Đời Hán Văn Đế, trong triều có một sủng thần tên Đặng Thông. Ra ngoài thì theo xe vua, đi ngủ thì chung giường, ân sủng không ai bằng. Bấy giờ có bà thầy tướng giỏi là Hứa Phụ xem mặt Đặng Thông, thấy có một đường vân dọc chạy vào miệng, phán rằng người này ắt phải nghèo đói mà chết. Văn Đế nghe vậy, giận nói:
— Giàu sang là do ta! Ai làm cho Đặng Thông nghèo được?
Rồi ban cho Đặng Thông núi đồng ở đất Thục, cho được tự đúc tiền. Bấy giờ tiền họ Đặng tràn khắp thiên hạ, giàu ngang một nước.
Một hôm Văn Đế bỗng mọc một cái nhọt độc, mủ máu chảy ra, đau không chịu nổi. Đặng Thông quỳ xuống mút nhọt cho vua, Văn Đế thấy dễ chịu, bèn hỏi:
— Trong thiên hạ ai thương nhau nhất?
Đặng Thông đáp:
— Không ai bằng cha con.
Vừa hay hoàng thái tử vào cung thăm bệnh, Văn Đế cũng bảo thái tử mút nhọt. Thái tử chối:
— Thần vừa ăn gỏi cá tươi, e không nên gần chỗ đau của thánh thượng.
Thái tử ra khỏi cung rồi, Văn Đế than:
— Thương nhau nhất là cha con, vậy mà con còn không chịu mút nhọt cho ta. Đặng Thông thương ta hơn cả con ta.
Từ đó càng thêm ân sủng. Hoàng thái tử nghe được câu ấy, rất căm chuyện Đặng Thông mút nhọt. Về sau Văn Đế mất, thái tử lên ngôi, tức là Cảnh Đế, liền trị tội Đặng Thông, bảo hắn mút nhọt để nịnh vua, làm rối phép tiền tệ, tịch thu gia sản, nhốt vào một gian nhà trống, không cho ăn uống. Đặng Thông quả nhiên chết đói.
Lại thời Hán Cảnh Đế, thừa tướng Chu Á Phu cũng có đường vân dọc chạy vào miệng. Cảnh Đế kỵ uy danh của ông, kiếm cớ bắt tội, giam vào ngục. Á Phu oán hận, nhịn ăn mà chết. Hai người ấy giàu sang tột bậc, phạm vào tướng chết đói, quả nhiên không được chết lành.
Tuy vậy, lại có một thuyết, rằng tướng mặt không bằng tướng lòng. Như người có tướng quý bậc nhất mà làm việc trái lương tâm, tổn âm đức, thì trái lại chẳng có kết cục tốt. Lại có người mang tướng xấu, nhưng nhờ lòng ngay thẳng, chịu tích âm công, thì hoạ hoá thành phúc. Ấy là người định thắng trời, chứ chẳng phải phép xem tướng không thiêng.
Nay kể đời Đường có Bùi Độ. Lúc trẻ ông nghèo khó, chưa gặp thời. Có người xem tướng thấy đường vân dọc của ông chạy vào miệng, theo phép thì phải chết đói. Về sau ông đi chơi chùa Hương Sơn, nhặt được trên lan can đình giếng ba chiếc đai báu. Bùi Độ tự nghĩ: "Đây là của người khác đánh rơi, ta sao có thể hại người lợi mình mà hỏng lòng dạ?" Bèn ngồi đó canh giữ.
Một lát sau, thấy một người đàn bà khóc lóc đi tới, nói:
— Cha già tôi bị tù, tôi vay được ba chiếc đai báu định đem chuộc tội. Tình cờ vào chùa rửa tay thắp hương, đánh rơi ở đây. Nếu ai nhặt được, xin thương mà trả lại, để giữ mạng cho cha già tôi.
Bùi Độ liền trao ba chiếc đai báu cho người đàn bà. Người đàn bà lạy tạ mà đi.
Hôm khác, ông lại gặp người thầy tướng kia. Thầy tướng kinh ngạc nói:
— Cốt tướng của túc hạ đã đổi hẳn, không còn cái tướng chết đói như hôm trước. Chẳng phải túc hạ đã làm việc âm đức gì sao?
Bùi Độ nói không có. Thầy tướng nói:
— Túc hạ thử nghĩ lại, ắt có việc cứu người chết đuối, cứu người trong lửa.
Bùi Độ bèn kể chuyện trả đai. Thầy tướng nói:
— Ấy là âm công lớn. Mai sau túc hạ giàu sang vẹn cả, xin chúc mừng trước.
Về sau Bùi Độ quả nhiên đỗ đạt, làm đến tể tướng, sống đến tám chín mươi tuổi. Thật đúng là tướng mặt không bằng tướng lòng, làm người phải tích âm công.
Người kể chuyện xin nói: các vị chỉ biết Bùi Tấn công nhờ tích âm đức mà được giàu sang, nào ai biết sau khi giàu sang, âm đức của ông lại càng nhiều hơn. Nay xin nghe chuyện ông trả vợ cho người, cũng thật là hiếm có.
Đời vua Đường Hiến Tông, năm Nguyên Hoà thứ mười ba, Bùi Độ đem quân dẹp yên tên phản tặc Ngô Nguyên Tế ở Hoài Tây, về triều được phong làm tể tướng đứng đầu, tước Tấn quốc công. Lại có hai trấn lâu nay cậy hiểm chống lệnh, đều sợ uy danh Bùi Độ, dâng biểu nộp đất chuộc tội. Vua Hiến Tông thấy giặc ngoài dần yên, thiên hạ vô sự, bèn sửa điện Long Đức, nạo ao Long Thủ, dựng điện Thừa Huy, xây cất rầm rộ. Lại nghe lời đạo sĩ Liễu Bí, luyện thuốc trường sinh. Bùi Độ nhiều lần can ngăn thẳng thắn, vua đều không nghe.
Bọn nịnh thần Hoàng Phủ Bác coi việc tiền của, Trình Dị coi việc muối sắt, chuyên vơ vét của dân, gọi là tiền dư, để cung cấp cho những khoản tiêu pha vô ích. Vì thế được lòng vua, hai tên nịnh thần đều được làm đồng tể tướng. Bùi Độ thẹn phải đứng chung hàng với chúng, dâng biểu xin lui. Vua không cho, trái lại còn bảo Bùi Độ thích kết bè đảng, dần sinh lòng ngờ.
Bùi Độ tự nghĩ công danh mình quá thịnh, chỉ sợ mắc tội, bèn miệng không bàn việc triều đình, suốt ngày vui với rượu và ca múa, để hưởng tuổi già. Quan các châu quận bốn phương thường đi tìm ca nhi vũ nữ đem dâng vào phủ tể tướng, chẳng phải một lần. Nói cho đúng, Bùi Tấn công đâu cần ai dâng. Chỉ là bọn a dua nịnh hót muốn lấy lòng tướng quốc, tự nhiên bỏ giá cao đi mua. Cũng có kẻ dùng sức ép lấy, rồi cho mặc áo đẹp đeo trang sức, hoặc giả làm ca nữ trong nhà, hoặc nói là người hầu, sai người ân cần đưa đến. Bùi Tấn công người đến không từ chối, cũng đành nhận cả.
Lại nói ở huyện Vạn Tuyền, Tấn Châu, có một người họ Đường, tên Bích, tự là Quốc Bảo, từng đỗ khoa hiếu liêm, lần đầu làm quan Huyện uý ở huyện Long Tuyền, Quát Châu, lần thứ hai làm Huyện thừa ở Cối Kê, Việt Châu. Lúc còn ở quê, chàng đã đính hôn với con gái ông Hoàng thái học người cùng làng, tên Tiểu Nga. Vì Tiểu Nga còn nhỏ, phải đợi thêm mấy năm mới cưới. Đến khi nàng lớn, Đường Bích hai lần làm quan đều ở phương nam, vì thế lần lữa mãi, chưa thành vợ chồng.
Tiểu Nga năm ấy mười tám tuổi, mặt đẹp như hoa, người như ngọc tạc, lại thông âm luật, sáo tiêu, tì bà, thứ gì cũng giỏi. Quan Thứ sử Tấn Châu chỉ lo nịnh Bùi Tấn công, muốn chọn trong địa hạt một đội ca nữ xinh đẹp đem dâng. Đã có năm người, còn thiếu một người xuất sắc đứng đầu. Nghe tiếng Hoàng Tiểu Nga, lại nghĩ là con gái nhà thái học, không dễ gì có được, hắn bèn bỏ ra ba mươi vạn tiền, nhờ quan huyện Vạn Tuyền lo việc.
Quan huyện cũng muốn nịnh quan Thứ sử, sai người đến nhà ông Hoàng thái học ngỏ ý. Ông Hoàng đáp:
— Con gái tôi đã nhận sính lễ nhà người ta rồi, không dám vâng lệnh.
Quan huyện ép mãi, ông Hoàng nhất định không chịu. Gặp tiết Thanh minh, cả nhà ông Hoàng đi tảo mộ, chỉ để Tiểu Nga ở nhà. Quan huyện dò biết chắc chắn, bèn thân đến nhà họ Hoàng, lục ra Tiểu Nga, cho kiệu khiêng đi, sai hai bà đỡ đi kèm, đưa ngay đến chỗ quan Thứ sử Tấn Châu giao nhận. Lại ném bừa ba mươi vạn tiền ở nhà ông, coi như tiền bán người.
Đến khi ông Hoàng về, biết con gái bị quan huyện cướp đi, vội lên huyện, thì đã biết là đưa lên châu rồi. Lại đến Tấn Châu, đem tình cảnh van xin quan Thứ sử. Quan Thứ sử nói:
— Con gái ông tài sắc hơn người, một khi vào phủ tướng quốc ắt được sủng ái. Chẳng hơn làm vợ người khác sao? Vả lại ông đã nhận sính lễ của ta sáu mươi vạn tiền, sao không đem tặng con rể ông, để hắn tìm đám khác?
Ông Hoàng nói:
— Quan huyện nhân lúc tôi đi tảo mộ, bỏ tiền lại nhà, tôi chưa từng tận tay nhận. Vả lại chỉ có ba mươi vạn, nay tôi mang cả đến đây. Tôi chỉ xin nhận lại con, không xin nhận tiền.
Quan Thứ sử đập bàn giận dữ:
— Ngươi được tiền bán con, lại giấu đi ba mươi vạn, còn đến đây lải nhải, là lẽ gì? Con gái ngươi đã đưa vào phủ Tấn quốc công rồi, ngươi tự đến phủ tướng quốc mà đòi, ở đây vô ích.
Ông Hoàng thấy quan Thứ sử nổi giận, nói lời vu vạ, không dám mở miệng nữa, hai mắt ngấn lệ mà lui ra. Ông ở lại Tấn Châu mấy ngày, mong được gặp con một lần, nhưng bặt tin. Thở dài một tiếng, đành về huyện.
Lại nói quan Thứ sử bỏ nghìn vàng mua quần áo lạ, châu báu chuỗi ngọc, trang điểm cho sáu người đẹp như tiên trên trời, đủ bộ nhạc cụ, ngày ngày tập luyện trong nha. Đợi gần đến ngày sinh nhật Tấn quốc công, sai người đưa đến làm quà mừng. Quan Thứ sử tốn bao tâm cơ, tốn bao tiền của, chỉ mong tướng quốc vui lòng. Nào ngờ trong phủ tướng quốc ca múa đã thành hàng, mỹ nữ các trấn dâng lên nhiều không kể xiết. Sáu người này chỉ góp thêm cho đông vui, tướng quốc nào để vào mắt, nào để vào lòng. Xưa nay đi nịnh mà lỗ vốn, đều như vậy cả. Cắt thịt khoét da mua vui cho người trên, nghìn vàng không tiếc để sắm ca múa, tướng công nhìn quen coi như chuyện thường, thật xấu hổ cho quan châu với quan huyện!
Chuyện chia hai ngả. Lại nói Đường Bích làm quan ở Cối Kê mãn hạn, đến lúc được thăng. Chàng nghĩ Hoàng Tiểu Nga nay đã lớn, nên về nhà cưới vợ trước, rồi lên kinh cũng chưa muộn. Chàng thu xếp hành lý, đi về huyện Vạn Tuyền. Về đến nhà, hôm sau đến ra mắt bố vợ là ông Hoàng thái học. Ông Hoàng đã biết là vì chuyện cưới xin, không đợi chàng mở lời, đã đem chuyện con gái bị cướp kể lại tỉ mỉ từng điều.
Đường Bích nghe xong, ngây người hồi lâu, nghiến răng căm hận:
— Đại trượng phu lênh đênh chốn quan nhỏ, đến một người vợ cũng không giữ nổi, sống làm gì nữa?
Ông Hoàng khuyên:
— Con rể tuổi trẻ có tài, tự có nhân duyên tốt đến với con. Con gái ta không có phúc theo con, gặp phải bọn hung bạo ấy, con đừng quá đau lòng mà lỡ tiền đồ.
Đường Bích giận chưa nguôi, muốn đến chỗ quan châu, quan huyện mà tranh cãi. Ông Hoàng lại khuyên:
— Người đã đi rồi, tranh cãi có ích gì? Huống chi lại dính đến Bùi tướng quốc. Ông ấy nay dưới một người trên vạn người, nếu làm ông ấy phật lòng, e bất lợi cho tiền đồ của con.
Ông bèn khiêng ba mươi vạn tiền quan huyện để lại ra, giao cho Đường Bích, nói:
— Lấy tiền này mà lo việc cưới vợ khác. Ngày trước nhà con có đưa một chiếc vòng ngọc biếc chạm thủng làm sính lễ, nó đeo theo người rồi, không trả lại được. Con phải nghĩ tiền đồ là trọng, đừng vì vấp ngã nhỏ mà hỏng việc lớn.
Đường Bích nước mắt giàn giụa, đáp:
— Con gần ba mươi tuổi, lại mất người vợ tốt này, chuyện vợ chồng cả đời coi như thôi rồi. Danh nhỏ như sừng ốc, lợi nhỏ như đầu ruồi, chính là thứ làm hại người. Từ nay con cũng chẳng nghĩ đến chuyện tiến thân nữa!
Nói xong bất giác khóc oà. Ông Hoàng cũng đau lòng, hai người khóc một trận mới thôi. Đường Bích đâu chịu nhận số tiền ấy, tay không mà về.
Hôm sau ông Hoàng thân đến nhà Đường Bích, khuyên giải mãi, giục chàng sớm lên kinh chờ bổ nhiệm, có chức quan rồi hãy thong thả tính chuyện vợ con. Đường Bích lúc đầu không chịu, bị bố vợ ép mấy ngày liền, nghĩ bụng: "Ở nhà cũng buồn bực, hãy lên Trường An một chuyến cho khuây." Chàng gượng chọn ngày lành, thuê thuyền lên đường. Bố vợ lén đặt ba mươi vạn tiền vào thuyền, dặn riêng người hầu:
— Thuyền đi được hai ngày rồi mới được thưa với chủ, mang lên kinh mà tiêu, để xin được một chỗ tốt.
Đường Bích thấy số tiền ấy, lại đau lòng một trận, dặn người hầu già:
— Đây là tiền nhà họ Hoàng bán con gái, một đồng cũng không được động đến!
Đi đường chẳng mấy ngày, đến Trường An. Chàng thuê người gánh hành lý, trọ ở một quán gần phủ Bùi tướng quốc, sớm tối đi lại trước phủ để dò tin Tiểu Nga. Qua một đêm, sáng hôm sau đến bộ Lại báo danh, nộp sổ ghi các lần làm quan, được xét xong. Về quán ăn cơm, rồi lại đến trước cửa phủ tướng quốc chờ, mỗi ngày ít nhất cũng đi qua đi lại chục lượt. Ở hơn một tháng mà chẳng lọt được nửa chữ vào trong. Quan lại ra vào đông như kiến, ai dám bước lên hỏi một câu về chuyện không đầu không đuôi ấy! Thật đúng là một khi đã vào cửa nhà quyền quý thì sâu như biển, từ đó người xưa thành kẻ qua đường.
Một hôm bộ Lại yết bảng, Đường Bích được bổ làm Lục sự tham quân ở Hồ Châu. Hồ Châu cũng ở phương nam, là đất quen thuộc, Đường Bích cũng mừng. Đợi có sắc lệnh rồi, chàng thu xếp hành lý, thuê thuyền ra khỏi kinh.
Đi đến đất Đồng Tân thì gặp một bọn cướp. Xưa nay vẫn nói cất của không kín là dạy kẻ trộm. Chỉ vì ba mươi vạn tiền mang đi mang lại, lọt vào mắt kẻ tiểu nhân, khơi lòng tham, chúng kết bè làm việc ấy. Bọn cướp theo từ ngoài thành kinh đến tận Đồng Tân, ngầm thông đồng với lái thuyền, đợi đêm khuya cùng ra tay.
Cũng là số Đường Bích chưa đến lúc chết. Chàng đang ra mũi thuyền đi tiểu, thấy tình thế không ổn, vội nhảy xuống nước, bơi lên bờ chạy thoát. Chỉ nghe bọn cướp làm loạn một hồi, chống cả thuyền đi mất. Người hầu già sống chết thế nào cũng không biết. Hành lý trên thuyền bị cướp sạch, chỉ còn trơ cái thân. Thật đúng là nhà dột lại gặp mưa suốt đêm, thuyền chậm lại gặp gió ngược! Ba mươi vạn tiền và hành lý còn là chuyện nhỏ. Còn sổ ghi các lần làm quan và tờ sắc lệnh, là giấy tờ để đi nhận chức, cũng mất cả, đến quan cũng không làm được nữa.
Đường Bích lúc ấy thật là kêu trời không thấu, kêu đất không nghe, nghĩ: "Ta sao mà gặp thời rủi vận xấu đến thế, chẳng nên việc gì! Muốn về quê thì còn mặt mũi nào? Muốn lên kinh lần nữa, đến bộ Lại kêu xin, thì trong người không có một đồng lộ phí, biết làm sao? Ở đây lại không có người quen để vay mượn, chẳng lẽ đi ăn xin?" Định nhảy sông mà chết, lại nghĩ: "Một tấm thân đường đường, chẳng lẽ kết thúc như thế?" Chàng ngồi bên đường, nghĩ rồi lại khóc, khóc rồi lại nghĩ, tính trước tính sau chẳng có cách nào, từ nửa đêm khóc đến sáng.
Mừng thay cùng đường lại gặp lối sống, có một ông lão chống gậy đi tới, hỏi:
— Quan nhân vì sao khóc lóc thế?
Đường Bích kể lại chuyện đi nhận chức bị cướp. Ông lão nói:
— Thì ra là một vị đại nhân, thất kính quá. Nhà lão ở gần đây, xin mời ngài ghé chân.
Ông lão dẫn Đường Bích đi chừng một dặm, đến nhà, lại làm lễ chào hỏi. Ông lão nói:
— Lão họ Tô, con trai lão tên Tô Phượng Hoa, hiện làm Huyện uý huyện Vũ Nguyên ở Hồ Châu, chính là thuộc hạ của đại nhân. Đại nhân lên kinh, lão xin giúp chút lộ phí.
Ông vội bày cơm rượu khoản đãi, lấy ra một bộ áo mới cho Đường Bích thay, lại đưa hai mươi lạng bạc làm tiền đi đường. Đường Bích cảm tạ mãi, từ biệt ông Tô, một mình lên đường, lại về trọ ở quán cũ trong kinh. Chủ quán nghe chuyện chàng bị nạn dọc đường, cũng thương xót lắm.
Đường Bích đến cửa bộ Lại, trình bày tình cảnh. Quan bộ Lại bảo sắc lệnh, sổ sách đều mất cả, chẳng có bằng cớ gì, khó phân thật giả. Chàng van xin liền năm ngày cũng không được chấp nhận. Bạc trong người đều tiêu hết vào việc chạy chọt ở nha môn. Về quán, chàng chỉ biết kêu khổ, ngồi buồn rầu, nước mắt lưng tròng.
Chợt thấy bên ngoài có một người, tuổi chừng ngoài năm mươi, đầu đội mũ the cánh mềm, mình mặc áo ngắn màu tía, đai thẳng giày đen, trông như một viên quan võ hầu cận, thong thả bước vào quán. Thấy Đường Bích, ông vái chào, ngồi đối diện, hỏi:
— Túc hạ người phương nào, đến đây có việc gì?
Đường Bích nói:
— Quan nhân không hỏi thì thôi, hỏi đến tôi thì một lúc kể không hết nỗi khổ trong lòng!
Lời chưa dứt, nước mắt đã lã chã rơi. Người áo tía nói:
— Túc hạ có điều gì không vui? Cứ kể kỹ ra, biết đâu ta cùng bàn được.
Đường Bích nói:
— Tôi họ Đường, tên Bích, người huyện Vạn Tuyền, Tấn Châu. Mới được bổ làm Lục sự tham quân Hồ Châu, không ngờ đi đến Đồng Tân bỗng gặp cướp, tiền nong sạch trơn. Sổ sách và sắc lệnh đều mất cả, không đi nhận chức được.
Người áo tía nói:
— Giữa đường bị cướp, đâu phải lỗi túc hạ. Sao không đem tình cảnh ấy trình bộ Lại, xin cấp lại giấy tờ, có gì trở ngại?
Đường Bích nói:
— Mấy lần van xin, không được thương xót, khiến tôi đi không được ở không xong, chẳng có cửa nào mà kêu.
Người áo tía nói:
— Bùi Tấn công trong triều vẫn có lòng trắc ẩn, rất chịu giúp người gặp nạn. Túc hạ sao không đến cầu ông ấy?
Đường Bích nghe vậy, càng khóc thảm hơn:
— Quan nhân đừng nhắc đến ba chữ Bùi Tấn công, khiến lòng tôi như cắt.
Người áo tía giật mình hỏi:
— Sao túc hạ lại nói thế?
Đường Bích nói:
— Từ nhỏ tôi đã đính hôn với một người, vì nhiều lần làm quan phương nam nên chưa cưới. Rồi bị quan châu và quan huyện dùng sức cướp đi, ghép vào một đội ca nữ dâng lên Tấn công, khiến tôi đang tuổi tráng niên mà không có vợ. Việc ấy tuy không phải do Tấn công, nhưng Tấn công nhận lời nịnh của người ta, khiến phủ huyện tranh nhau dâng nạp, rõ ràng cũng như ông ấy chia rẽ vợ chồng tôi. Hôm nay tôi sao nỡ đến gặp ông ấy?
Người áo tía hỏi:
— Người túc hạ đính hôn họ tên là gì? Ngày trước lấy gì làm sính lễ?
Đường Bích nói:
— Nàng họ Hoàng, tên Tiểu Nga, sính lễ là chiếc vòng ngọc biếc chạm thủng, hiện nàng còn giữ.
Người áo tía nói:
— Ta là người hầu thân tín của Tấn công, được ra vào nhà trong, sẽ dò hỏi giúp túc hạ.
Đường Bích nói:
— Một khi đã vào cửa nhà quyền quý thì không còn ngày gặp lại. Chỉ mong quan nhân chuyển giúp tôi một lời, cho nàng biết lòng tôi, tôi chết cũng nhắm mắt.
Người áo tía nói:
— Giờ này ngày mai, nhất định có tin tốt báo túc hạ.
Nói xong, chắp tay chào, thong thả bước ra cửa.
Đường Bích nghĩ đi nghĩ lại, bỗng hối hận: "Viên quan áo tía ấy chắc là người thân tín của Tấn công, được sai ra ngoài dò la. Vừa rồi ta không nên bàn tán về ông ấy mấy câu, lời lẽ có ý oán trách. Nếu hắn thuật lại cho Tấn công biết, làm ông ấy nổi giận, tai hoạ không nhỏ!" Trong lòng không yên, cả đêm không chợp mắt.
Mong mãi đến sáng, rửa mặt xong, chàng liền đến phủ Bùi dò xem. Chỉ nghe nói lệnh công đang nghỉ ở phủ, không ra nhà ngoài. Tuy vậy vẫn có nhiều giấy tờ qua lại, trong ngoài chạy không ngớt, chỉ không thấy người áo tía hôm qua. Đợi hồi lâu, về quán ăn chút cơm trưa, lại đến chờ, vẫn không có động tĩnh gì. Trời sắp tối, rõ ràng người áo tía đã nói sai, thất hứa rồi. Than thở mấy tiếng, chàng buồn bã lủi thủi về quán.
Vừa định thắp đèn, bỗng thấy ngoài có hai người ăn mặc như thư lại, hấp tấp bước vào quán, hỏi:
— Vị nào là Đường tham quân?
Đường Bích sợ quá nấp sang một bên, không dám lên tiếng. Chủ quán đi ra hỏi:
— Hai vị là ai?
Hai người đáp:
— Chúng tôi là thư lại trong phủ Bùi, vâng lệnh của lệnh công đến mời Đường tham quân vào phủ nói chuyện.
Chủ quán chỉ:
— Vị này đây.
Đường Bích đành bước ra chào, nói:
— Tôi với lệnh công xưa nay chưa từng ra mắt, cớ sao lại cho gọi? Vả lại tôi đang mặc áo thường, sao dám đường đột!
Thư lại nói:
— Lệnh công đang chờ, tham quân đừng từ chối.
Hai người mỗi bên đỡ một nách, chạy như bay vào phủ. Đến nhà trên, họ bảo:
— Tham quân ngồi tạm, để chúng tôi vào bẩm lệnh công rồi ra mời.
Hai thư lại đi vào. Chẳng bao lâu, nghe chạy ra, nói:
— Lệnh công đang nghỉ ở nhà trong, mời vào gặp.
Đi quanh co qua bao nhiêu lối, chỗ nào cũng thắp đèn nến sáng rực như ban ngày. Hai thư lại người trước người sau dẫn đường, đến một gian sảnh nhỏ. Chỉ thấy hai hàng đèn lồng the xếp thẳng, lệnh công đội khăn vuông, mặc áo thường, đứng chắp tay chờ. Đường Bích vội quỳ lạy dưới đất, mồ hôi ướt đẫm lưng, không dám ngẩng lên. Lệnh công sai đỡ dậy, nói:
— Mời ở nhà riêng, cần gì đa lễ!
Rồi bảo đặt ghế. Đường Bích nhún nhường một hồi, ngồi xuống một bên, lén nhìn lệnh công, thì đúng là người áo tía hôm qua gặp ở quán. Chàng càng thêm hoảng sợ, mồ hôi toát ra hai tay, cúi gằm mặt, đến thở cũng không dám thở mạnh.
Thì ra Bùi lệnh công lúc rảnh thường đi dạo ngoài phố một mình, hôm qua tình cờ vào quán, gặp Đường Bích. Về phủ, ông liền tra tên Hoàng Tiểu Nga, gọi đến gặp, quả nhiên rất có nhan sắc. Lệnh công hỏi lai lịch, nàng kể khớp với lời Đường Bích. Lại bảo đưa chiếc vòng ngọc biếc ra xem, thì thấy nàng vẫn đeo chặt trên cánh tay. Lệnh công rất thương xót, hỏi:
— Chồng con đang ở đây, con có muốn gặp không?
Tiểu Nga rơi nước mắt nói:
— Má hồng phận bạc, con đã tự liệu là dứt hẳn rồi. Gặp hay không gặp là quyền ở lệnh công, con đâu dám tự quyết.
Lệnh công gật đầu, cho nàng lui. Rồi lén dặn quan coi việc trong phủ sắm một nghìn quan đồ đạc tiền nong. Lại lấy một tờ sắc lệnh để trống, điền tên Đường Bích, sai người đến bộ Lại tra lại các lần làm quan trước và giấy bổ nhiệm Tham quân Hồ Châu mới nhận, xin cấp lại đầy đủ. Mọi việc đâu vào đấy, mới cho mời Đường Bích vào phủ. Đường Bích cả bụng hoảng hốt, nào biết lệnh công đầy một lòng tốt.
Hôm ấy lệnh công mở lời:
— Hôm qua nghe túc hạ kể, lòng ta thật xót thương. Lão phu không ngăn được việc người ta biếu xén, đến nỗi túc hạ lâu ngày không được vui chuyện vợ chồng, ấy là tội của lão phu.
Đường Bích rời chỗ ngồi sụp lạy:
— Kẻ hèn gặp cảnh điên đảo, tâm thần rối loạn. Hôm qua lời lẽ mạo phạm, tự biết tội đáng chết, xin tướng công rộng lượng bao dung!
Lệnh công mời đứng dậy, nói:
— Hôm nay ngày tốt, lão phu xin tạm làm chủ hôn, cho túc hạ thành thân ngay. Có chút lộ phí nghìn quan xin giúp, gọi là tỏ ý chuộc tội. Thành thân rồi thì vợ chồng cùng đi nhận chức.
Đường Bích chỉ biết lạy tạ, cũng không dám hỏi thêm chuyện đi nhận chức. Chỉ nghe trong nhà vang lên một tràng nhạc trong trẻo, mấy đôi đèn đỏ, một đội nữ nhạc đi trước dẫn đường, mấy bà quản ca và vú già vây quanh đưa ra một Hoàng Tiểu Nga như hoa như ngọc. Đường Bích hoảng hốt định lánh đi. Bà già nói:
— Xin mời hai vị tân nhân làm lễ ngay tại đây.
Vú già trải thảm đỏ. Hoàng Tiểu Nga với Đường Bích đứng thành một đôi, lạy lên trên bốn lạy, lệnh công đứng bên đáp lễ. Đã có kiệu chờ sẵn ngoài sảnh, đưa Tiểu Nga lên kiệu, khiêng thẳng về quán trọ. Lệnh công dặn Đường Bích:
— Mau về quán trọ, đừng lỡ giờ lành.
Đường Bích chạy về quán, chỉ nghe người ta bàn tán ồn ào. Ngẩng nhìn thì lụa là đầy hòm, tiền vàng đầy rương bày la liệt. Chính hai thư lại lúc nãy đang canh giữ, chỉ đợi Đường Bích về để tự tay giao nhận. Lại có một cái hộp nhỏ do chính lệnh công niêm phong. Mở ra xem, bên trong là sắc phong, lại bổ làm Tư hộ tham quân Hồ Châu. Đường Bích mừng khôn xiết. Đêm ấy chàng cùng Hoàng Tiểu Nga lấy ngay quán trọ làm phòng hoa chúc. Niềm vui đêm ấy, so với những đám cưới thường còn đắc ý hơn bội phần.
Đường Bích lúc ấy có vợ có quan, lại có nghìn quan tiền của, rõ ràng như con ma khổ ở mười tám tầng địa ngục bay thẳng lên ba mươi ba tầng trời. Nếu không có Bùi lệnh công lòng nhân hào phóng, ai chịu lo cho người ta được vẹn đủ mười phần như thế?
Hôm sau, Đường Bích lại đến phủ Bùi tạ ơn. Lệnh công đã dặn trước người gác cổng từ chối:
— Không cần phiền gặp lại nữa.
Đường Bích về quán, sửa lại mũ áo, sắm lại hành trang, mua mấy đứa đầy tớ ở kinh theo hầu. Hai vợ chồng về quê, ra mắt bố vợ là ông Hoàng thái học, như cây khô gặp xuân, dây đàn đứt được nối lại, mừng vui vô hạn. Qua mấy ngày, vợ chồng cùng đi Hồ Châu nhận chức. Cảm ơn Bùi lệnh công, chàng lấy gỗ trầm tạc một pho tượng nhỏ, sớm tối khấn vái, cầu chúc ông phúc thọ dài lâu.
Về sau Bùi lệnh công sống hơn tám mươi tuổi, con cháu đông đúc, người ta đều cho là nhờ âm đức mà được.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn