Chương 1: Đoạn thứ nhất (phần 1)
Ngày 16 tháng chạp năm ngoái, ký giả còn nhớ hôm ấy có về chơi Hanoi, nhân lúc rảnh rang công việc, buổi chiều gần tối, đi thăm người bà con ở ngõ phủ Doãn. Lúc bấy giờ giời đông rét mướt, gió bấc lạnh lẽo, mưa dầm hiu hắt, nên khi bước ra cửa đi, thì chân tay run rẩy, mình mẩy lạnh buốt như đá. Trong mình tuy có mặc nhiều áo, lại thêm ngoài khoác cái ba-đờ-suy (pardessus) mà vưỡn rét. Nhìn mấy giẫy phố phường chung quanh, thì mấy nhà đã đóng cửa ngay từ lúc sế tối, còn vài nhà tuy mở cửa, mà trông vào trong, ngọn đèn leo lét, thỉnh thoảng nghe tiếng nói cười, còn một vài nhà khác, thì chỉ thấy im lìm, tiếng nói cười lúc ban ngày, có nhẽ đêm đông đã hầu như tan hết cả vào mảnh chăn ấm áp. Ngoài đường kẻ đi người lại cũng ít, một vài ông ăn bận quần áo tây đi bước một trên hè, cổ ba-đờ-suy dựng lên đến gáy, tay đeo găng thọc sâu vào tận đáy túi, một vài người kéo xe đi thong thả trên đường, đêm đông cùng nhau than thở nỗi cơ hàn, cảnh ấy tình đây thêm chán ngán: Liền gọi một cái xe cao-xu đến, mặc cả song lên ngồi, lúc bấy giờ mới nghe trong mình hơi đỡ lạnh. Còn người xe ra sức chạy, xe chạy êm như du, ngồi trên xe trong lòng khoan khoái vô cùng, trông người xe kéo mình đương chạy mà lại ngậm ngùi thương, nghĩ mình sung sướng mặc rầu, nhưng kẻ kia phải khổ, vì nỗi đời bó buộc, phải đem thân giãi gió dầm mưa, kiếm manh áo bát cơm về cho lũ thê-nhi ở nhà, những nghĩ cái cảnh cơ hàn của bọn kéo xe này mà lòng lại ngậm ngùi thương.
Cũng trong một giờ này, kẻ thì sung sướng trong chốn lầu son gác tiá, chăn gấm đệm bông ấm áp, vợ con quây quất chung quanh, vui vẻ biết bao, nhưng còn kẻ, Tử Phần xa khơi, bạn bè cách trở, chốn lữ thứ giang-hồ khổ sở, lại những kẻ cô-thân đất khách, vì thời vận hẩm hiu, mà nỗi lầm than, tình khốn khó như những đêm đông này thì ảo não bao nhiêu, khiến cái cảm tình của ký-giả cũng vì đồng loại mà như chan như chứa, những nghĩ về cái cảnh-ngộ của bọn phu-xe này mà buồn.
Những nghĩ như thế, mà không ngờ người kéo xe nhanh chân đã kéo qua một phố kia, hẹp hòi trông bằng nửa con đường nhớn ở các phố to, nhà ngói nhà gianh lơ thơ dăm ba chiếc thấp lụp sụp trông rất tiều tụy. Cả phố ấy, nhà điều đóng cửa cả rồi, duy còn một nhà, trông vào trong vẫn còn thấy thắp đèn, cửa mở rộng, bên cạnh có kê một cái trống to vừa bằng nửa cái sập gụ của ta nằm trên trống có một người đàn bà đương ẵm đứa bé con. Người đàn bà ấy trông người mảnh dẻ, mặt trái soan, da trắng trẻo, mình chỉ mặc một cái áo cánh bông cũ, cái quần lĩnh thâm đã bạc trông xa chỉ thấy hơi hơi đen; còn thằng bé con ẵm thì co quắp nằm bẹt trong lòng, cái tã con che đậy mình mẩy nó ngắn mà rách, nên da thịt thằng bé hở cả ra ngoài. Thảm thay! đêm đông giờ rét, mà mẹ con người này như thế!:
Vừa nghĩ vừa nhìn hai mẹ con, lại nhìn vào trong nhà thì thấy một cái phản kê giữa nhà, bên cạnh một cái hòm đã cũ, một vài cái thúng đựng quần áo mụn dẻ, tường đen vàng úa, mạng dện chằng, dưới đất trông ẩm thấp bẩn thỉu lắm.
Ay cái đời của hai mẹ con người này khổ đến thế, nào ai là khách qua đường mà không ngậm ngùi thay cho nỗi cơ-hàn mẫu-tử đôi người đây.
Người ấy tuy không ăn mặc gì đẹp, nhưng dung mạo trông rất thanh nhã, hai con mắt trông tối hữu tình. Tôi vừa liếc mắt nhìn thì thấy người kéo xe hỏi:
Này thày, thày có biết truyện người đàn bà này không? Thật là một câu truyện rất eó le về nhân tình đời nay».
Tôi nghe, lấy làm lạ chưa hiểu sao, thì người xe lại nói: «Một đời người này thật là lắm đoạn thảm thê, cũng chỉ vì hồng-nhan bạc-mệnh, duyên Thúy-Kiều vội gặp gã Sở đánh lừa mấy sui nên nông nỗi như ngày nay, trải mấy đời chồng rồi, nhưng nghĩ bao nhiêu càng thêm căm giận những phường bạc nghĩa, mượn mồm lưỡi, đồng bạc trắng mà đánh lừa má phấn, khiến cho biết bao nhiêu người nữ-lưu, duyên phận dở dở dang dang, tấm thân bồ liễu đã hầu như biết bao nhiêu lần chìm nổi trên sông Tiền-đường rồi. Ôi nói bao nhiêu thêm tức, thêm giận...
Người xe vừa thuật đến đấy thì im, mặt đỏ bầng lên. Tôi vội vàng giục: «Đầu đuôi thế nào xin anh kể rõ tôi nghe, tôi muốn biết truyện người này để làm một quyển tiểu-thuyết, làm gương cho đời!».
— Thôi được, nếu thày có ý nhiệt tâm mà muốn nghe rõ truyện người này thì tôi xin kể. Vậy thày hãy tạm ra chỗ bán hàng nước đầu phố đây để tôi hút điếu thuốc, rồi tôi sẽ thong thả kể hết thày nghe: Tôi gật đầu, rồi theo người xe: Ra đó, ngồi một lúc người xe ấy mới bắt đầu thuật truyện:
Nguyên người này vốn giòng dõi con nhà tử tế. Người cha khi trước có làm giáo-thụ tỉnh B. N.. Bà mẹ cũng là con nhà sang-trọng, người hiền-hậu-phúc-đức. Hai ông bà sinh được có mỗi một mình cô ta là gái mà thôi. Quan Giáo vốn là người tài cao học rộng, bụng dạ ngay thẳng lương thiện, nên trong trường ngài dạy học cũng đông, học trò nhớn nhỏ được hơn một trăm người, ai ai cũng có bụng mến ngài. Thường nhiều nhà phú-gia-điền-chủ có con, học ngài, tết nhất vẫn khiến con đem lễ vật đến cho ngài rất hậu, nhưng ngài không hề lấy của ai. Nhất thiết từ chối hết cả, dẫu một bao chè, một đồng bạc ngài cũng không nhận. Học trò nhiều người mến ngài quá, muốn cho ngài nhận lễ vật, thì lại vào to nhỏ với phu nhân, nhưng phu nhân cũng là người bụng dạ giỏi, tiếng là đàn bà mà cũng không có bụng tham lam gì đến của hối lộ bằng tiền bạc cả. Quan giáo dậy các học trò rất chuyên cần, ngài tin ở cái đạo truyền-bá học-thuật tư-tưởng và giáo-dục luân-lý vậy. Ngài thường nói với các trò:
«Tôi bình sinh dậy các anh chỉ lấy sự chuyên-cần thành-thực chân-đốc làm gốc; tôi mong cho các anh nên người có đức hạnh, có tài năng. Cái nghĩa-vụ tôi là rèn tập dậy bảo các anh nên người khá giả mai sau, làm vẻ vang cho nhà họ, cho tôi mà thôi. Các anh có bụng yêu tôi, thì xin đừng lấy tiền-bạc lễ-vật mà cho tôi; tôi vốn ưa thanh-liêm, không ưa hối lộ. Ví dù tôi có làm quan to tát, thì tôi cũng không bao giờ quên cái nghĩa-vụ của tôi đối với dân, với nước. Các anh nên biết cho như thế, mới phải!»
Nhời quan giáo nói làm cho các học trò đều cảm-động tin-phục vô cùng. Từ đấy tiếng thanh-liêm ngài đồn đại xa gần; nhiều người được cảm ơn-đức ngài lắm.
Ở tỉnh ngài dậy học, có quan Án người rẽ ngang được làm quan, nên cách giao-thiệp hách dịch lắm; các quan phủ huyện điều chạy mặt. Tết nhất ai cũng phải đem lễ-vật đến đưa người, kẻ ít người nhiều, không ai là không có duy có quan giáo nhà thanh-bạch cho nên không bao giờ đưa lên được. Lắm khi có việc vào quan tỉnh, thì lại bị mấy cậu lính ra vòi tiền, ngài không có, thì chúng nó lại không cho vào. Ngài nghĩ rằng không có lễ-vật đưa lên các quan tỉnh ngày tết-nhất, thì thật không hợp cách, nên đã không có, thì phải vào hầu nịnh nọt cho qua loa, may ra có được yên chăng? Ấy bởi ngài nghĩ như thế, nên ngài phải lên tỉnh, mà mỗi lần lên, thì lại mỗi lần về không. Từ đấy ngài lấy làm lo sợ lắm, vì sợ quan trên không bằng lòng thì chắc là làm khó cho ngài, có nhẽ không được làm quan nữa. Mà quả thế thực. Quan Án tỉnh này vốn ghét ngài là bẩn, là kiệt, lại nữa khi ngài mới đẻ cô con gái này (tên là cô Bạch-Thủy) thì quan Án có mượn người hỏi xin ngay ngài cho cậu con người, chờ đến khi nhớn sẽ cưới. Nhưng Quan Giáo vốn người cương-trực, giòng nho-gia, nên không chịu nhận nhời quan Án, bởi thế từ đó quan Án đem lòng hờn giận hoài, hằng lo mưu hãm hại:
Quan Giáo nghĩ cách ở đời như thế mà ngài đem bụng chán ngán rầu rĩ, vì ngài nghĩ lại «ở bầu thì tròn» thời nào theo thời ấy; nay ngài đã không theo được, thời sao được? Nên ngài thường than thở với phu-nhân. (Lúc đó cô Bạch-thủy đã lên mười) Phu-nhân thấy ngài lo rầu thái quá, thường can ngăn khuyên giải luôn luôn:
«Ông ơi, dẫu sao ông cũng phải nhịn nhục cho qua ngày tháng. Nếu có điều gì chẳng may ra nữa thì vợ chồng ta sẽ về nhà quê mà lo bề cầy cấy. Nhà mình cũng được năm sắu chục mẫu ruộng, tưởng làm ăn cũng đủ được no ấm. Lo chi?»
Quan Giáo thấy phu-nhân khuyên lơn chiều chuộng hết lòng, nên cũng vui mà quên dần đi.
Lần hồi ngày tháng thoi đưa, năm ấy nhầm ngày tết mồng 5 tháng 5, quan Giáo, cùng phu-nhân và cô Bạch-Thủy đương ăn cơm, thì nhận được tờ tư ở tòa sứ tỉnh đưa về.
Tờ tư rằng:
«Nay quan tỉnh xét quan Giáo làm việc quan không chuyên cần, hay ăn tiền của học trò, không lo giậy học, thì từ hôm nay phải triệt hồi, hẹn phải trở gia-quyến về quê-hương ngay, để nhà nước bổ người khác đến thay!»
Tin đâu xét đánh bên tai. Quan giáo xem xong tờ tư, mặt mày biến sắc, chân tay run rẩy, nín lặng hồi lâu, rồi mới toan nói, nhưng chưa nói được thì khí oan uất lên đến cổ, rồi ngài té siêu ngã xuống đất mà bất-tỉnh-nhân-sự. Phu-nhân sợ hãi, vội vực ngài vào trong giường, đặt nằm đâu đấy; lúc đó ngài mới mở mắt mà nhìn chung quanh, chỉ thấy phu-nhân và cô Bạch-Thủy thì ngài buồn bã, mà khóc ròng. Ngài bèn gọi phu-nhân lại gần, rồi dặn phu-nhân rằng:
«Tôi liệu trong mình, biết là khó sống được mà bầu bạn với phu-nhân và chăm nuôi dậy bảo con. Ấy vậy, sau khi tôi chết rồi, thì phu-nhân phải thu-sếp cửa nhà, rồi mẹ con cầy cuốc làm ăn nuôi lẫn nhau. Phu-nhân phải chăm nom mà dậy bảo lấy con, cho được nên đứa nết-na-hiền-hậu, mai sau nó khôn lớn rồi, thì liệu xem có chỗ nào tử tế, con nhà nào nết na học khá, thì gả nó cho người ta. Tôi chắc con nó là đứa biết nghĩ tình mẹ con, không bao giờ quên Phu-nhân đâu. Sao nó cũng phụng dưỡng Phu-nhân cho trọn đạo. Còn tôi với phu-nhân vợ chồng mấy mươi năm xum họp, cùng tưởng là ở với nhau đến trăm năm, không ngờ đâu giời sui tôi phảt chết trước Phu-nhân, tưởng cũng là số phận tôi có ngần ấy mà thôi. Vậy xin Phu-nhân, mẹ con khuyên nhủ nuôi nứng lấy nhau, chớ thương sót tôi làm gì lắm, mà hao-tổn tinh thần!»
Song, ngài lại gọi cô Bạch-Thủy lại gần bên giường mà dậy bảo ân cần. Cô Bạch-Thủy lúc này thấy cha thế, không dừng không khóc được, nên hai hàng nước mắt cũng chẩy giòng giòng, trông rất thương. Quan Giáo ẵm cô ngồi bên cạnh khóc mà dặn rằng:
«Con! Bây giờ con còn bé, dẫu có nói con nghe, thì chắc con cũng không biết được, nhưng trước khi cha không được trông thấy con, con không được trông thấy cha nữa, thì cha phải giối lại vài lời với mẹ con và con. Cha tưởng như cha làm quan, giữ một bụng thanh-liêm cần mẫn mà vận hạn ngày nay chẳng ra gì. Thì đủ biết muôn việc cùng tự lòng giời bắt sao phải chịu vậy.
Phận gái như con mới bằng ngần này mà đã bồ côi sớm, thì cũng là khó lắm đó. Nay còn hai mẹ con con ở lại, thì phải hết bụng yêu nhau, con nên khuyên dải và phụng dưỡng mẹ con cho phải đạo làm gái hiền, con thảo. Bao giờ con khôn lớn biết làm lụng đỡ đần mẹ con, thì con phải lo săn sóc trông nom cầy cấy làm ruộng, giồng lúa, giồng khoai. Khi nào xem cách buôn bán có dễ, thì nói với mẹ con cho con ít vốn ra Hanoi lập một cửa hàng nhỏ mà buôn bán. Cố mà tập tành lấy tính toán sổ sách, giữ gìn lấy nết na đứng đắn, chứ đừng bắt trước các con nhà khác, theo thói giăng hoa, chỉ ưa son phấn điểm trang. Con phải biết chỗ tỉnh-thành-đô-hội là nơi đàn điếm ăn chơi, những phường công-tử sỏ siên bạc bẽo, ve vãn láu lỉnh không thiếu chi, những hạng các cô phấn son thừa thãi, giang-hồ du-đãng không phải ít, nên chánh những thứ người ấy cho xa, vì những phường trên bộc trong dâu, thời ai có cầu làm chi?
Chớ thấy của mà tham, chớ thấy làm nên mà đã trọng, bởi vì cha thấy chán nhà giầu có, có con làm nên danh giá, mà cũng hư-hỏng, tính hạnh cốc láo, chơi bời phóng túng càn dỡ, những người chồng mà như thế, thì dẫu vợ có được nhờ vả nhưng cũng khổ.
Cha chỉ cầu cho con lấy được người chồng hiền lành nết na, biết lo làm ăn, dẫu chẳng làm nên gì, nhưng mà nó biết thương yêu con, quý trọng mẹ con thì còn hơn.
Ấy cha dậy bảo con có mấy điều đó, con nên nghĩ mà ghi nhớ vào lòng!»
Quan Giáo nói xong, liền gắng gượng ngồi giậy tìm hết sổ sách văn-tự giao cả cho phu-nhân. Song đâu đấy, thì ngài lại nằm xuống giường, hai mắt lim dim, hơi thở còn hoi hóp, đủ biết bệnh thế ngài nguy lắm rồi. Ngài tự liệu cũng chẳng còn mấy chốc mà nhắm mắt, nên nghĩ đến vợ con thì thương xót lắm, chỉ nhìn phu-nhân và cô Bạch-Thủy rồi lắc đầu mà thôi.
Từ đó căn bệnh ngài trầm-trọng, thuốc thang điều-trị nhiều nhưng càng ngày càng nặng. Một hôm cả nhà đương ngồi súm chung quanh ngài, ngài dên la rầm rĩ hốt nhiên kêu to lên một tiếng rồi tắt hơi. Cả nhà khóc lóc, phu-nhân và cô Bạch-Thủy lo tống táng ngài xong, bèn thu sếp đồ đạc về nhà quê ở huyện Thanh-Trì, tỉnh Hà-Đông.
Thấm thoắt được 6 năm.
Làng Quan Giáo ở vốn là một làng nghèo, số đinh ít, ruộng thì xấu, đất cũng không được tốt. Quan Giáo vốn cũng cầy cấy được ngót sáu mươi mẫu, nhưng hoa-lợi một năm cũng không thu được là bao nhiêu. Nên phu-nhân lại bán một phần nửa đi, lấy tiền mà làm một cái nhà con, cùng mua một cái vườn con giồng giọt các thứ hoa quả để chi-dụng ăn uống, hoặc đem bán. Cái nhà phu nhân mới làm đây rộng hẹp được độ ba gian, đằng sau có ao, trước mặt có vườn nhỏ. Hai mẹ con phu-nhân ở đấy lần hồi cầy cấy cũng đủ ăn; vì nhà ít người ăn tiêu, nên lâu dần cũng để ra được ít nhiều tiền-bạc. Lúc này cô Bạch-Thủy đã 16 tuổi, người trông nhỏ nhắn thanh nhã, mặt trái xoan trắng trẻo, mắt sắc, tay chân mềm mại, lại thêm đức-hạnh ôn hòa, thảo thuận, nên ai cũng khen. Phu-nhân thấy con gái thế, bụng cũng mừng thầm.
Bèn nghĩ muốn cho cô ít vốn ra Hanoi buôn bán, sau nữa để cho cô nhân dịp này mà kén chồng tài giỏi, nương gửi tấm thân mai sau. Nên một hôm gọi cô mà bảo rằng: Nay mẹ để ra được ba bốn trăm bạc, muốn cho con ra Ha-noi để học buôn bán và tìm chút rể sứng đáng, không biết con có bằng lòng chăng? Nếu con bằng lòng thì nhân tiện mẹ có quen bà Đồ T ở phố hàng Bút cũng buôn bán có cửa hàng, để mẹ nói với bà ta, xin cho con dọn hàng chung vào đấy; bây giờ hẵng buôn bút, giấy, son, mực soàng rồi sau có nhiều vốn sẽ mở luôn cửa hàng buôn to bán nhớn cũng chẳng muộn chi?»
Cô Bạch-thủy nghe phu-nhân nói, liền mủi lòng rơi lụy: «Mẹ muốn vậy, nhẽ nào con không vâng lời mẹ. Song bây giờ cha con đã mất, còn có hai mẹ con ta thì con muốn ở với mẹ trọn đời mà thôi, con không muốn đi đâu sất!»
— Con nói dở lắm, con là con gái thì phải lấy chồng, còn mẹ thì già cả, sống chết nay mai, có nhẽ đâu sống được mãi mà ở với con. Con có bụng hiếu hạnh với mẹ, thì mẹ cũng đẹp dạ, nhưng con phải nghe nhời mẹ như thế, thì mẹ mới khỏi buồn về con: Con cứ yên lòng ra Hanoi buôn bán, rồi thỉnh thoảng mẹ ở nhà quê ra thăm con, như thế cũng gặp nhau luôn, lọ là phải ở chung chạ với nhau sao?
Phu-nhân vừa nói vừa vuốt ve cô, càng thấy con càng thương càng yêu. Cái tình mẹ ấy, con ấy lúc này có khác chi mẹ con ngươi Giới-tử-Thôi đời Chiến-quốc không?
Cô Bạch-thủy thấy mẹ nói hết lời, nên cũng thương mẹ mà bằng lòng ngay: «Thôi thì mẹ đã muốn vậy, con cũng xin vâng» Phu-nhân cả mừng, bèn sắm sửa quần áo đồ đạc và đổi bạc đổi tiền cho cô 100 $ ra buôn bán ở Hanoi
Thế là từ đó cô dọn hàng buôn bán ở nhà bà Đồ T là người bà con quen biết với phu-nhân. Bà Đồ này là người đảm đang sắc sảo, nên buôn bán cũng giỏi, cô Bạch-thủy nhờ ở đó bà ta giậy bảo cách thức, nên chẳng bao lâu cách mua hàng, bán hàng cũng thạo. Lại thêm cô là người tư-chất thông-minh, ăn nói dịu dàng lanh lợi, nên hàng họ tuy có ít mà ngày nào bán cũng chạy. Khách mua hàng, nhà quê kẻ chợ thấy cách cô chào mời tử tế, nên đều mến cô mà chỉ đổ sô vào mua cả hàng cô, chưa được vài tháng mà vốn liếng cô cũng được kha khá, có thể đem ra mà buôn to tát được. Nhưng cô là người kiên-nhẫn bụng dạ giỏi, dẫu chắc ở cái tài mình buôn được lờ được lãi, mà cũng không hề dám đem lòng nghĩ ngợi đến cách ăn mặc sa hoa, chơi bời đua ganh với các chị em. Chỉ ngày ngày ngồi cửa hàng, đến tối lại lui vào trong nhà xem sét, tính toán sổ sách mà thôi. Đất phồn hoa cũng lắm bọn thoa quần thường tới lui truyện vãn với cô, lắm khi muốn dủ dê cô đi xem hát, đi chơi chỗ nọ chỗ kia, nhưng cô không chịu, một niềm từ chối. Vì cô hồi tưởng lại những nhời quan Giáo thân-sinh ra cô, lúc quy tiên dặn lại, thì cô lại lấy làm lo sợ, lắm lúc chiều mát đứng cửa, khách ong bướm thường qua lại rập dùi, trai anh-tuấn lắm phen lui tới, mà mắt xanh vẫn cúi, cập lông mày chưa dưng dửng với ai, chỉ ngày qua tháng lại, gót sen lui tới trong nhà, trong phòng loan một hình một bóng mà thôi.
— Hết chương 1 —
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương