Không phải lúc nào người ta cũng ăn thứ đặt trên bàn.
Dưới ánh sáng một ngọn nến mỡ đặt ở một đầu cái bàn thô kệch, một người đàn ông đang đọc những gì viết trong một cuốn sổ.
Đó là một cuốn sổ chi tiêu cũ, sờn rách nhiều. Chữ viết hình như không dễ đọc lắm, vì thỉnh thoảng người đàn ông lại đưa trang sổ sát vào ngọn nến cho sáng hơn.
Mỗi lần thế, bóng cuốn sổ lại phủ tối một nửa căn phòng, làm mờ đi một số khuôn mặt và dáng người. Vì ngoài người đang đọc, còn có tám người đàn ông khác có mặt.
Bảy người ngồi tựa vào bức tường gỗ thô, im lặng, bất động. Phòng nhỏ, nên họ ngồi không xa cái bàn mấy.
Chỉ cần duỗi tay ra, bất cứ ai trong số họ cũng có thể chạm vào người thứ tám, người đang nằm ngửa trên bàn, một tấm khăn trải phủ một phần thân, hai tay xuôi hai bên.
Ông ta đã chết.
Người cầm sổ không đọc thành tiếng, và cũng không ai nói gì. Tất cả có vẻ đang chờ một điều gì đó xảy ra. Chỉ có người chết là không chờ đợi gì.
Từ bóng tối mịt mùng bên ngoài, qua cái lỗ hổng dùng làm cửa sổ, vọng vào tất cả những âm thanh luôn xa lạ của đêm nơi hoang dã: tiếng tru dài không tên của một con chó sói đồng cỏ ở xa, tiếng rỉ rả rung rung lặng lẽ của những con côn trùng không biết mệt trên cây, tiếng kêu kỳ lạ của những con chim đêm, khác hẳn tiếng chim ban ngày, tiếng vo vo của những con bọ cánh cứng to tướng bay loạng choạng, và cả một dàn đồng ca bí ẩn những tiếng động nhỏ, những tiếng mà hình như lúc nào ta cũng chỉ nghe được một nửa khi chúng bỗng tắt bặt, như thể chúng biết mình vừa lỡ lời.
Nhưng trong nhóm người ấy chẳng ai để ý tới những âm thanh này. Họ không mấy ham quan tâm vu vơ tới những chuyện chẳng có ích lợi gì thiết thực. Điều đó lộ rõ trên từng đường nét của những khuôn mặt dãi dầu của họ, rõ ngay cả dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn nến duy nhất. Rõ ràng họ là người quanh vùng, nông dân và tiều phu.
Người đang đọc thì hơi khác. Người ta có thể nói về ông rằng ông là người từng trải, thạo đời, dù trong cách ăn mặc của ông có điều gì đó chứng tỏ ông cũng có chút gần gũi với những con người xung quanh. Chiếc áo khoác của ông khó mà coi được ở Xan Phran-xít-xcô. Giày dép của ông không phải đồ thành phố. Còn chiếc mũ nằm bên cạnh ông trên sàn, ông là người duy nhất bỏ mũ, thì nếu coi nó chỉ là một món trang sức cá nhân, người ta sẽ hiểu sai ý nghĩa của nó. Gương mặt ông khá dễ coi, chỉ phảng phất chút nghiêm khắc, dù có lẽ ông cố tình làm ra hay tập cho mình vẻ ấy, cho hợp với một người có chức quyền. Vì ông là nhân viên khám nghiệm tử thi.
Chính nhờ chức vụ ấy mà ông giữ cuốn sổ đang đọc. Người ta tìm thấy nó trong đồ đạc của người chết, ngay trong căn nhà gỗ này, nơi đang diễn ra cuộc điều tra. Đọc xong, ông bỏ cuốn sổ vào túi áo ngực.
Đúng lúc ấy cửa bị đẩy ra và một chàng trai trẻ bước vào. Rõ ràng anh không sinh ra và lớn lên ở vùng núi. Anh ăn mặc như người thành phố. Tuy vậy, quần áo anh bám đầy bụi, như vừa đi đường xa. Thật ra anh đã phi ngựa vội vã để tới dự cuộc điều tra.
Nhân viên khám nghiệm gật đầu. Không ai khác chào anh.
– Chúng tôi đã đợi anh, – nhân viên khám nghiệm nói. – Phải giải quyết xong việc này ngay trong đêm nay.
Chàng trai mỉm cười.
– Tôi xin lỗi đã để các ông phải chờ, – anh nói. – Tôi đi không phải để trốn lệnh triệu tập của ông, mà để gửi cho tờ báo của tôi bản tường thuật về chuyện mà tôi đoán là mình được gọi về để kể lại.
Nhân viên khám nghiệm mỉm cười.
– Bản tường thuật anh gửi cho tờ báo, – ông nói, – có lẽ khác với điều anh sẽ khai ở đây sau khi tuyên thệ.
– Điều đó, – người kia đáp, khá nóng nảy, mặt đỏ bừng thấy rõ, – thì tuỳ ông. Tôi viết bằng giấy than, nên có giữ bản sao những gì đã gửi. Nó không được viết như tin tức, vì nó khó tin, mà như truyện hư cấu. Nó có thể dùng làm một phần lời khai sau tuyên thệ của tôi.
– Nhưng anh bảo nó khó tin.
– Thưa ông, điều đó chẳng có nghĩa gì với ông, nếu tôi cũng thề rằng nó có thật.
Nhân viên khám nghiệm im lặng một lúc, mắt nhìn xuống sàn. Những người ngồi quanh tường thì thầm với nhau, nhưng ít khi rời mắt khỏi gương mặt người chết. Lát sau, nhân viên khám nghiệm ngước mắt lên, nói:
– Chúng ta tiếp tục cuộc điều tra.
Những người đàn ông bỏ mũ. Nhân chứng tuyên thệ.
– Tên anh là gì? – Nhân viên khám nghiệm hỏi.
– Uy-li-am Hác-cơ.
– Tuổi?
– Hai mươi bảy.
– Anh có quen người quá cố, Hiu Moóc-gân?
– Có.
– Lúc ông ấy chết, anh có ở bên không?
– Ở gần.
– Sao lại thế, ý tôi là sao anh lại có mặt ở đó?
– Tôi tới thăm ông ấy ở đây để săn bắn và câu cá. Nhưng một phần mục đích của tôi là để nghiên cứu ông ấy, nghiên cứu lối sống cô độc kỳ quặc của ông ấy. Ông ấy có vẻ là một hình mẫu tốt cho một nhân vật trong truyện. Thỉnh thoảng tôi có viết truyện.
– Thỉnh thoảng tôi có đọc truyện.
– Cảm ơn ông.
– Truyện nói chung thôi, không phải truyện của anh.
Vài người trong bồi thẩm đoàn bật cười. Trên một nền u ám, sự hài hước càng nổi bật. Lính tráng trong những lúc ngừng chiến dễ bật cười, và một câu đùa trong phòng có người chết dễ gây cười vì nó bất ngờ.
– Hãy kể lại hoàn cảnh cái chết của người này, – nhân viên khám nghiệm nói. – Anh có thể dùng bất cứ ghi chép nào anh muốn.
Nhân chứng hiểu ý. Rút ra từ túi áo ngực một tập bản thảo, anh cầm nó sát ngọn nến, lật các trang cho tới đoạn mình cần, rồi bắt đầu đọc.
Chuyện có thể xảy ra trên một cánh đồng yến mạch hoang.
"…Mặt trời vừa mới mọc thì chúng tôi rời khỏi nhà. Chúng tôi đi săn chim cút, mỗi người một khẩu súng săn, nhưng chỉ có một con chó. Moóc-gân bảo chỗ săn tốt nhất ở bên kia một dải đồi mà ông chỉ cho tôi, và chúng tôi vượt qua nó theo một lối mòn xuyên qua đám cây bụi gai. Bên kia là đất tương đối bằng phẳng, mọc dày yến mạch hoang. Khi chúng tôi ra khỏi đám cây bụi, Moóc-gân chỉ đi trước tôi vài bước. Bỗng chúng tôi nghe thấy, cách một quãng ngắn về phía bên phải và hơi chếch lên trước, một tiếng động như có con thú nào đang quẫy đạp trong bụi rậm, và chúng tôi thấy những bụi cây rung lắc dữ dội.
– Chúng ta làm động một con hươu rồi, – tôi nói. – Giá mà mang theo súng trường.
Moóc-gân đã dừng lại, chăm chú nhìn đám bụi đang rung lắc. Ông không nói gì, nhưng đã lên cò cả hai nòng súng, cầm sẵn sàng để ngắm. Tôi thấy ông có vẻ hơi kích động, điều làm tôi ngạc nhiên, vì ông nổi tiếng là bình tĩnh lạ thường, ngay cả trong những lúc nguy hiểm bất ngờ và cận kề.
– Ồ, thôi nào, – tôi nói. – Ông định bắn đạn chim cút vào một con hươu đấy à?
Ông vẫn không trả lời. Nhưng khi ông hơi quay mặt về phía tôi, tôi thoáng thấy mặt ông, và sững sờ trước ánh mắt căng thẳng của ông. Lúc ấy tôi mới hiểu chúng tôi đang gặp chuyện nghiêm trọng, và tôi đoán trước tiên là chúng tôi đã làm động một con gấu xám. Tôi tiến lên đứng cạnh Moóc-gân, vừa đi vừa lên cò súng.
Lúc này bụi cây đã yên, tiếng động đã ngưng, nhưng Moóc-gân vẫn chăm chú nhìn chỗ ấy như trước.
– Cái gì thế? Cái quái gì thế? – Tôi hỏi.
– Cái thứ đáng nguyền rủa ấy! – Ông đáp, không quay đầu lại.
Giọng ông khàn đặc, không bình thường. Ông run lên thấy rõ.
Tôi định nói thêm thì thấy những ngọn yến mạch hoang gần chỗ có động chuyển động một cách hết sức khó hiểu. Tôi khó mà tả lại được. Nó như bị một luồng gió lay, không những làm nó rạp xuống mà còn đè nó xuống, đè bẹp nó đến nỗi nó không ngóc lên được nữa. Và chuyển động ấy đang từ từ kéo dài, thẳng về phía chúng tôi.
Chưa có thứ gì tôi từng thấy lại tác động đến tôi lạ lùng như hiện tượng xa lạ, không giải thích được ấy, vậy mà tôi không nhớ mình có cảm thấy sợ hãi gì không. Tôi nhớ, và kể ra đây vì lạ thay, chính lúc ấy tôi lại nhớ tới nó, rằng có lần, lơ đãng nhìn ra qua một ô cửa sổ để ngỏ, tôi thoáng tưởng nhầm một cái cây nhỏ ở ngay gần là một cây trong nhóm cây lớn hơn ở xa. Nó trông to bằng những cây kia, nhưng vì đường nét và chi tiết rõ ràng, sắc nét hơn, nên có vẻ không hài hoà với chúng. Đó chỉ là một sự sai lệch của luật xa gần, nhưng nó làm tôi giật mình, gần như hoảng sợ. Chúng ta quá tin vào sự vận hành trật tự của những quy luật tự nhiên quen thuộc, đến nỗi bất cứ sự gián đoạn nào, dù chỉ là bề ngoài, cũng bị coi là mối đe doạ cho sự an toàn của mình, là lời cảnh báo về một tai hoạ không thể tưởng tượng. Vì thế lúc này, chuyển động có vẻ vô cớ của đám cỏ, và đường xáo động cứ chậm rãi, không chệch hướng tiến lại gần, khiến tôi rõ ràng bất an.
Người bạn đồng hành của tôi có vẻ thật sự hoảng sợ. Tôi không tin nổi mắt mình khi thấy ông bỗng đưa súng lên vai, bắn cả hai nòng vào đám yến mạch đang rung lắc! Khói súng chưa tan, tôi đã nghe một tiếng kêu to, dữ tợn, một tiếng rú như của thú hoang. Moóc-gân ném súng xuống đất, nhảy vọt đi, chạy thật nhanh khỏi chỗ ấy. Cùng lúc ấy tôi bị hất ngã mạnh xuống đất vì va phải một vật gì không nhìn thấy trong làn khói, một thứ mềm mà nặng, như bị ném mạnh vào người tôi.
Tôi chưa kịp đứng dậy và nhặt lại khẩu súng, có vẻ như đã bị đánh văng khỏi tay, thì đã nghe Moóc-gân kêu thét như đang hấp hối, và lẫn với tiếng kêu của ông là những tiếng khàn khàn, dữ tợn như người ta vẫn nghe ở những con chó đang cắn nhau. Kinh hoàng không tả xiết, tôi vùng đứng dậy, nhìn về phía Moóc-gân vừa chạy. Xin Trời thương xót đừng bắt tôi thấy lại một cảnh tượng như thế! Cách chưa đầy ba chục mét là bạn tôi, quỳ một gối, đầu ngửa ra sau một góc khủng khiếp, mũ rơi mất, mái tóc dài rối bù, và cả người ông vật vã dữ dội, sang trái sang phải, ra trước ra sau. Cánh tay phải của ông giơ lên, có vẻ như mất bàn tay, ít ra là tôi không thấy bàn tay đâu. Cánh tay kia thì không thấy. Có những lúc, theo như trí nhớ của tôi giờ đây thuật lại cảnh tượng phi thường ấy, tôi chỉ thấy được một phần thân ông, như thể ông bị xoá đi một phần, tôi không biết diễn tả cách nào khác. Rồi ông chuyển chỗ, và toàn thân lại hiện ra.
Hẳn tất cả những điều ấy xảy ra chỉ trong vài giây, vậy mà trong khoảng ấy Moóc-gân đã trải qua mọi tư thế của một đô vật kiên cường bị một sức nặng và sức mạnh lớn hơn đè bẹp. Tôi chẳng thấy gì ngoài ông, mà ông thì không phải lúc nào cũng rõ. Suốt lúc ấy, tiếng ông la hét và chửi rủa vang lên, như xuyên qua một trận ồn ào bao trùm của những tiếng gầm thét giận dữ mà tôi chưa từng nghe từ cổ họng người hay thú!
Tôi đứng lưỡng lự chỉ trong một khắc, rồi ném súng xuống, chạy tới giúp bạn. Tôi mơ hồ tin rằng ông đang lên cơn động kinh, hay một kiểu co giật nào đó. Tôi chưa kịp tới bên thì ông đã ngã gục, nằm im. Mọi âm thanh đều đã tắt, nhưng với một nỗi kinh hoàng mà ngay cả những sự việc khủng khiếp kia cũng chưa gây ra được, giờ tôi lại thấy chuyển động bí ẩn của đám yến mạch hoang, kéo dài từ khoảng đất bị giẫm nát quanh người đang nằm sóng soài về phía bìa rừng. Mãi tới khi nó tới bìa rừng, tôi mới rời mắt được để nhìn bạn mình. Ông đã chết."
Một người dù trần truồng vẫn có thể rách rưới.
Nhân viên khám nghiệm đứng dậy khỏi chỗ ngồi, tới đứng bên người chết. Nhấc một mép khăn trải, ông kéo nó ra, để lộ toàn bộ thi thể, hoàn toàn trần truồng, dưới ánh nến có màu vàng như đất sét. Nhưng trên đó có những mảng lớn màu xanh đen, rõ ràng do máu tụ dưới da sau những vết đánh. Ngực và hai bên sườn trông như bị nện bằng gậy. Có những vết cào xé khủng khiếp. Da bị xé thành từng dải, từng mảnh.
Nhân viên khám nghiệm đi vòng tới đầu bàn, cởi một chiếc khăn lụa luồn dưới cằm và buộc thắt nút trên đỉnh đầu. Khi chiếc khăn được kéo ra, nó để lộ cái chỗ trước kia là cổ họng. Vài người trong bồi thẩm đoàn đã đứng dậy để nhìn cho rõ hơn, hối hận vì tò mò, quay mặt đi. Nhân chứng Hác-cơ tới bên cửa sổ để ngỏ, chồm người qua bậu cửa, choáng váng và buồn nôn. Thả chiếc khăn xuống cổ người chết, nhân viên khám nghiệm bước tới một góc phòng, lấy từ một đống quần áo ra từng món một, giơ lên một lát cho mọi người xem. Tất cả đều rách nát, cứng đờ vì máu. Bồi thẩm đoàn không xem kỹ hơn. Họ có vẻ không mấy quan tâm. Thật ra họ đã thấy tất cả những thứ này rồi. Điều duy nhất mới mẻ với họ là lời khai của Hác-cơ.
– Thưa các ông, – nhân viên khám nghiệm nói, – tôi nghĩ chúng ta không còn bằng chứng nào nữa. Nhiệm vụ của các ông đã được giải thích rồi. Nếu không có gì muốn hỏi, các ông có thể ra ngoài xem xét phán quyết.
Viên chủ tịch bồi thẩm đoàn đứng dậy, một người đàn ông cao lớn sáu mươi tuổi, râu rậm, ăn mặc thô kệch.
– Tôi muốn hỏi một câu, thưa ông khám nghiệm, – ông ta nói. – Cái anh nhân chứng vừa rồi trốn ở nhà thương điên nào ra đấy?
– Anh Hác-cơ, – nhân viên khám nghiệm nói, nghiêm trang và điềm tĩnh, – lần gần đây nhất anh trốn khỏi nhà thương điên nào?
Hác-cơ lại đỏ bừng mặt, nhưng không nói gì. Bảy người trong bồi thẩm đoàn đứng dậy, trang nghiêm nối nhau đi ra khỏi căn nhà gỗ.
– Nếu ông đã sỉ nhục tôi xong rồi, thưa ông, – Hác-cơ nói ngay khi anh và viên chức kia còn lại một mình với người chết, – thì tôi đoán tôi được tự do ra về chứ?
– Phải.
Hác-cơ định đi, nhưng dừng lại, tay đặt lên then cửa. Thói quen nghề nghiệp trong anh mạnh lắm, mạnh hơn cả lòng tự trọng cá nhân. Anh quay lại, nói:
– Cuốn sổ ông đang giữ, tôi nhận ra đó là nhật ký của Moóc-gân. Ông có vẻ rất quan tâm tới nó. Ông đã đọc nó trong khi tôi khai. Tôi xem được không? Công chúng hẳn muốn…
– Cuốn sổ chẳng có vai trò gì trong việc này, – viên chức đáp, nhét nó vào túi áo khoác. – Mọi điều ghi trong đó đều được viết trước khi người viết chết.
Khi Hác-cơ ra khỏi nhà, bồi thẩm đoàn quay trở vào, đứng quanh cái bàn, trên đó cái xác giờ đã được phủ lại hiện rõ hình dáng dưới tấm khăn. Viên chủ tịch ngồi xuống gần ngọn nến, lấy từ túi áo ngực ra một mẩu bút chì và một mẩu giấy, khá vất vả viết ra phán quyết sau, và mọi người, với mức độ cố gắng khác nhau, đều ký vào:
"Chúng tôi, bồi thẩm đoàn, xác định rằng người chết đã chết dưới vuốt một con báo núi, nhưng dẫu sao, vài người trong chúng tôi cho rằng ông ta đã lên cơn động kinh."
Lời giải thích từ nấm mồ.
Trong cuốn nhật ký của Hiu Moóc-gân quá cố có vài đoạn đáng chú ý, có lẽ có giá trị khoa học như những gợi ý. Trong cuộc điều tra về cái chết của ông, cuốn sổ không được đưa ra làm bằng chứng. Có lẽ nhân viên khám nghiệm cho rằng không đáng làm rối trí bồi thẩm đoàn. Không thể xác định ngày tháng của đoạn đầu tiên trong số những đoạn sắp kể, vì phần trên của trang giấy đã bị xé. Phần còn lại của đoạn ấy như sau:
"…chạy thành nửa vòng tròn, đầu lúc nào cũng quay vào tâm, rồi lại đứng im, sủa dữ dội. Cuối cùng nó chạy vụt vào bụi rậm nhanh hết sức. Thoạt đầu tôi tưởng nó điên, nhưng khi về nhà thì chẳng thấy nó có gì thay đổi ngoài cái vẻ rõ ràng là sợ bị phạt.
Chó có thể nhìn bằng mũi không? Phải chăng mùi hương in vào một trung tâm nào đó trong óc hình ảnh của vật đã toả ra mùi ấy?…
Ngày hai tháng chín. Đêm qua ngắm những ngôi sao mọc lên trên đỉnh dải đồi phía đông nhà, tôi thấy chúng lần lượt biến mất, từ trái sang phải. Mỗi ngôi sao chỉ bị che khuất trong một thoáng, và chỉ vài ngôi cùng một lúc, nhưng dọc suốt chiều dài dải đồi, tất cả những ngôi sao ở trong khoảng một hai độ trên đỉnh đều bị xoá đi. Như thể có vật gì đó đi qua giữa tôi và chúng. Nhưng tôi không nhìn thấy nó, và sao không đủ dày để vạch ra đường viền của nó. Ghê thật! Tôi không thích chuyện này…"
Nhật ký thiếu mất mấy tuần, ba tờ đã bị xé khỏi sổ.
"Ngày hai mươi bảy tháng chín. Nó lại quanh quẩn ở đây. Ngày nào tôi cũng thấy dấu vết của nó. Đêm qua tôi lại canh suốt đêm ở chỗ nấp cũ, tay cầm súng, nạp đạn chì to gấp đôi. Sáng ra lại có những dấu chân mới, như trước. Vậy mà tôi dám thề là mình không ngủ. Thật ra tôi hầu như chẳng ngủ chút nào. Thật khủng khiếp, không chịu nổi! Nếu những chuyện kinh ngạc này là thật, tôi sẽ phát điên. Còn nếu chúng là do tưởng tượng, thì tôi đã điên rồi.
Ngày ba tháng mười. Tôi sẽ không đi. Nó sẽ không đuổi được tôi đi. Không, đây là nhà của tôi, đất của tôi. Chúa ghét kẻ hèn nhát…
Ngày năm tháng mười. Tôi không chịu nổi nữa. Tôi đã mời Hác-cơ tới ở với tôi vài tuần. Cậu ấy có cái đầu tỉnh táo. Qua thái độ của cậu ấy, tôi sẽ đoán được cậu ấy có cho tôi là điên không.
Ngày bảy tháng mười. Tôi đã có lời giải cho điều bí ẩn. Nó tới với tôi đêm qua, đột ngột, như một sự mặc khải. Đơn giản làm sao, đơn giản đến khủng khiếp!
Có những âm thanh ta không nghe được. Ở cả hai đầu của thang âm, có những nốt không làm rung được sợi dây nào trong cái nhạc cụ không hoàn hảo là tai người. Chúng quá cao hoặc quá trầm. Tôi đã thấy một đàn sáo đen đậu kín cả một ngọn cây, kín ngọn mấy cây liền, tất cả đang hót vang. Bỗng nhiên, trong khoảnh khắc, đúng cùng một lúc, tất cả vụt bay lên trời, bay đi. Bằng cách nào? Chúng không thể nhìn thấy hết nhau, vì có cả những ngọn cây che chắn ở giữa. Không ở chỗ nào một con đầu đàn có thể được tất cả nhìn thấy. Hẳn phải có một hiệu lệnh báo động hay ra lệnh, cao và chói vượt lên trên tiếng ồn, nhưng tôi không nghe được. Tôi cũng đã thấy những đàn chim cùng bay lên một lúc như thế khi tất cả đều im lặng, không chỉ sáo đen mà cả những loài chim khác, chim cút chẳng hạn, đậu cách xa nhau bởi những bụi cây, thậm chí ở hai bên một quả đồi.
Dân đi biển biết rằng một đàn cá voi đang phơi mình hay nô đùa trên mặt biển, cách nhau hàng dặm, có cả độ cong của trái đất ở giữa, đôi khi cùng lặn xuống một lúc, tất cả biến mất trong nháy mắt. Hiệu lệnh đã vang lên, quá trầm đối với tai người thuỷ thủ trên đỉnh cột buồm và đồng đội anh ta trên boong, nhưng họ vẫn cảm thấy nó rung lên trong con tàu, như những phiến đá của một nhà thờ lớn rung lên vì tiếng trầm của cây đàn ống.
Âm thanh thế nào thì màu sắc cũng thế. Ở mỗi đầu của dải quang phổ mặt trời, các nhà hoá học phát hiện ra sự có mặt của những thứ gọi là tia hoá quang. Chúng là những màu sắc, những màu sắc thực sự có trong thành phần của ánh sáng, mà chúng ta không phân biệt được. Mắt người là một công cụ không hoàn hảo. Tầm của nó chỉ là vài quãng tám của cái thang màu sắc thật. Tôi không điên. Có những màu sắc mà ta không nhìn thấy được.
Và, Chúa cứu con! Cái thứ đáng nguyền rủa kia mang chính một màu như thế!"
— Hết —
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ