻ trở thành người hầu ở quán cà phê Thuộc Địa.

Ăng-toan Boa-ten nói thêm:

"Việc sẽ thành nếu bố mẹ anh không phản đối. Anh sẽ chẳng bao giờ làm trái ý bố mẹ, em nghe rõ chưa, chẳng bao giờ! Lần đầu về quê anh sẽ thưa chuyện với bố mẹ."

Quả nhiên tuần sau, được phép nghỉ hai mươi bốn giờ, anh về với gia đình, nhà cày cấy một trang trại nhỏ ở Tuốc-tơ-vin, gần I-vơ-tô.

Anh chờ tới cuối bữa ăn, lúc tách cà phê pha rượu mạnh làm lòng người cởi mở hơn, mới báo với các bậc sinh thành rằng anh đã tìm được một cô gái hợp ý mình đến thế, hợp với mọi ý thích của mình, đến nỗi trên đời chắc không có cô nào khác hợp với anh hoàn hảo được như thế.

Nghe chuyện ấy, hai ông bà già lập tức trở nên dè dặt, và đòi giải thích. Anh chẳng giấu điều gì, trừ màu da của cô.

Đó là một cô hầu, chẳng có của cải gì nhiều, nhưng giỏi giang, tằn tiện, sạch sẽ, nết na, và biết khuyên điều hay. Tất cả những thứ ấy còn đáng giá hơn tiền bạc trong tay một người nội trợ tồi. Vả lại cô cũng có ít tiền, do một người đàn bà đã nuôi cô để lại, một món kha khá, gần như một chút của hồi môn, một nghìn rưởi quan trong quỹ tiết kiệm. Hai ông bà già, bị những lời của anh chinh phục, lại tin vào óc xét đoán của anh, đang dần dần xuôi theo, thì anh tới điểm tế nhị. Cười một cách hơi gượng gạo, anh nói:

"Chỉ có một điều có thể làm bố mẹ phật ý. Cô ấy không trắng."

Hai ông bà không hiểu, và anh phải giải thích mãi, hết sức thận trọng, để khỏi làm họ khó chịu, rằng cô thuộc về giống người da sẫm mà họ mới chỉ thấy trong những bức tranh in bán ở chợ.

Thế là hai ông bà lo lắng, bối rối, sợ hãi, như thể anh đề nghị một cuộc hôn nhân với quỷ dữ.

Bà mẹ hỏi:

"Đen à? Đen đến mức nào? Có đen khắp người không?"

Anh đáp:

"Chắc chắn rồi. Đen khắp người, như mẹ trắng khắp người ấy!"

Ông bố hỏi tiếp:

"Đen à? Đen như cái nồi không?"

Cậu con đáp:

"Có khi kém tí chút! Đen, nhưng không đen đến mức đáng ghê. Áo ông cha xứ cũng đen đấy thôi, mà có xấu hơn cái áo lễ trắng đâu."

Ông bố nói:

"Ở xứ cô ấy có người còn đen hơn không?"

Và cậu con, tin chắc, kêu lên:

"Chắc chắn rồi!"

Nhưng ông già lắc đầu.

"Chắc là khó chịu lắm?"

Còn cậu con:

"Cũng chẳng khó chịu hơn cái gì khác, vì người ta quen ngay ấy mà."

Bà mẹ hỏi:

"Thế cái da ấy có làm bẩn quần áo hơn da người khác không?"

"Không hơn da mẹ, vì đó là màu của nó."

Vậy là sau rất nhiều câu hỏi nữa, mọi người thoả thuận rằng bố mẹ sẽ gặp cô gái trước khi quyết định gì, và cậu con, tháng sau mãn hạn lính, sẽ đưa cô về nhà để người ta xem xét, và trò chuyện rồi quyết định xem cô có đen quá không để bước vào nhà Boa-ten.

Lúc ấy Ăng-toan báo rằng chủ nhật ngày hai mươi hai tháng năm, ngày anh xuất ngũ, anh sẽ cùng người yêu về Tuốc-tơ-vin.

Cho chuyến về nhà bố mẹ người yêu, cô đã mặc những bộ quần áo đẹp nhất và sặc sỡ nhất, chủ yếu là màu vàng, màu đỏ và màu xanh, đến nỗi trông cô như được treo cờ cho ngày quốc khánh.

Ở nhà ga, lúc rời Ha-vrơ, người ta nhìn cô nhiều lắm, và Boa-ten hãnh diện được khoác tay một người khiến thiên hạ chú ý đến thế. Rồi trong toa hạng ba, nơi cô ngồi cạnh anh, cô làm đám nông dân ngạc nhiên tới mức những người ở các khoang bên cạnh phải trèo lên ghế để nhìn cô qua vách gỗ ngăn cái thùng xe đang lăn. Một đứa bé trông thấy cô thì khóc thét lên vì sợ, một đứa khác vùi mặt vào tạp dề mẹ.

Tuy vậy mọi chuyện vẫn ổn cho tới ga đến. Nhưng khi tàu chạy chậm lại gần I-vơ-tô, Ăng-toan thấy bứt rứt, như lúc bị kiểm tra mà không thuộc bài. Rồi thò đầu ra cửa toa, anh nhận ra từ xa bố mình đang cầm cương con ngựa thắng vào chiếc xe nhỏ, và mẹ mình đã đi tới tận hàng rào lưới ngăn những người tò mò.

Anh xuống trước, chìa tay cho người yêu, và đứng thẳng như đang hộ tống một vị tướng, anh đi về phía gia đình.

Bà mẹ, thấy cái bà đen đúa và sặc sỡ ấy đi tới cùng con trai mình, sững sờ đến nỗi không mở miệng được. Còn ông bố thì vất vả mới giữ nổi con ngựa đang chồm lên liên tiếp vì cái đầu máy hay vì cô gái da đen. Nhưng Ăng-toan, bỗng tràn ngập niềm vui trọn vẹn khi gặp lại hai ông bà già, chạy lại, dang rộng tay, hôn chùn chụt bà mẹ, hôn chùn chụt ông bố mặc cho con ngựa con hoảng sợ, rồi quay sang người bạn đồng hành mà những người qua đường ngẩn ngơ dừng lại ngắm, anh giải thích:

"Cô ấy đây! Con đã bảo mà, thoạt nhìn thì cô ấy hơi lạ mắt, nhưng hễ quen rồi, thật đấy, trên đời chẳng có gì dễ thương hơn. Bố mẹ chào cô ấy đi cho cô ấy khỏi ngại."

Thế là bà mẹ Boa-ten, chính bà cũng rụt rè tới mất cả trí khôn, khẽ nhún mình chào, trong khi ông bố bỏ mũ ra, lẩm bẩm: "Chúc cô được như ý." Rồi chẳng chần chừ, mọi người trèo lên xe, hai người đàn bà ngồi phía sau trên những chiếc ghế cứ mỗi lần xe xóc là tung lên, còn hai người đàn ông ngồi phía trước trên băng ghế.

Không ai nói gì. Ăng-toan lo lắng huýt sáo một điệu nhạc nhà binh, ông bố quất con ngựa, còn bà mẹ thì liếc xéo, ném những cái nhìn như chồn về phía cô gái da đen, mà trán và gò má bóng lên dưới nắng như đôi giày đánh xi kỹ.

Muốn phá tan bầu không khí lạnh nhạt, Ăng-toan quay lại.

"Thế nào," anh nói, "chẳng ai nói chuyện gì à?"

"Phải có thời gian chứ," bà già đáp.

Anh nói tiếp:

"Nào, mẹ kể cho cô ấy nghe chuyện tám quả trứng của con gà mái nhà mình đi."

Đó là một chuyện cười nổi tiếng trong nhà. Nhưng vì bà mẹ vẫn im lặng, tê liệt vì xúc động, nên chính anh lên tiếng, vừa kể vừa cười ngặt nghẽo, cái chuyện đáng nhớ ấy. Ông bố, đã thuộc lòng, mới nghe mấy câu đầu đã giãn mặt ra. Chẳng mấy chốc bà vợ cũng làm theo. Và chính cô gái da đen, tới đoạn buồn cười nhất, bỗng phá lên một tràng cười to, ầm ầm, cuồn cuộn như thác, đến nỗi con ngựa bị kích động phải phi nước đại một đoạn.

Thế là đã quen nhau. Người ta chuyện trò.

Vừa về tới nơi, mọi người xuống xe xong, sau khi đưa người yêu vào buồng thay chiếc áo đẹp mà cô có thể làm bẩn khi nấu một món ngon theo kiểu của cô để chinh phục hai ông bà già bằng đường dạ dày, anh kéo bố mẹ ra trước cửa, tim đập thình thịch, hỏi:

"Thế nào, bố mẹ thấy sao?"

Ông bố im lặng. Bà mẹ bạo dạn hơn, tuyên bố:

"Đen quá! Không, thật đấy, đen quá. Mẹ thấy lộn cả máu."

"Rồi bố mẹ sẽ quen," Ăng-toan nói.

"Có thể, nhưng chưa phải lúc này."

Họ vào nhà, và bà già cảm động khi thấy cô gái da đen nấu nướng. Thế là bà giúp cô, váy xắn lên, nhanh nhẹn dù đã có tuổi.

Bữa ăn ngon, lâu, và vui. Sau đó, khi mọi người đi dạo một vòng, Ăng-toan kéo bố ra một chỗ.

"Thế nào, bố, bố thấy sao?"

Người nông dân chẳng bao giờ để mình bị ràng buộc.

"Bố chẳng có ý kiến gì. Hỏi mẹ con ấy."

Lúc ấy Ăng-toan tới chỗ mẹ, giữ bà lại phía sau:

"Thế nào, mẹ, mẹ thấy sao?"

"Con tội nghiệp của mẹ, thật đấy, cô ấy đen quá. Giá mà đỡ đen hơn chút thì mẹ chẳng phản đối, nhưng thế này thì quá. Cứ như quỷ Xa-tăng ấy!"

Anh không nài thêm, vì biết bà già bao giờ cũng cứng đầu. Nhưng anh cảm thấy một cơn bão buồn đau tràn vào tim. Anh nghĩ xem phải làm gì, có thể nghĩ ra cách gì, ngạc nhiên vì cô chưa chinh phục được bố mẹ anh như đã chinh phục anh. Bốn người chầm chậm đi qua những cánh đồng lúa mì, dần dần lại lặng thinh. Mỗi khi đi dọc một hàng rào, những người làm trại lại hiện ra ở cổng, bọn trẻ trèo lên bờ đất, ai cũng chạy ra đường để nhìn "cô gái đen" mà cậu con nhà Boa-ten đưa về. Từ xa đã thấy người ta chạy băng qua đồng như người ta vẫn chạy tới khi trống rao có trò lạ biểu diễn. Hai ông bà Boa-ten hốt hoảng trước sự tò mò mà mình gieo khắp vùng quê, rảo bước, đi bên nhau, bỏ xa đằng trước cậu con trai, người đang bị cô bạn đồng hành hỏi bố mẹ nghĩ gì về cô.

Anh ngập ngừng đáp rằng họ chưa quyết.

Nhưng tới quảng trường làng thì cả làng ùa ra khỏi nhà, xôn xao. Trước đám đông mỗi lúc một đông, hai ông bà già Boa-ten bỏ chạy về nhà, còn Ăng-toan, sôi lên vì giận, khoác tay người yêu, đường hoàng tiến bước dưới những con mắt mở to vì kinh ngạc.

Anh hiểu rằng thế là hết, không còn hi vọng gì nữa, anh sẽ không cưới được cô gái da đen của mình. Cô cũng hiểu thế. Và cả hai cùng bật khóc khi tới gần trang trại. Vừa về tới nơi, cô lại cởi áo đẹp ra để giúp bà mẹ làm việc nhà. Cô theo bà khắp nơi, vào phòng sữa, ra chuồng bò, ra chuồng gà, nhận phần việc nặng nhất, luôn miệng nói: "Bà để cháu làm, bà Boa-ten." Đến nỗi khi tối xuống, bà già, cảm động mà không lay chuyển, bảo con trai: "Dù sao nó cũng là một đứa con gái tốt. Tiếc là nó đen thế, nhưng thật đấy, đen quá. Mẹ không quen được đâu, phải để nó về thôi, nó đen quá."

Và cậu con nhà Boa-ten bảo người yêu:

"Mẹ anh không chịu, mẹ thấy em đen quá. Em phải về thôi. Anh đưa em ra tận ga. Mà em đừng buồn. Em đi rồi anh sẽ nói chuyện với bố mẹ."

Thế là anh đưa cô ra ga, vẫn bảo cô cứ hi vọng. Rồi sau khi hôn cô, anh đưa cô lên chuyến tàu, đứng nhìn nó đi xa dần với đôi mắt sưng mọng vì khóc.

Anh van xin hai ông bà già bao nhiêu cũng vô ích, họ không bao giờ ưng thuận.

Và mỗi khi kể xong câu chuyện cả vùng đều biết ấy, Ăng-toan Boa-ten bao giờ cũng nói thêm:

"Từ đó, tui chẳng thiết làm gì nữa, chẳng thiết gì hết. Chẳng còn nghề nào hợp với tui nữa, và tui thành ra cái thứ như bây giờ, một kẻ làm việc bẩn thỉu."

Người ta bảo bác:

"Thế mà bác cũng lấy vợ đấy thôi."

"Ừ, và tui không thể nói là bà nhà tui làm tui chán, vì tui đã có với bà ấy mười bốn đứa con. Nhưng đó không phải là người kia, ôi không, chắc chắn không, ôi không! Người kia ấy mà, cô gái da đen của tui ấy, cô ấy chỉ cần nhìn tui một cái là tui thấy như bay bổng lên..."

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGuy de Maupassant (1850 – 1893)
Năm mất1893
Xuất bản lần đầu1889
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Boitelle, in trên báo L'Écho de Paris năm 1889, tập La Main gauche, Ollendorff 1899
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →