Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Bóng ma

của Guy de Maupassant

⏱ 13 phút🎙️ Giọng Bảo Thiện📖 13.646 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Người ta đang nói chuyện giam người trái phép…
  2. 2:44Anh bảo tôi:
  3. 4:13Tôi chia tay anh vào khoảng một giờ chiều…
  4. 5:35Tôi bắt đầu sốt ruột.
  5. 6:08"Bây giờ thì ông im đi, nghe chưa? Không…
  6. 8:13Một cơn chấn động chạy khắp chân tay tôi,…
  7. 9:51Thế là nàng chìa cho tôi một chiếc lược…
  8. 11:34Thế là suốt một giờ, tôi lo lắng tự…

Người ta đang nói chuyện giam người trái phép nhân một vụ án mới xử. Đó là cuối một buổi tối thân mật, ở phố Gơ-ren-nơ, trong một toà dinh thự cổ, và ai cũng có một câu chuyện của mình, một câu chuyện mà người kể quả quyết là có thật.

Lúc ấy, ông lão hầu tước La Tua-Xa-muy-en, tám mươi hai tuổi, đứng dậy tới tựa vào lò sưởi. Ông nói bằng giọng hơi run run:

"Tôi cũng biết một chuyện lạ lùng, lạ lùng tới mức nó đã ám ảnh cả đời tôi. Tới nay đã năm mươi sáu năm từ khi tôi gặp chuyện ấy, mà không tháng nào tôi không thấy lại nó trong mơ. Từ ngày ấy, trong tôi còn lại một dấu vết, một vết hằn của sự sợ hãi, các bà hiểu tôi chứ? Phải, tôi đã phải chịu nỗi kinh hoàng khủng khiếp suốt mười phút, khủng khiếp tới mức từ giờ phút đó, một thứ khiếp sợ thường trực cứ ở lại mãi trong tâm hồn tôi. Những tiếng động bất ngờ làm tôi giật mình tới thót tim. Những vật tôi nhìn không rõ trong bóng chiều làm tôi muốn bỏ chạy như điên. Nói tóm lại, tôi sợ bóng đêm.

Ồ! Nếu chưa tới tuổi này, tôi đã chẳng thú nhận điều ấy. Giờ thì tôi có thể nói hết. Khi đã tám mươi hai tuổi, người ta được phép không dũng cảm trước những hiểm nguy tưởng tượng. Còn trước những hiểm nguy thật, thưa các bà, tôi chưa bao giờ lùi bước.

Câu chuyện này làm đầu óc tôi đảo lộn tới mức, gieo vào tôi một nỗi xao động sâu sắc tới mức, bí ẩn tới mức, khủng khiếp tới mức, mà tôi chưa bao giờ kể lại. Tôi giữ nó ở tận đáy sâu thầm kín trong lòng, cái đáy sâu nơi người ta giấu những bí mật đau đớn, những bí mật đáng hổ thẹn, tất cả những yếu đuối không thể thú nhận mà chúng ta có trong đời.

Tôi sẽ kể các bà nghe chuyện ấy đúng như nó đã xảy ra, không tìm cách giải thích. Chắc chắn là nó có thể giải thích được, trừ phi tôi đã có một giờ phát điên. Nhưng không, tôi không điên, và tôi sẽ đưa ra bằng chứng. Các bà muốn tưởng tượng gì thì tưởng tượng. Đây là sự việc, hết sức đơn giản."

Chuyện xảy ra vào tháng Bảy năm một nghìn tám trăm hai mươi bảy. Hồi ấy tôi đóng quân ở Ru-ăng.

Một hôm, đang đi dạo trên bến sông, tôi gặp một người mà tôi tưởng như quen, nhưng không nhớ chính xác là ai. Theo bản năng, tôi làm một cử chỉ như định dừng lại. Người lạ thấy cử chỉ ấy, nhìn tôi, rồi ôm chầm lấy tôi.

Đó là một người bạn thời trai trẻ mà tôi rất yêu quý. Đã năm năm không gặp, mà trông anh như già đi nửa thế kỷ. Tóc anh bạc trắng, và anh đi lom khom, như kiệt sức. Anh hiểu sự ngạc nhiên của tôi, và kể cho tôi nghe đời anh. Một tai hoạ khủng khiếp đã đánh gục anh.

Anh đã yêu điên cuồng một cô gái trẻ, và đã cưới nàng trong một thứ ngây ngất hạnh phúc. Sau một năm hạnh phúc vượt sức người và một niềm đam mê không bao giờ nguôi, nàng đột ngột qua đời vì bệnh tim, có lẽ chính tình yêu đã giết nàng.

Anh rời bỏ lâu đài ngay trong ngày đưa đám, và tới ở trong ngôi nhà của anh tại Ru-ăng. Anh sống ở đó, cô độc và tuyệt vọng, bị nỗi đau gặm nhấm, khổ sở tới mức chỉ nghĩ tới chuyện tự tử.

Anh bảo tôi:

"Đã gặp lại cậu thế này, tớ muốn nhờ cậu một việc lớn, là tới nhà tớ lấy trong cái bàn giấy ở phòng tớ, phòng của hai vợ chồng tớ, mấy giấy tờ mà tớ đang rất cần. Tớ không thể giao việc này cho một kẻ dưới hay một người lo việc làm ăn, vì nó cần một sự kín đáo tuyệt đối và im lặng hoàn toàn. Còn tớ, có cho cả thế giới tớ cũng không bao giờ bước vào ngôi nhà ấy nữa.

Tớ sẽ đưa cậu chìa khoá căn phòng mà chính tay tớ đã khoá lúc ra đi, và chìa khoá cái bàn giấy. Cậu đưa thêm mấy chữ của tớ cho người làm vườn, ông ấy sẽ mở cửa lâu đài cho cậu.

Nhưng mai cậu tới ăn trưa với tớ đã, rồi chúng ta sẽ bàn chuyện ấy."

Tôi hứa sẽ giúp anh việc nhỏ ấy. Vả lại với tôi đó chỉ là một chuyến dạo chơi, vì điền trang của anh cách Ru-ăng chừng năm dặm. Cưỡi ngựa chỉ mất một giờ.

Mười giờ hôm sau, tôi đã tới nhà anh. Chúng tôi ăn trưa chỉ có hai người. Nhưng anh nói chưa tới hai mươi câu. Anh xin tôi thứ lỗi. Anh bảo rằng ý nghĩ về chuyến tôi sắp tới căn phòng ấy, nơi hạnh phúc của anh đã nằm xuống, làm anh rối bời. Quả thật tôi thấy anh bồn chồn lạ thường, bận tâm, như thể có một cuộc giằng co bí ẩn đang diễn ra trong tâm hồn anh.

Cuối cùng anh giải thích chính xác những gì tôi phải làm. Rất đơn giản. Tôi phải lấy hai bó thư và một xấp giấy tờ để trong ngăn kéo thứ nhất bên phải của cái bàn mà tôi có chìa khoá. Anh nói thêm:

"Tớ chẳng cần phải dặn cậu đừng nhìn vào đó."

Tôi gần như phật ý vì câu ấy, và tôi nói với anh hơi gay gắt. Anh lắp bắp:

"Tha lỗi cho tớ, tớ khổ quá."

Rồi anh bật khóc.

Tôi chia tay anh vào khoảng một giờ chiều để làm nhiệm vụ.

Trời đẹp rực rỡ, và tôi phóng nước kiệu qua những đồng cỏ, nghe tiếng chim sơn ca hót và tiếng thanh gươm gõ nhịp nhàng vào ủng.

Rồi tôi vào rừng, cho ngựa đi bước một. Những cành cây vuốt ve mặt tôi. Thỉnh thoảng tôi đớp lấy một chiếc lá bằng răng mà nhai ngấu nghiến, trong một niềm vui sống ào ạt chẳng biết vì sao, đầy một thứ hạnh phúc sôi sục như không nắm bắt được, một thứ say sưa vì sức lực.

Tới gần lâu đài, tôi tìm trong túi lá thư gửi người làm vườn, và ngạc nhiên nhận thấy nó đã được dán kín. Tôi ngạc nhiên và bực mình tới mức suýt quay về mà không làm việc được nhờ. Rồi tôi nghĩ rằng như thế là tỏ ra một sự tự ái kém nhã nhặn. Vả lại bạn tôi có thể đã dán thư mà không để ý, trong cơn rối bời của anh.

Toà trang viên như đã bị bỏ hoang từ hai mươi năm nay. Cánh cổng mở toang và mục nát, chẳng biết sao vẫn còn đứng được. Cỏ mọc đầy các lối đi. Không còn phân biệt được bồn hoa với bãi cỏ nữa.

Nghe tiếng tôi lấy chân đá vào một cánh cửa chớp, một ông già bước ra từ một cửa bên, và có vẻ sững sờ khi thấy tôi. Tôi nhảy xuống ngựa và đưa ông lá thư. Ông đọc, đọc lại, lật đi lật lại, liếc nhìn tôi, nhét lá thư vào túi rồi nói:

"Thế ông cần gì?"

Tôi đáp cộc lốc:

"Ông phải biết chứ, vì ông đã nhận lệnh của chủ ông trong thư ấy rồi. Tôi muốn vào lâu đài."

Ông có vẻ bàng hoàng. Ông nói:

"Thế ra ông vào... vào phòng của ông chủ à?"

Tôi bắt đầu sốt ruột.

"Đúng thế! Nhưng chẳng lẽ ông lại định tra hỏi tôi đấy à?"

Ông lắp bắp:

"Không... thưa ông... nhưng ấy là vì... ấy là vì căn phòng chưa hề được mở từ... từ lúc... lúc bà mất. Nếu ông chờ tôi năm phút, tôi sẽ đi... đi xem..."

Tôi giận dữ ngắt lời:

"Này, ông đùa tôi đấy à? Ông làm sao mà vào được, khi chìa khoá ở đây."

Ông chẳng biết nói gì nữa.

"Thế thì, thưa ông, tôi sẽ chỉ đường cho ông."

"Ông chỉ cho tôi cầu thang rồi để tôi một mình. Không cần ông tôi cũng tìm được."

"Nhưng... thưa ông... dù sao thì..."

Lần này tôi nổi giận hẳn.

"Bây giờ thì ông im đi, nghe chưa? Không thì ông sẽ biết tay tôi."

Tôi gạt mạnh ông ra rồi bước vào trong nhà.

Trước tiên tôi đi qua nhà bếp, rồi hai căn phòng nhỏ mà ông lão ở cùng vợ. Rồi tôi qua một tiền sảnh lớn, lên cầu thang, và nhận ra cánh cửa mà bạn tôi đã chỉ.

Tôi mở cửa dễ dàng và bước vào.

Căn phòng tối tới mức thoạt tiên tôi chẳng nhìn thấy gì. Tôi dừng lại, bị cái mùi mốc meo và nhạt nhẽo của những gian phòng bỏ không, bị đóng kín, những căn phòng đã chết, xộc vào. Rồi dần dần mắt tôi quen với bóng tối, và tôi nhìn thấy khá rõ một căn phòng lớn bừa bộn, có một chiếc giường không trải khăn, nhưng vẫn còn nệm và gối. Một chiếc gối còn hằn sâu dấu một khuỷu tay hay một cái đầu, như thể có ai vừa tựa vào.

Những chiếc ghế như đang tán loạn. Tôi để ý thấy một cánh cửa, chắc là cửa tủ áo, đang khép hờ.

Trước tiên tôi tới bên cửa sổ để lấy ánh sáng, và tôi mở cửa kính. Nhưng bản lề sắt của cánh cửa chớp gỉ tới mức tôi không sao đẩy ra được.

Tôi còn thử lấy gươm phá, mà cũng không được. Vì bực mình với những cố gắng vô ích ấy, và vì mắt tôi rốt cuộc đã quen hẳn với bóng tối, tôi bỏ ý định nhìn cho rõ hơn và đi tới bàn giấy.

Tôi ngồi xuống một chiếc ghế bành, hạ mặt bàn xuống, mở ngăn kéo đã được chỉ. Nó đầy tới miệng. Tôi chỉ cần ba bó, mà tôi biết cách nhận ra, và tôi bắt đầu tìm.

Tôi đang căng mắt ra đọc những dòng chữ ngoài phong bì, thì tưởng như nghe thấy, hay đúng hơn là cảm thấy, có tiếng sột soạt sau lưng mình. Tôi không để ý, nghĩ rằng một luồng gió đã làm lay động tấm vải nào đó. Nhưng một phút sau, một cử động khác, gần như không phân biệt được, làm tôi khẽ rùng mình một cái khó chịu, lạ lùng. Thật là ngớ ngẩn nếu để mình xúc động, dù chỉ một chút, nên tôi không muốn quay lại, vì tự trọng. Lúc ấy tôi vừa tìm thấy bó thứ hai, và đúng lúc tôi đang tìm ra bó thứ ba, thì một tiếng thở dài lớn và nặng nề, phả ngay sát vai tôi, làm tôi nhảy vọt ra xa hai mét như một thằng điên. Trong cú nhảy ấy, tôi đã quay ngoắt lại, tay đặt lên chuôi gươm. Và chắc chắn, nếu không cảm thấy thanh gươm bên mình, tôi đã bỏ chạy như một kẻ hèn.

Một người đàn bà cao, mặc áo trắng, đang nhìn tôi, đứng sau chiếc ghế bành nơi tôi vừa ngồi một giây trước.

Một cơn chấn động chạy khắp chân tay tôi, tới mức tôi suýt ngã ngửa ra sau! Ôi! Không ai có thể hiểu được, trừ phi đã từng nếm trải, những nỗi kinh hoàng khủng khiếp và ngớ ngẩn ấy. Tâm hồn tan chảy. Người ta không còn cảm thấy tim mình nữa. Cả thân thể mềm nhũn như một miếng bọt biển. Cứ như thể tất cả bên trong ta đổ sụp xuống.

Tôi không tin có ma. Ấy thế mà tôi đã gục ngã trước nỗi sợ người chết ghê tởm. Và tôi đã đau khổ, ôi, đau khổ trong mấy khoảnh khắc ấy còn hơn cả suốt phần đời còn lại, trong nỗi khắc khoải không cưỡng lại được của những kinh hoàng siêu nhiên.

Nếu nàng không lên tiếng, có lẽ tôi đã chết! Nhưng nàng đã nói. Nàng nói bằng một giọng dịu dàng và đau đớn làm rung lên mọi dây thần kinh. Tôi không dám nói rằng tôi đã trấn tĩnh lại được và tìm lại được lý trí. Không. Tôi hoảng loạn tới mức không còn biết mình đang làm gì. Nhưng cái thứ tự trọng thầm kín trong tôi, và cả một chút kiêu hãnh nhà binh nữa, khiến tôi, gần như bất chấp chính mình, vẫn giữ được một dáng vẻ đàng hoàng. Tôi làm điệu bộ cho chính mình, và hẳn là cho cả nàng nữa, cho nàng, dù nàng là ai, đàn bà hay bóng ma. Mãi về sau tôi mới nhận ra tất cả những điều ấy, vì tôi cam đoan với các bà rằng vào khoảnh khắc nàng hiện ra, tôi chẳng nghĩ được gì. Tôi sợ.

Nàng nói:

"Ôi! Thưa ông, ông có thể giúp tôi một việc lớn!"

Tôi muốn đáp lời, nhưng không sao thốt ra được một tiếng. Một âm thanh mơ hồ bật ra từ cổ họng tôi.

Nàng nói tiếp:

"Ông có muốn không? Ông có thể cứu tôi, chữa cho tôi. Tôi đau khổ khủng khiếp. Tôi đau khổ mãi mãi. Tôi đau, ôi, tôi đau quá!"

Rồi nàng nhẹ nhàng ngồi xuống chiếc ghế bành của tôi. Nàng nhìn tôi:

"Ông có muốn không?"

Tôi gật đầu ra hiệu "có", vì giọng tôi vẫn còn tê liệt.

Thế là nàng chìa cho tôi một chiếc lược đồi mồi của đàn bà và thì thầm:

"Chải tóc cho tôi, ôi, chải tóc cho tôi đi. Như thế tôi sẽ khỏi. Phải có người chải tóc cho tôi. Ông nhìn đầu tôi này... Tôi đau đớn làm sao. Và tóc tôi, nó làm tôi đau biết bao!"

Mái tóc xoã của nàng, rất dài, rất đen, tôi tưởng thế, buông qua lưng ghế bành và chạm tới đất.

Vì sao tôi đã làm điều ấy? Vì sao tôi run rẩy nhận lấy chiếc lược, và vì sao tôi đã cầm trong tay mái tóc dài ấy, mái tóc làm da tôi lạnh buốt khủng khiếp như thể tôi đang cầm những con rắn? Tôi không biết nữa.

Cảm giác ấy còn đọng lại trên những ngón tay tôi, và nghĩ tới là tôi lại rùng mình.

Tôi chải tóc cho nàng. Tôi cầm lấy mái tóc băng giá ấy, chẳng biết bằng cách nào. Tôi xoắn nó lại, tôi buộc rồi lại tháo ra. Tôi tết nó như người ta tết bờm ngựa. Nàng thở dài, nghiêng đầu, như đang hạnh phúc.

Bỗng nàng nói với tôi: "Cảm ơn!", giật chiếc lược khỏi tay tôi, rồi chạy biến qua cánh cửa mà tôi đã để ý thấy khép hờ.

Còn lại một mình, trong mấy giây tôi rơi vào cái trạng thái bàng hoàng bối rối của người vừa tỉnh dậy sau cơn ác mộng. Rồi cuối cùng tôi cũng tỉnh lại. Tôi chạy tới cửa sổ, dồn sức đẩy một cú điên cuồng làm vỡ toang cánh cửa chớp.

Một luồng sáng ùa vào. Tôi lao tới cánh cửa mà sinh vật kia đã đi qua. Tôi thấy nó đóng chặt, không sao lay chuyển được.

Thế là một cơn sốt muốn chạy trốn xâm chiếm lấy tôi, một cơn hoảng loạn, đúng cơn hoảng loạn ngoài chiến trận. Tôi vơ vội ba bó thư trên bàn giấy đang mở, chạy băng qua căn phòng, nhảy xuống cầu thang bốn bậc một, ra tới ngoài lúc nào chẳng biết, và thấy con ngựa của mình cách mười bước, tôi nhảy phắt lên lưng nó mà phi nước đại.

Tôi chỉ dừng lại khi tới Ru-ăng, trước cửa nhà mình. Quăng dây cương cho người lính hầu, tôi chạy vội vào phòng, đóng chặt cửa lại để suy nghĩ.

Thế là suốt một giờ, tôi lo lắng tự hỏi phải chăng tôi đã là trò đùa của một ảo giác. Chắc chắn tôi đã bị một trong những cơn chấn động thần kinh không thể hiểu nổi, một trong những cơn rối loạn của bộ óc vẫn đẻ ra những phép màu, những thứ đã làm nên sức mạnh của cái Siêu nhiên.

Và tôi sắp tin rằng đó là một ảo ảnh, một sự lầm lẫn của giác quan, thì tôi lại gần cửa sổ. Mắt tôi tình cờ nhìn xuống ngực. Chiếc áo quân phục của tôi đầy tóc, những sợi tóc dài của đàn bà đã quấn vào các khuy áo!

Tôi gỡ từng sợi một, rồi ném ra ngoài, ngón tay run lẩy bẩy.

Rồi tôi gọi người lính hầu. Tôi thấy mình quá xúc động, quá bối rối để tới nhà bạn ngay trong ngày. Vả lại tôi muốn suy nghĩ chín chắn xem nên nói gì với anh.

Tôi sai người mang thư tới cho anh, anh đưa người lính tờ biên nhận. Anh hỏi han nhiều về tôi. Người ta bảo anh rằng tôi bị mệt, bị cảm nắng, gì đó. Anh có vẻ lo lắng.

Hôm sau, ngay từ lúc rạng đông, tôi tới nhà anh, quyết nói với anh sự thật. Anh đã đi từ tối hôm trước và chưa về.

Tôi quay lại trong ngày, người ta vẫn chưa thấy anh. Tôi chờ một tuần. Anh không xuất hiện. Thế là tôi báo cho nhà chức trách. Người ta cho đi tìm anh khắp nơi, mà không phát hiện được một dấu vết nào cho biết anh đã đi qua đâu, hay ẩn náu ở đâu.

Người ta khám xét tỉ mỉ toà lâu đài bỏ hoang. Chẳng phát hiện được gì đáng ngờ.

Không có dấu hiệu nào cho thấy đã có một người đàn bà được giấu ở đó.

Cuộc điều tra chẳng đi tới đâu, việc tìm kiếm bị đình lại.

Và năm mươi sáu năm nay, tôi chẳng biết thêm được gì. Tôi không biết gì hơn nữa.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGuy de Maupassant (1850 – 1893)
Năm mất1893
Xuất bản lần đầu1883
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Apparition, 1883, tập Clair de lune, 1884
Giọng đọcBảo Thiện — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →