Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Ca-li-ốp hoàn lương

của O. Henry

⏱ 21 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 18.000 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Ca-li-ốp Kết-bi lại lên cơn. Nỗi chán chường đè…
  2. 4:35Pháo binh đã vào thế. Tay Ca-li-ốp vững vàng.…
  3. 7:44Ca-li-ốp cáu kỉnh, không hề hay biết những âm…
  4. 10:41Viên cảnh sát trưởng đã quyết. Ông đã quyết…
  5. 13:56Bà cụ quay nửa người lại, ngước nhìn người…
  6. 17:21"Cảnh sát trưởng nói sao?" anh hỏi. "Ông ấy…
  7. 19:07"Trời đất ơi!" bà cụ bỗng nhốn nháo kêu…
  8. 20:58"Im đi," Bắc nói. "Bà quay lại kìa."

Ca-li-ốp Kết-bi lại lên cơn. Nỗi chán chường đè lên gã. Cái mỏm đất đẹp đẽ này, trái đất ấy, nhất là cái phần của nó mang tên Cát Lún, đối với gã chẳng qua chỉ là một đám hơi độc tụ lại. Khi bị nỗi u uất xâm chiếm, nhà triết học có thể tìm khuây khoả trong độc thoại, quý bà có thể tìm an ủi trong nước mắt, còn gã đàn ông miền Đông yếu đuối thì mắng mỏ hoá đơn mua mũ của vợ con. Những cách ấy không đủ với dân Cát Lún. Ca-li-ốp, đặc biệt, thường bày tỏ nỗi chán chường của mình theo cách riêng.

Ngay từ đêm trước, Ca-li-ốp đã treo tín hiệu báo trước cơn buồn sắp tới. Gã đá con chó của chính mình trên hiên khách sạn Phương Tây, rồi không chịu xin lỗi. Gã trở nên thất thường, hay bắt bẻ khi nói chuyện. Lúc đi dạo, gã thường với tay bẻ những cành cây gai rồi nhai lá ngấu nghiến. Đó luôn là một hành vi đáng ngại. Một triệu chứng đáng báo động khác, đối với những ai thuộc lòng từng giai đoạn trong cơn ủ ê của gã, là gã ngày càng lễ phép và hay dùng những câu chữ trịnh trọng. Giọng gã từ cái kiểu kéo dài lanh lảnh thường ngày chuyển sang một sự dịu dàng khàn khàn. Một vẻ nhã nhặn nguy hiểm hiện lên trong cung cách gã. Sau đó, nụ cười của gã méo xệch, khoé miệng bên trái nhếch lên, và Cát Lún chuẩn bị tránh xa.

Tới giai đoạn này Ca-li-ốp thường bắt đầu uống rượu. Cuối cùng, khoảng nửa đêm, người ta thấy gã đi về nhà, chào những người gặp trên đường với vẻ lịch sự thái quá nhưng vô hại. Nỗi u sầu của Ca-li-ốp vẫn chưa tới mức nguy hiểm. Gã sẽ ngồi bên cửa sổ căn phòng gã thuê trên tầng tiệm cắt tóc của Xin-vét-xtơ, và ở đó gã gào những khúc ca não nề chẳng ra giai điệu gì cho tới sáng, đệm theo bằng cách hành hạ thích đáng một cây đàn ghi-ta lanh canh. Rộng lượng hơn cả bạo chúa Nê-rông, gã dùng âm nhạc báo trước cuộc đảo lộn của thị trấn mà Cát Lún sắp phải chịu đựng.

Những lúc khác, Ca-li-ốp Kết-bi là một người lặng lẽ, dễ chịu, lặng lẽ tới mức lười biếng, dễ chịu tới mức vô tích sự. Tốt nhất thì gã là một kẻ ăn không ngồi rồi và một mối phiền toái. Tệ nhất thì gã là Nỗi Kinh Hoàng của Cát Lún. Nghề nghiệp bề ngoài của gã là làm việc vặt gì đó trong ngành nhà đất. Gã đánh xe chở những ông khách miền Đông bị dụ dỗ đi xem đất và trang trại. Gốc gã từ một bang ven vịnh Mê-hi-cô, thân hình lêu nghêu cao mét tám, nhịp nói kéo dài lè nhè và những thành ngữ địa phương là bằng chứng về quê quán của gã.

Vậy mà, sau khi thích nghi với miền Tây, cái gã uể oải chuyên ngồi gọt gỗ thông, ôm thùng bánh quy, nằm khểnh ở góc râm của những cánh đồng bông và đồi cây sơn miền Nam ấy lại nổi tiếng là một tay dữ dằn giữa những người đã dành cả đời nghiên cứu nghệ thuật hung hăng.

Chín giờ sáng hôm sau, Ca-li-ốp đã sẵn sàng. Được truyền cảm hứng bởi những giai điệu man rợ của chính mình và bởi thứ đựng trong cái vò, gã đã nạp đủ thuốc để hái thêm nguyệt quế trên vầng trán rụt rè của Cát Lún. Quấn vòng quanh và đeo chéo khắp người những dây đạn, giắt đầy súng lục, say khướt, gã tràn ra phố chính của Cát Lún. Quá hào hiệp để đánh úp và chiếm một thị trấn bằng một cuộc xuất kích lặng lẽ, gã dừng lại ở góc phố gần nhất và cất lên tiếng hô xung trận của mình. Cái tiếng rú khủng khiếp, chói lói như tiếng kèn đồng, gợi nhớ tới cây đàn ống chạy bằng hơi nước, thứ người ta gọi là đàn Ca-li-ốp, chính là thứ đã đem lại cho gã cái biệt danh cổ điển thay thế cho tên thánh của gã. Liền sau tiếng rú là ba phát súng từ khẩu bốn lăm ly, để làm nóng nòng súng và thử độ chính xác. Một con chó vàng, tài sản riêng của đại tá Xoa-di, chủ khách sạn Phương Tây, ngã lăn ra giữa bụi, bốn chân chổng lên trời, với một tiếng ăng ẳng vĩnh biệt. Một người đàn ông đang băng qua đường từ tiệm tạp hoá Mặt Tiền Xanh, tay cầm chai dầu hoả, bỗng được kích thích chạy nước rút đáng khâm phục, tay vẫn nắm chặt cổ cái chai vỡ. Chiếc chong chóng gió mạ vàng mới tinh trên ngôi nhà hai tầng màu vàng chanh và xanh lơ của quan toà Rai-li run lên, chao đảo, rồi treo lủng lẳng trên một mảnh gỗ vụn, làm đồ chơi cho những cơn gió tinh nghịch.

Pháo binh đã vào thế. Tay Ca-li-ốp vững vàng. Niềm say mê cao cả, điềm tĩnh của kẻ quen chinh chiến đang dâng lên trong gã, chỉ hơi đắng đót vì nỗi buồn của A-lếch-xan-đơ Đại đế khi thấy những cuộc chinh phạt của mình bị giới hạn trong cái thế giới nhỏ bé Cát Lún.

Ca-li-ốp đi xuôi phố, bắn sang phải, bắn sang trái. Kính vỡ rơi như mưa đá. Chó chạy biến. Gà bay tán loạn, quang quác. Giọng đàn bà thất thanh gọi lũ trẻ đang chơi ngoài đường. Cái huyên náo thỉnh thoảng bị xuyên thủng bởi những tràng súng dồn dập của Nỗi Kinh Hoàng, và định kỳ bị nhấn chìm bởi tiếng rú chói lói mà cả Cát Lún đã quá quen. Những dịp Ca-li-ốp buồn chán là những ngày nghỉ lễ chính thức ở Cát Lún. Suốt dọc phố chính, trước khi gã tới, các nhân viên cửa hàng đều sập cửa chớp, đóng cửa. Việc buôn bán sẽ ngưng trệ một thời gian. Quyền đi đường thuộc về Ca-li-ốp, và khi tiến lên, thấy chẳng có sự chống cự nào, chẳng mấy cơ hội để tiêu khiển, nỗi chán chường của gã tăng lên thấy rõ.

Nhưng cách đó chừng bốn dãy phố, người ta đang tất bật chuẩn bị để chiều theo sở thích trao đổi lời qua tiếng lại của ông Kết-bi. Ngay đêm trước, nhiều người đã hối hả đi báo cho Bắc Pát-tơ-xơn, cảnh sát trưởng thị trấn, rằng Ca-li-ốp sắp phun trào. Lòng kiên nhẫn của vị quan chức ấy, vốn nhiều lần đã căng ra để khoan dung với những trò quậy phá của kẻ gây rối, giờ đã quá sức chịu đựng. Ở Cát Lún, người ta cũng có phần nương tay với những cơn sôi sục tự nhiên của bản tính con người. Miễn là mạng sống của những công dân hữu ích hơn không bị phung phí liều lĩnh, hay quá nhiều tài sản không bị tàn phá vô cớ, thì dư luận cộng đồng không tán thành việc thi hành pháp luật quá nghiêm ngặt. Nhưng Ca-li-ốp đã vượt quá giới hạn. Những cơn bùng nổ của gã đã quá thường xuyên và quá dữ dội để có thể xếp vào loại thư giãn tinh thần bình thường và lành mạnh.

Bắc Pát-tơ-xơn đã chờ đợi trong văn phòng nhỏ bằng gỗ ba mét nhân bốn mét của mình, chờ tiếng rú mở màn báo rằng Ca-li-ốp đang buồn. Khi tín hiệu vang lên, viên cảnh sát trưởng đứng dậy, đeo súng. Hai phó cảnh sát hạt và ba công dân đã từng chứng minh rằng mình nuốt được lửa cũng đứng lên, sẵn sàng đối đáp với những câu đùa bằng chì của Ca-li-ốp.

"Tóm thằng cha ấy lại," Bắc Pát-tơ-xơn nói, vạch ra đường lối chiến dịch. "Đừng nói năng gì, hễ có cơ hội là bắn. Núp kỹ vào, rồi hạ nó. Nó là đồ bỏ đi. Tôi đoán lần này tới lượt Ca-li-ốp ngỏm. Toả rộng ra mà tiến tới, anh em. Mà đừng có liều quá, vì Ca-li-ốp bắn đâu trúng đó."

Bắc Pát-tơ-xơn, cao lớn, vạm vỡ, mặt nghiêm nghị, tấm phù hiệu "Cảnh sát trưởng thị trấn" sáng loáng trên ngực áo sơ-mi nỉ xanh, ra lệnh cho đội của mình tấn công Ca-li-ốp. Kế hoạch là hạ gục Nỗi Kinh Hoàng của Cát Lún mà bên tấn công không bị tổn thất gì, nếu có thể.

Ca-li-ốp cáu kỉnh, không hề hay biết những âm mưu trừng phạt, đang rẽ sóng xuôi dòng, nã pháo sang hai bên, thì bỗng nhận ra phía trước có đá ngầm. Viên cảnh sát trưởng và một phó cảnh sát đứng lên sau mấy thùng hàng vải cách đó nửa dãy phố và nổ súng. Cùng lúc ấy, những người còn lại trong đội, chia làm hai, nã đạn vào gã từ hai con phố bên mà họ đã thận trọng vòng qua bằng một cuộc hành quân đánh vòng rất khéo.

Loạt đạn đầu tiên làm gãy khoá một khẩu súng của Ca-li-ốp, khoét một vết gọn gàng dưới tai phải gã, và làm nổ một viên đạn trên dây đạn đeo chéo, sém cả xương sườn. Thấy tinh thần phấn chấn hẳn lên nhờ liều thuốc bổ bất ngờ cho cơn u uất của mình, Ca-li-ốp rú lên một nốt rất mạnh ở âm vực cao nhất, và bắn trả như tiếng vọng. Những người bảo vệ pháp luật né khi thấy ánh lửa, nhưng hơi muộn, nên một phó cảnh sát lãnh một viên đạn ngay trên khuỷu tay, còn viên cảnh sát trưởng thì chảy máu má vì một mảnh gỗ bị viên đạn xé ra từ cái thùng ông đang núp.

Giờ Ca-li-ốp đáp lại chiến thuật của đối phương bằng chiến thuật y hệt. Đưa mắt chọn nhanh con phố mà từ đó hoả lực yếu nhất và kém chính xác nhất, gã chạy gấp vào đó, bỏ lại khoảng giữa phố trống trải. Với sự xảo quyệt hiếm có, lực lượng đối phương ở hướng ấy, một phó cảnh sát và hai người tình nguyện dũng cảm, nấp sau mấy thùng bia chờ cho Ca-li-ốp đi qua chỗ ẩn nấp của họ, rồi bắn xối xả vào lưng gã. Chỉ một lát sau họ được viên cảnh sát trưởng và những người còn lại tiếp viện, và lúc ấy Ca-li-ốp thấy rằng muốn kéo dài thành công những thú vị của cuộc tranh luận này, gã phải tìm cách giảm bớt thế chênh lệch quá lớn. Mắt gã dừng lại ở một công trình có vẻ hứa hẹn điều ấy, nếu gã chạy tới được.

Cách đó không xa là nhà ga xe lửa nhỏ, một căn nhà gỗ chắc chắn ba mét nhân sáu mét, đặt trên một bục cao hơn mặt đất hơn một mét. Bức tường nào cũng có cửa sổ. Với một người đàn ông đang bị số đông dồn ép khốn đốn như thế, nó có thể thành một thứ pháo đài.

Ca-li-ốp lao về phía đó, nhanh và táo bạo, đám người của viên cảnh sát trưởng nã đạn đuổi theo gã trong lúc gã chạy. Gã tới được nơi trú ẩn an toàn, người trưởng ga rời khỏi nhà qua cửa sổ như con sóc bay, đúng lúc đội đồn trú bước vào cửa.

Pát-tơ-xơn và những người ủng hộ ông dừng lại, núp sau một đống gỗ, bàn bạc. Trong nhà ga là một kẻ liều mạng không biết sợ, bắn rất giỏi và mang theo cả kho đạn. Hai bên chỗ bị vây là một khoảng đất trống trơn dài ba chục thước. Chắc chắn ai liều bước vào khoảng đất không chỗ núp ấy sẽ bị một viên đạn của Ca-li-ốp chặn lại.

Viên cảnh sát trưởng đã quyết. Ông đã quyết định rằng Ca-li-ốp Kết-bi sẽ không bao giờ còn đánh thức những tiếng vọng của Cát Lún bằng tiếng rú chói tai ấy nữa. Ông đã tuyên bố như thế. Cả về mặt công vụ lẫn cá nhân, ông thấy mình có bổn phận bắt buộc phải nhấn bàn đạp giảm âm cho cái nhạc cụ chói tai ấy. Nó chơi toàn những giai điệu tồi.

Đứng gần đó là một chiếc xe đẩy tay dùng để chở hàng hoá nhỏ. Nó đứng cạnh một cái lán đầy những bao len, một chuyến hàng của một trại cừu. Viên cảnh sát trưởng và người của ông chất lên xe ba bao len nặng. Khom thật thấp, Bắc Pát-tơ-xơn bắt đầu tiến về pháo đài của Ca-li-ốp, chầm chậm đẩy chiếc xe chất hàng trước mặt để che chắn. Đội của ông toả rộng ra, sẵn sàng hạ kẻ bị vây nếu gã ló mặt ra để đẩy lùi cỗ xe công lý đang bò tới. Chỉ một lần Ca-li-ốp có động tĩnh. Gã bắn từ một cửa sổ, và mấy nhúm len bắn tung ra khỏi tấm khiên đáng tin cậy của viên cảnh sát trưởng. Những phát bắn trả của đội cảnh sát lộp độp vào khung cửa sổ pháo đài. Không bên nào bị thiệt hại gì.

Viên cảnh sát trưởng mải mê lái chiến hạm có giáp che của mình đến mức không biết chuyến tàu sáng đang tới, cho tới khi ông chỉ còn cách bục ga vài bước. Đoàn tàu đang chạy tới phía bên kia bục. Nó chỉ dừng ở Cát Lún một phút. Một cơ hội tuyệt vời biết bao cho Ca-li-ốp! Gã chỉ việc bước ra cửa bên kia, leo lên tàu, rồi đi mất.

Bỏ lại tấm khiên di động, Bắc lăm lăm súng, lao lên bậc thềm vào phòng, dùng bờ vai nặng nề húc một cú vào cánh cửa đóng. Những người trong đội nghe thấy một tiếng súng nổ bên trong, rồi im lặng.

Một lúc lâu sau, người bị thương mở mắt. Sau một khoảng trống rỗng, anh lại nhìn được, nghe được, cảm thấy và suy nghĩ được. Đảo mắt nhìn quanh, anh thấy mình đang nằm trên một chiếc ghế dài bằng gỗ. Một người đàn ông cao lớn, vẻ mặt bối rối, đeo một tấm phù hiệu to có khắc chữ "Cảnh sát trưởng thị trấn", đứng ngay bên. Một bà cụ nhỏ nhắn mặc đồ đen, mặt nhăn nheo, đôi mắt đen lấp lánh, đang áp chiếc khăn tay ướt lên một bên thái dương anh. Anh đang cố ghi nhận những điều ấy vào đầu và nối chúng với những gì đã xảy ra, thì bà cụ bắt đầu nói.

"Kìa, kìa, người to lớn khoẻ mạnh thế này! Viên đạn ấy có chạm vào cậu đâu! Nó chỉ sượt qua bên đầu cậu, làm cậu kiểu như tê liệt một lúc thôi. Tôi nghe nói tới những chuyện như thế rồi, chấn động não, người ta gọi thế. Ông Ây-bơn Oát-kin ngày trước vẫn bắn sóc theo cách ấy, bắn sượt vỏ cây, ông Ây-bơn gọi thế. Cậu vừa bị bắn sượt thôi, thưa cậu, một lát nữa là khoẻ. Đã thấy đỡ hơn nhiều rồi phải không! Cậu cứ nằm yên thêm một lúc, để tôi lau đầu cho. Chắc cậu không biết tôi, mà cậu không biết cũng chẳng có gì lạ. Tôi đi chuyến tàu từ An-la-ba-ma tới thăm con trai tôi. Con trai tôi to lớn quá, phải không? Trời đất! Cậu khó mà nghĩ được nó từng là một đứa bé, nhỉ? Đây là con trai tôi đấy, thưa cậu."

Bà cụ quay nửa người lại, ngước nhìn người đàn ông đang đứng, gương mặt mòn mỏi bừng lên một nụ cười kiêu hãnh, tuyệt vời. Bà đưa một bàn tay nổi gân, chai sạn ra, nắm lấy một bàn tay của con trai. Rồi vui vẻ mỉm cười nhìn xuống người đang nằm, bà lại tiếp tục nhúng chiếc khăn vào chậu thau trong phòng đợi, nhẹ nhàng áp lên thái dương anh. Bà có cái tính hay chuyện hiền hậu của tuổi già.

"Tám năm nay tôi chưa gặp con trai," bà nói tiếp. "Đứa cháu tôi, En-ca-na Prai-xơ, làm trưởng tàu trên một tuyến đường sắt, nó xin cho tôi tấm vé miễn phí để tới đây. Với tấm vé ấy tôi được ở cả một tuần, rồi nó lại đưa tôi về. Thử nghĩ xem, thằng bé nhà tôi giờ đã thành sĩ quan, cảnh sát trưởng của cả một thị trấn! Cũng giống như ông cai lệ, phải không? Tôi chưa bao giờ biết nó làm sĩ quan. Trong thư nó chẳng nói gì về chuyện ấy cả. Chắc nó nghĩ mẹ già sẽ sợ hãi vì nó gặp nguy hiểm. Nhưng trời ơi! Tôi có bao giờ là người hay sợ đâu. Sợ cũng chẳng ích gì. Lúc xuống tàu tôi nghe súng nổ đì đùng, tôi thấy khói từ nhà ga bốc ra, nhưng tôi cứ đi thẳng tới. Rồi tôi thấy mặt con trai tôi nhìn qua cửa sổ. Tôi nhận ra nó ngay. Nó ra đón tôi ở cửa, ôm tôi chặt gần chết. Còn cậu thì nằm đó, thưa cậu, cứ như người chết ấy, nên tôi bảo để xem có làm được gì giúp cậu ngồi dậy không."

"Tôi nghĩ giờ tôi ngồi dậy được rồi," người bị chấn động não nói. "Giờ tôi thấy khá hơn rồi."

Anh ngồi dậy, vẫn còn hơi yếu, tựa lưng vào tường. Anh là một người đàn ông rắn rỏi, xương to, dáng thẳng. Đôi mắt anh, điềm tĩnh và sắc sảo, dường như cứ nán lại trên gương mặt người đàn ông đang đứng lặng lẽ bên mình. Ánh nhìn của anh thường rời gương mặt anh đang ngắm để chuyển sang tấm phù hiệu cảnh sát trưởng trên ngực người kia.

"Phải, phải, cậu sẽ khoẻ thôi," bà cụ nói, vỗ vỗ cánh tay anh, "miễn là cậu đừng quậy phá nữa, để người ta phải bắn vào cậu. Con trai tôi kể cho tôi nghe về cậu rồi, thưa cậu, trong lúc cậu nằm bất tỉnh dưới sàn. Cậu đừng cho là một bà già có đứa con trai lớn cỡ cậu mà lại thóc mách khi nói về chuyện ấy. Mà cậu cũng đừng để bụng con trai tôi vì nó phải bắn vào cậu. Một sĩ quan thì phải bênh vực pháp luật, đó là bổn phận của nó, còn những ai làm điều xấu, sống sai trái thì phải chịu khổ. Cậu đừng trách con trai tôi, thưa cậu, đó không phải lỗi của nó. Nó luôn là đứa trẻ ngoan, ngoan suốt từ bé tới lớn, tử tế, vâng lời và lễ phép. Cậu có cho tôi khuyên cậu một câu không, thưa cậu, đừng làm thế nữa nhé? Hãy làm người tốt, tránh xa rượu chè, sống yên ổn và tử tế. Tránh xa bạn bè xấu, làm ăn lương thiện, rồi ngủ ngon giấc."

Bàn tay đeo găng đen của bà cụ đang khuyên nhủ khẽ chạm vào ngực người bà đang nói chuyện. Gương mặt già nua mòn mỏi của bà trông rất tha thiết, chân thành. Trong chiếc áo đen bạc màu và chiếc mũ cổ lỗ, bà ngồi đó, gần cuối một cuộc đời dài, như tóm gọn mọi trải nghiệm của thế gian. Thế nhưng người đàn ông mà bà đang nói chuyện vẫn nhìn qua đầu bà, ngắm đứa con trai lặng lẽ của người mẹ già.

"Cảnh sát trưởng nói sao?" anh hỏi. "Ông ấy có tin lời khuyên ấy là tốt không? Hay là cảnh sát trưởng lên tiếng xem những lời ấy có đúng không?"

Người đàn ông cao lớn cựa mình khó chịu. Anh mân mê tấm phù hiệu trên ngực một lúc, rồi vòng tay ôm bà cụ, kéo bà sát vào mình. Bà mỉm cười, nụ cười của người mẹ không hề đổi thay suốt sáu mươi năm, vỗ vỗ bàn tay to nâu của anh bằng những ngón tay đeo găng cong queo, trong khi con trai bà lên tiếng.

"Tôi nói thế này," anh nói, nhìn thẳng vào mắt người kia, "nếu tôi ở vào chỗ của anh, tôi sẽ làm theo. Nếu tôi là một thằng say rượu, liều mạng, không biết xấu hổ, không còn hy vọng, tôi sẽ làm theo. Nếu tôi ở chỗ anh và anh ở chỗ tôi, tôi sẽ nói: 'Thưa cảnh sát trưởng, tôi sẵn sàng thề rằng nếu ông cho tôi cơ hội, tôi sẽ bỏ cái trò quậy phá. Tôi sẽ bỏ rượu, bỏ súng, không làm trò ngựa chứng nữa. Tôi sẽ làm một công dân tốt, đi làm ăn, bỏ những chuyện điên rồ. Xin Chúa giúp tôi!' Đó là điều tôi sẽ nói với anh, nếu anh là cảnh sát trưởng còn tôi ở vào chỗ của anh."

"Nghe con trai tôi nói kìa," bà cụ khẽ nói. "Nghe nó đi, thưa cậu. Cậu hứa sống tử tế đi, nó sẽ không làm hại gì cậu đâu. Bốn mươi mốt năm trước, tim nó lần đầu đập bên tim tôi, và từ đó tới giờ nó vẫn đập thật thà như thế."

Người đàn ông kia đứng dậy, thử cử động chân tay, vươn vai cho giãn gân cốt.

"Vậy thì," anh nói, "nếu anh ở chỗ tôi mà nói như thế, còn tôi là cảnh sát trưởng, tôi sẽ nói: 'Anh được tự do, hãy cố hết sức mà giữ lời hứa.'"

"Trời đất ơi!" bà cụ bỗng nhốn nháo kêu lên. "Tôi quên béng cái rương của tôi! Tôi thấy một người đặt nó lên bục ga đúng lúc tôi thấy mặt con trai ở cửa sổ, thế là tôi quên sạch. Trong rương có tám hũ mứt mộc qua tôi tự làm lấy. Tôi chẳng muốn mấy cái hũ ấy bị làm sao đâu, dù được đền bằng cái gì đi nữa."

Bà lật đật chạy ra cửa, nhanh nhẹn và lo lắng, và lúc ấy Ca-li-ốp Kết-bi lên tiếng với Bắc Pát-tơ-xơn:

"Tôi không làm sao khác được, Bắc ạ. Tôi thấy bà qua cửa sổ, bà đang đi vào. Bà chưa bao giờ nghe một lời nào về cái thói côn đồ của tôi. Tôi không đủ can đảm để bà biết tôi là một thằng vô tích sự đang bị cả cộng đồng săn đuổi. Còn ông thì nằm đó, chỗ phát súng của tôi quật ông ngã, cứ như người chết. Ý nghĩ ấy loé lên bất chợt, tôi bèn tháo phù hiệu của ông ra đeo lên ngực mình, rồi đeo cái tiếng tăm của tôi lên người ông. Tôi bảo bà là tôi là cảnh sát trưởng, còn ông là một nỗi kinh hoàng. Giờ ông lấy lại phù hiệu được rồi, Bắc."

Bằng những ngón tay run rẩy, Ca-li-ốp bắt đầu tháo tấm kim loại khỏi áo sơ-mi.

"Khoan đã!" Bắc Pát-tơ-xơn nói. "Cứ giữ nguyên tấm phù hiệu ở đó, Ca-li-ốp Kết-bi. Không được tháo nó ra cho tới ngày mẹ anh rời thị trấn này. Chừng nào bà còn ở đây để biết, thì anh còn là cảnh sát trưởng của Cát Lún. Để tôi đi một vòng thị trấn dặn dò mọi người, tôi bảo đảm không ai để lộ chuyện này với bà. Còn này, cái thằng đầu đất, ầm ĩ, hèn mạt, con của một cơn lốc điên khùng kia, anh làm theo lời khuyên bà dành cho tôi đi! Chính tôi cũng sẽ làm theo một phần."

"Bắc ơi," Ca-li-ốp xúc động nói, "nếu tôi không làm theo thì tôi xin..."

"Im đi," Bắc nói. "Bà quay lại kìa."

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảO. Henry (1862 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1907
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Reformation of Calliope, O. Henry, in trong tuyển tập Heart of the West
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →