Truyện Đỉnh

📚 Tiểu thuyết theo chương

Đoạn thứ hai (phần 3)

Cành hoa điểm tuyết · Chương 5/7 · của Đặng Trần Phất

⏱ 15 phút🎙️ Giọng Bảo Trang📖 15.322 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Mợ cả vội vàng lên gác, đặt con xuống…
  2. 1:49Người đội-sếp nhìn mợ cả, nhăn nhăn nhở nhở…
  3. 2:21Cô về buổi chưa, chưa sơi cơm sáng, xin…
  4. 3:40«Khổ chưa! giời ơi là giời;»
  5. 5:34Đã chết rồi! Chết bao giời, Mợ ấm vừa…
  6. 7:38Vừa nói xong thì mợ cả đã ẵm con…
  7. 11:29Người con gái ấy nói: «Tôi đây tên là…
  8. 15:15Thương ôi mảnh sắt vào lò,

Chương 5: Đoạn thứ hai (phần 3)

Mợ cả vội vàng lên gác, đặt con xuống giường, vừa mở cửa để hóng mát, thì nhác thấy một cái phong bì thơ để trên bàn, nhìn kỹ thì chính là chữ Bạc-Sở viết cho mình.

Thơ rằng:

Mợ Cả,

Tôi phải lên Phú-Thọ đòi nợ, độ bẩy tám hôm thì tôi về, nếu đến hôm ấy không thấy tôi về, thì mợ đi tàu lên đó vào hàng cơm gần nhà la-ga (gare) mà tìm tôi.

Nay thơ: Bạc-Sở.

Mợ Cả đọc đi đọc lại cái thơ Bạc-Sở, lẩm bẩm một mình:

«Lạ quá, nếu có đi sao không chờ bảo cho biết, lại viết vắn tắt có thế, là làm sao?» Song mợ cũng nán mà chịu khó chờ đợi, nghi nghi hoặc hoặc, mấy ngày ngồi đứng không yên. Đến ngày thứ tám, quả không thấy Bạc-Sở về, qua ngày thứ 9 cũng thế. Mợ Cả lo sợ, vì nếu Bạc-Sở đi mất thì mợ biết chông cậy về ai? Liền xuống vay bà Phán dưới nhà 10 $ để lấy tiền lộ-phí lên tỉnh Phú-Thọ. Rồi ẵm con thuê xe ra ga Hanoi, lấy vé song, lên ngồi chên toa hạng tư, thì hành-khách đã thấy chật ních trong ngoài. Mợ Cả vừa lên ngồi được một lát, thì tầu chậy, đồng hồ ngoài ga vừa đúng 9 giờ 30 phút. Ngồi dòng dã trên tầu, mãi đến gần một giờ tầu mới đến ga Phú-Thọ, bước chân xuống đất bỡ ngỡ, chỉ trông thấy hành khách người tay nải, người gồng gánh, chen chân chật ních, len nhau mà đi vào trong tỉnh.

Mợ Cả hoảng hốt, trông chẳng biết đâu vào đâu, thấy người ta đi vào, thì cũng bắt trước đi vào. Giời nắng nực, mình mẩy bồ hôi nhễ nhại, mặt mũi nhem nhuốc, nước mắt nước mũi đầm đìa, chên da mặt lấm tấm đen những than tầu, còn thằng bé con mợ ẫm ở tay thì đầu đầy cứt trâu, ruồi đậu đầy cả, ánh nắng chiếu vào trông rõ những mụn giọt, mủ mê gớm chết. Mợ cả vừa đi đến cửa ga, thì thấy người đội-sếp đứng đó, liền lên tiếng hỏi:

«Thưa thầy ở đây có hàng cơm nào gần ga không?

Người đội-sếp nhìn mợ cả, nhăn nhăn nhở nhở nói:

— Có, đi đi!:

Mợ cả bước chân đi vào trong thì thấy một đám phu xe đã để xe chực cả ở bờ hè đón khách về tỉnh. Khi thấy mợ thì chúng đổ sô lại mời lên xe:

— Đây đây, cô đi xe vào tỉnh!!

Mợ cả dùng dằng chưa muốn lên xe vội, người xe lại mời:

— Cô lên xe vào tỉnh!...

Mợ cả nghe người xe mời, liền mạc cả:

— Hai xu vào hàng cơm gần ga!

Khi xe đỗ ở hàng cơm, mợ cả xuống xe, giả tiền xong, thì thấy trong nhà hàng có bà cụ ra mời:

Cô về buổi chưa, chưa sơi cơm sáng, xin mời cô vào sơi chén nước: rồi ăn cơm!:

— Mợ cả nhìn bà cụ, chào bà song, mợ liền hỏi bà:

— Thưa bà, bà có thấy ông phán nào ăn mặc quần áo tây, người chạc độ 30 vào trọ đây không?

— Không, không có ai!:

Mợ cả liền đi sang nhà hàng cơm khác, hỏi đến bốn năm nhà nữa, cũng chẳng thấy đâu, lúc bấy giờ mới chưng hững người ra. Bạc-Sở nhà cửa thế nào? Quê quán ở đâu? Mợ cả từ ngày theo nó cũng không rõ: cho nên bây giờ mới tỉnh-ngộ mà hơi chột dạ, bèn kể đầu đuôi cho bà lão bán hàng cơm gần đấy, thì bà lão nói:

«Ai biết đâu người vu vơ mà tìm được, các hạng người như thế, ở Hanoi cũng không phải ít, cô ạ!»

Ấy mới chết! Mợ cả nghe bà cụ nói điếng cả người: Nhưng biết làm sao? Đành phải chờ đến chuyến tầu 2 giờ lấy vé song, lên tầu về Hanoi.

Mãi đến 6 giờ chiều, tầu mới đến Hanoi. Mợ cả vừa đi vừa về một ngày nên mệt mỏi nhức đầu khó chịu, lúc xuống ga, liền thuê xe về nhà ngay. Khi về đến nhà thì thấy bà Phán Soay hốt hoảng chạy ra cửa:

«Mợ vừa đi ban sáng thì thấy cậu ấy đến nói với tôi rằng: mợ đã gập cậu, bây giờ cậu đến dọn dẹp đồ đạc của mợ, và giả tiền nhà rồi mợ về ở với cậu» Ấy mới chết nữa! chuyến này giầy to! mợ cả chậy lên gác xem thì thấy đồ đạc hòm tủ cũng mất hết, chẳng còn một cái gì sốt;

«Khổ chưa! giời ơi là giời;»

Mợ chậy ngược chậy suôi, hết cào tai gãi má, đến nhăn nhó mặt mày. Bây giờ làm thế nào? Đi đâu? ở đâu?

Trong bụng mợ lúc này sốn sang nóng nảy, vừa bồn chồn vừa đau đớn, càng nhìn cái gác chống không, lại càng như con giao vô hình đâm vào ruột; mợ bèn lập-tâm quyết định đi xe luôn về huyện Thanh-trì, là quê Bà Giáo.

Bèn ra cửa gọi xe, mặc cả đâu đấy lên ngồi: xe chậy lạch cạch trên con đường cái, dẽ ra con đường Khâm-thiên, rồi đi thẳng đường Ấp về Hà-Đông.

Trời mới tối, giăng soi bên giời, cảnh quê hương chỉ thấy bát ngát gò đống ngổn ngang, cùng ruộng lúa xanh dì, xa xa chỉ thấy đen sì một sắc đen đen, trông con đường giài thăm thẳm giài đăm đắp trước mắt, chốc lại vài cái lá trên cây rụng xuống đường, gió thổi dào dào một cái: Cả cái cảnh tịch mịch đêm hôm làm cho mợ ấm trong dạ ngổn ngang, mà lại thêm lo thêm sợ. Đêm khuya đường xá một mình, biết đâu là chẳng gập phải quân gian đồ ra cướp bóc, mỗi lúc qua một cái quán, thấy các tuần-canh ra đón xe hỏi đi đâu, là mợ phát hoảng người lên.

Mợ càng sợ, càng dục xe chậy cho nhanh. Xe chậy mãi chậy mãi, mãi đến nửa đêm mới đến làng. Trời tối đen như mực, trông xa không rõ mặt người, chỉ nghe thấy tiếng chó sủa trong làng, và nhìn thấy mấy túp nhà lá lụp sụp, cùng mấy giặng tre cao tót vót mọc đầu làng.

Lúc này mấy bác tuần-phiên canh ngoài điếm còn thức, đương sì sục hút tí-tách cái điếu cầy, khi chúng thấy mợ vội vàng vác hèo vác giáo chạy ra. Mợ sợ quá kêu «cướp, cướp» thì chúng vừa đến, sừng sộ hỏi: «Đi đâu?»

Mợ bèn kể hết đầu đuôi, và hỏi thăm nhà bà giáo. Trong bọn đó nghe nói đều ngẩn người ra không biết chi cả, sau có một đứa nghĩ mãi rồi đột nhiên hỏi mợ:

«Bà Giáo nào, hay bà giáo T có con gái gả cho con ông phủ nào đó: Nếu phải bà ý thì bây giờ bà đã chết rồi, còn cái nhà bà ở thì cũng bán rồi, bây giờ người khác người ta tậu cái nhà ấy, lấy đất để sây lò mổ trâu bò!»

Đã chết rồi! Chết bao giời, Mợ ấm vừa nghe được tin ấy, khác nào sét đánh ngang giời. Bây giờ mới thật khổ, một mình chốn đường trường quãng vắng, vậy thì biết liệu làm sao? Âu là ta lại ra phố hàng Bút mà tìm hỏi bà mẹ chồng ta, rồi ta đến năn nỉ xin người dung thứ và thâu-nhập ta, họa may người còn nghĩ lại mà cho ta về chăng? Nhưng đêm đã khuya, đi ra tỉnh bây giờ cũng không kịp nữa. Đành phải ở nán lại, chờ cho đến sáng. Mợ bèn kêu van xin mấy người tuần cho mẹ con mợ và người kéo xe đụt gió ở điếm chờ đến giạng ngày sẽ đi sớm. Mấy người tuần thương tình nên cũng ưng chịu. Mợ ôm thằng bé con vào lòng, rồi nằm bệt xuống đất, cả ngày đi vất vả mệt mỏi, nên mới đặt lưng thì đã thiu thiu ngủ quên đi mất, cho mãi đến gà gáy sáng, lúc bây giờ mợ giậy lên xe ra Hanoi, tìm về phố hàng Bút.

Lúc đến phố hàng Bút, thì đã hơn 9 giờ. Hàng phố đông đúc, kẻ mua người bán tấp nập. Mợ ta vào nhà bà Phủ hỏi thăm, thì thấy nhà đóng cửa, không có cửa hàng bầy ra như khi trước nữa. Gõ cửa thì trong có một người đàn ông bước ra: Mợ cả nói rõ sự tình trước sau, thì người ấy nhìn mợ một lúc, rồi nói: «Mợ về chậm quá! Quan-Phủ phải bệnh mất được mấy tháng trước, còn bà Phủ cũng mất luôn tháng sau.

Cậu cả Liễu-Oanh thì con sài mới chết, nên cậu phẫn-chí đã xin nhà nước đi tòng-chinh bên Đại-Pháp rồi,» Tin buồn đã qua, tin khác lại tiếp đến, làm cho mợ ấm đầu như búa bổ, ruột tợ giao đâm, bèn cả tiếng khóc giòng: «Giời làm khổ tôi!:»

Kêu được một tiếng thì mặt mày đổi nét, hai mắt lờ đờ, sắp muốn té xuống đất. Lúc này người đàn ông thấy tình-hình mợ thảm thiết thế, liền hỏi mợ rằng:

«Thế mợ còn quen biết bà con nào ở đây nữa không?»

— Có, tôi nhớ có quen một bà dì ở phố hàng Nón, nhà cũng giầu có.

— Vậy thì sao mợ không lại đấy mà xin ở nhờ!

Mợ cả nghe người đàn ông ấy nói, liền cám ơn, song từ tạ rồi gọi xe xuống hàng Nón, hỏi thăm vào nhà bà dì. Lúc này bà dì mợ cả đương ngồi trong nhà đánh tổ tôm với mấy bà khác, khi nghe thấy người vú vào nói có mợ là cháu bà đến, thì bà nhăn mặt gãi tai, nói với mấy bà kia rằng:

«Không biết con này nó đến đây làm gì?»

Vừa nói xong thì mợ cả đã ẵm con vào đến nhà trong, bà này trông thấy mợ ta: khăn lấm, tóc rối, áo vá, quần rách, thì coi bộ ghét lắm, bèn cả tiếng mắng mợ mà bảo rằng:

«Đồ đĩ! con nhà hư! mày đi theo giai đến bây giờ mới về, còn trông thấy tao làm gì; bước ngay lập tức; đây tao không dung những của như thế!» Mợ cả cứ nép vào một bên vừa khóc lóc vừa kêu van, kêu van hết hơi, bà dì cũng chẳng động lòng: Bèn chào bà dì ra cửa, thuê xe thẳng ra bờ sông. Chèo lên cầu sông Doumer đứng ngắm giòng nước, thuyền bè san sát đậu bên bờ, đứng trên mà nhìn xuống sông thì bao la rộng rãi, giải nước cuồn cuộn, trông ghê cả mình: «Thà chết cho xong! Sống làm gì!!!» Mợ cả vừa ôm con vừa nhìn đáy nước, bao nhiêu nỗi ưu-phiền trong bụng mợ lúc này đã hầu như chỉ hy-vọng cả vào cái chết, cái chết yên lòng. Trông thấy nước sông chẩy cuồn cuộn, con thuyền chìm nổi mà mợ muốn như đã sắp reo mình từ trên cao xuống dưới, phó mặc tấm thân cho chiều nước ngược suôi. Ôi, cái sức mạnh của giòng nước kia khá làm cho ta mát dạ đẹp lòng! Có nhẽ từ nay ai người như ta, cũng nên ra đây mà quy-y cửa giời, nhà Phật, mong thoát-ly chốn bụi trần, mà cầu đội bát hương! Hỡi ôi, chết chết, chết mà thoát cái khổ, cái sầu, cái đau đớn! chết mà rửa được tiếng sấu, khỏi thẹn với lương tâm! Vậy thì nên chết! Nhưng mợ cả vốn không sao mà quyên-sinh được, vì mợ còn chút con trai, nên muốn cho nó nhớn để lập tự cho nhà chồng, nay mợ chết mà bỏ nó, thì ai nuôi cho? hoặc hai mẹ con cùng đưa nhau xuống sông, thì ngày sau bên nhà chồng biết lấy ai phụng-thờ, giữ hương-đèn cúng lễ ông cha? Con này vẫn không phải là con chồng là con Bạc-Sở, nhưng cũng là mợ đẻ ra, bây giờ bỏ đi thì tội nghiệp biết bao? Chẳng thà để nuôi cho nó khôn lớn rồi cho nó lấy họ nhà chồng cũ thì hay hơn!

Bởi mợ nghĩ thế, nên mợ dùng dằng không muốn tự vẫn nữa, chỉ nhìn con, nhìn giòng nước mà khóc mùi, tiếng khóc thê thảm, giữa lúc gió thổi cây rung, cảnh hoàng hôn thảm-đạm thê-lương, ai nghe mà chẳng động lòng:

Thời may, lúc bấy giờ có một người con gái tuổi độ 20, nhân lúc một mình thơ thẩn trên cầu, nghe thấy tiếng mợ khóc, thì lại gần hỏi hết đầu đuôi, rồi bảo mợ rằng:

Tôi nghe mợ nói truyện tôi cũng thương-tâm, lòng không nỡ để một người bạn hồng-quần một thuyền một hội với mình sa cơ vào nơi nước biếc rêu sanh.

Than ôi, tự cổ hồng-nhan đa bạc phận, cái xuân-xanh, cái tài, cái sắc là cái gương bạc-mệnh của bạn nữ-lưu như chúng ta, chúng ta là cái mồi dử của các gã ong bướm, thân bồ-liễu dẫu yếu mềm, nhưng con tạo ỡm ờ, biết lấy ai là người tri-kỷ, chơi hoa mà biết tiếc hoa? Như tôi với mợ đây mà gặp nhau, cũng như hai người bạn cùng chung một thuyền bơi trên sông to sóng cả, những lúc nguy hiểm, thời phải hết lòng hết sức giúp đỡ lẫn nhau, tuy ở đời, thân-mình đã là sa cơ nhỡ bước, mà đường duyên phận ông tơ chưa rứt hẳn thời mợ hẵng tạm nương náu, chờ nghe tin tức cậu cả ấy ra làm sao? May ra mà vợ chồng lại đoàn-viên một nhà tình vợ nghĩa chồng lại đằm-thắm như lúc mới gặp nhau thời đó là nợ ba-sinh mình còn được hưởng phúc, mợ sẽ đem cái tài sắc làm bạn với cậu ấy cho hết lòng, thờ chồng nuôi con cho hết đạo, cái danh hiền-phụ di truyền hậu-thế, thời ai chẳng phải khen?

Chớ bây giờ nước đã đánh phèn, muốn trong cũng lỡ ra rồi, không sao được. Mợ mà tự hủy mình đi, thời có ích chi, con thơ để lại cho ai, có phải là mang ác vào mình, mà lỗi đạo cùng chồng sau này, vì chồng mợ tòng chinh bên quí-quốc sống thác chưa tường, sao nỡ đành tâm không nghĩ giả nghĩa cho chồng vội đem thân bồ liễu chôn nơi dưới đất, nỡ lòng nào không nghĩ đến những lúc vợ chồng mới lấy nhau, đầu gối tay ấp, biết bao tình ân ái, bỏ đi không nghĩ đến sao nên?»

Mợ cả nghe nói cũng đã hồi tâm, im một lúc rồi hỏi:

«Cô bảo thế tôi rất cám ơn, nhưng chẳng biết bây-giờ tôi đi đâu? Mà cô là ai, xin cho tôi biết, để mai sau nếu tôi có được vẻ vang thì tôi sẽ đến mà tạ lại ơn lòng đã chỉ bảo điều hay!»

Người con gái ấy nói: «Tôi đây tên là Huệ-Lan năm nay cũng đã 20 rồi, bởi lúc bé song-thân sớm lên cõi tiên, một thân lưu lạc, họ hàng không có, cho nên phải vào sóm Bình-Khang, tập hát đã 3, 4 năm nay rồi. Tôi ở đây cũng là một sự bất-đắc-dĩ, một cái khổ, nên cũng không phải là quyết lưu luyến mãi chốn này đâu, chẳng qua cô-thân đất khách, thì phải mượn chốn ca-lầu này làm nơi túc-xá, chờ nghe tin tức xem bên họ còn ai quen thời đến nương nhờ. Tôi cũng biết chen chân vào với các chị em nhà nghề, chi cho khỏi miệng thế mai mỉa là đồ móc túi bom xu, tự nghĩ cũng lấy làm nhục nhã lắm, như những lúc quan viên đến hát, nào chị em người thì liếc, người thì đưa mắt, cười cười nói nói ôm ôm bế bế, mà mình nghĩ thẹn quá không sao như họ được. Nếu không thế, thì Cửu-Má lại la giầy mắng mỏ:

Chả biết làm sao, chỉ mình biết cho mình mà thôi, nghĩ đến đường duyên phận lúc nào thì thật là ngao ngán, thật là đời bây giờ duyên hờ hững thì nhiều, ai cũng nói có tình tri-kỷ, mà tri-kỷ đến lừa lọc nhau là hết, bọn chị em thời lả lơi vờ vĩnh, duyên ông bám duyên bà, đến đồng bạc trắng là xong, còn bọn nam-nhi họ, thời phần nhiều không như các cụ nho ngày trước cho hát là một cách chơi phong-nhã nữa, họ cũng chỉ chơi cho hoa tàn, chơi cho liễu chán hoa chê, thế rồi là thôi.

Thật trong các hạng tu-mi-nam-tử, ít khi gập được người văn-chương tao-nhã, biết câu truyện bạc-mệnh của chị em mình: Thôi thời đã liều ba bẩy cũng liều, mợ cũng là người ngày nay nhỡ bước, thời hãy tạm ở cùng tôi nương náu ít lâu, chờ xem sau này sẽ liệu, chớ bây giờ mợ đi đâu được. Nếu mợ bằng lòng thế, thì đứa con mợ, để tôi gửi người bà con đem về nhà quê nuôi hộ, mỗi năm cho người ta ít quà bánh nhì nhằng, gọi là đền công dưỡng-dục: Mợ có nhan-sắc, lại có chữ-nghĩa, vào đây thì chả sợ không bằng ai?

Mợ cả nghe nói mặt mày ngơ ngẩn, bụng bảo dạ: «Bây giờ đến nông nỗi phải đi hát nuôi thân thời nhục lắm, tiếng thơm của bố biết lấy đâu đắp điếm cho tròn như ngày xưa, nhưng đã đến nguồn cơn này thì đi đâu cho được, phải đành ở tạm đây ít lâu, xem sao đã: Thôi cho hay hồng-nhan bạc phận, cũng liều nhắm mắt đưa chân, mà xem con tạo soay vần ra sao!:»

Mợ nghĩ thế cho nên bảo cô Huệ-Lan: «Thôi được, cô bảo thế tôi cũng xin vâng, vậy trăm sự nhờ cô chỉ vẽ, thân tôi đã đến nước này, cũng đành ngậm đắng nuốt cay với giời!»

Huệ-Lan bèn đưa mợ ra mắt Cửu-Má:

Mụ này nguyên trước cũng là cô-đầu ở tỉnh N: cách giao-thiệp, ngón lẳng lơ làm cho nhiều tay công-tử mất cửa mất nhà, bây giờ giở về già rồi, thì lại lấy lẽ một ông Chánh-Tổng: Mụ nhờ trước có đi hát, được quen biết nhiều các chị em, cho nên mới lấy ít tiền của cụ Chánh lập nhà hát riêng ở Hànội. Các chị em ở với mụ cũng được tất cả là 4 người, đến mợ cả nữa là năm... Mụ nghe Huệ-Lan nói truyện, mợ cả, lại thấy hình-dung mợ có vẻ phong-lưu-nhan-sắc thì mụ có ý mừng: Bèn lập-tức xuất tiền ra may cho mợ cả một cái áo suyến sài-gòn chơn, một đôi giầy mới để lấy bộ cánh chào mời tiếp đãi các quan viên. Cửu-Má bèn đổi tên cho mợ mà gọi là Chúc-lan.

Từ đó mợ ở yên đấy, ăn mặc không phải lo, nhưng lắm phen nghĩ cũng cực-thân, là vì cách tiếp đãi chào mời khách, mợ không quen cùng không chịu được những cách lả-lơi ong bướm của họ; Cửu-Má thường kiếm lời khuyên nhủ mợ, nhưng mợ không nghe, một niềm khép kín buồng loan mà mặc cho ong bướm đi về một ai, không màng chi tới. Cửu-Má thấy vậy lấy làm giận lắm, bèn cả tiếng la giầy, nhiều khi mụ nổi tam-bành mụ lên, nói mợ cả nhiều câu rất cay đắng, mợ cả phải bấm bụng chịu, không hề hở răng than vãn với ai.

Tuy vậy, mà cửa hàng Cửu-Má khách Tràng-khanh thường đua nhau lũ lượt ra vào, vì vốn biết nhan sắc mợ, lại thấy người con nhà thi-thơ, văn-chương có, nên bọn họ lấy làm mến lắm, tuy mắt xanh nhiều tay chưa lọt mà những bực hào-phú phong-nhã thường hát có chầu chi tới vài chục là thường, không kể những chầu hát các quan chi tới 4, 5 chục.

Thương ôi mảnh sắt vào lò,

Bấy lâu nay biết giầy vò đến đâu,

Chúc-Lan ơi, mợ cả ơi, thật mợ đã đem cái tài cái sắc làm gương cho khách hồng-quần soi chung, thương thay người bạc-mệnh!

— Hết chương 5 —

Mục lục Cành hoa điểm tuyết

  1. 1Đoạn thứ nhất (phần 1)15 phút
  2. 2Đoạn thứ nhất (phần 2)14 phút
  3. 3Đoạn thứ hai (phần 1)16 phút
  4. 4Đoạn thứ hai (phần 2)14 phút
  5. 5Đoạn thứ hai (phần 3)15 phút
  6. 6Đoạn thứ ba (phần 1)20 phút
  7. 7Đoạn thứ ba (phần 2)20 phút

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảĐặng Trần Phất (1902 – 1929)
Năm mất1929
Xuất bản lần đầu1921
Tình trạngHết thời hạn bảo hộ quyền tài sản tại Việt Nam từ 01/01/1980
Nguồn văn bảnWikisource tiếng Việt
Giọng đọcBảo Trang — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →