Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Gặp gỡ bên dòng suối

Các-men · Chương 1/6 · của Prosper Mérimée

⏱ 19 phút🎙️ Giọng Bảo Trang📖 19.706 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Đàn bà nào cũng đắng như mật. Nhưng trong…
  2. 4:59Anh sẽ thấy điếu này khá ngon đấy, tôi…
  3. 7:23Chưa kịp để ý đến cái ra hiệu của…
  4. 9:32Chúng tôi tới quán trọ. Nó đúng như anh…
  5. 11:33Nếu tôi không lầm, tôi nói, bài anh vừa…
  6. 14:15Hắn đâu? An-tô-ni-ô hỏi khẽ.
  7. 15:31Vừa nói chúng tôi vừa đi, đã đủ xa…
  8. 16:48Thằng dẫn đường của ông đã bán đứng tôi,…

Chương 1: Gặp gỡ bên dòng suối

Đàn bà nào cũng đắng như mật. Nhưng trong đời nàng có hai lúc ngọt ngào: một lúc trên giường cưới, một lúc khi nằm xuống cõi chết. Lời thơ cổ của Pa-la-đát.

Tôi vẫn luôn ngờ rằng các nhà địa lý chẳng hiểu mình nói gì, khi họ đặt bãi chiến trường Mun-đa ở vùng đất của người Bát-tu-li gốc Các-ta-gơ, gần thị trấn Môn-đa bây giờ, cách Mác-bê-da chừng hai dặm về phía bắc. Dựa vào những phỏng đoán riêng của tôi trên văn bản cuốn Chiến tranh Tây Ban Nha của một tác giả vô danh, cùng vài tư liệu góp nhặt trong thư viện tuyệt vời của quận công Ô-xu-na, tôi cho rằng phải tìm quanh vùng Mông-ti-gia mới ra cái nơi đáng nhớ, nơi Xê-da lần cuối cùng đánh canh bạc được ăn cả ngã về không với những người bênh vực nền cộng hoà. Đầu mùa thu năm một nghìn tám trăm ba mươi, nhân có mặt ở xứ An-đa-lu-xi-a, tôi làm một chuyến đi khá dài để gỡ cho xong những mối ngờ còn lại. Một bản khảo cứu tôi sắp công bố, tôi hy vọng, sẽ không để lại chút hồ nghi nào trong đầu các nhà khảo cổ ngay thẳng. Trong lúc chờ bài luận của tôi giải xong câu đố địa lý đang khiến cả giới học giả châu Âu nín thở, tôi muốn kể các bạn nghe một câu chuyện nhỏ. Câu chuyện ấy chẳng phán định gì về vấn đề hấp dẫn kia, tức là Mun-đa nằm ở đâu.

Ở Coóc-đô-ba, tôi thuê một người dẫn đường với hai con ngựa, rồi lên đường, hành lý chỉ có cuốn Hồi ký chiến tranh của Xê-da và mấy chiếc sơ mi. Một hôm, đang lang thang trên phần cao của cánh đồng Ca-chê-na, mệt rã rời, khát muốn chết, nắng như đổ chì thiêu cháy da, tôi đang thành tâm nguyền rủa cả Xê-da lẫn mấy đứa con của Pôm-pê, thì chợt thấy, cách con đường mòn khá xa, một bãi cỏ xanh nhỏ lác đác cói với lau sậy. Thế nghĩa là gần đây có suối. Quả nhiên, lại gần mới thấy bãi cỏ ấy thật ra là một vũng lầy, nơi một con suối chảy tới rồi mất hút. Con suối dường như chảy ra từ một khe hẹp giữa hai sườn núi cao của dãy Ca-bra. Tôi đoán cứ ngược lên sẽ gặp nước mát hơn, ít đỉa ít ếch hơn, và biết đâu có chút bóng râm giữa những tảng đá. Tới cửa khe, ngựa của tôi hí vang, lập tức có tiếng một con ngựa khác hí đáp lại, mà tôi không trông thấy nó. Đi chưa được trăm bước, khe núi bỗng mở rộng, bày ra trước mắt một thứ đấu trường thiên nhiên, rợp bóng mát nhờ những vách đá cao bao quanh. Khó mà tìm đâu ra chỗ nghỉ chân nào hứa hẹn với khách đường xa hơn thế. Dưới chân vách đá dựng đứng, dòng suối phun lên sủi bọt, rơi xuống một cái bể nhỏ lót cát trắng như tuyết. Năm sáu cây sồi xanh đẹp đẽ, quanh năm khuất gió và mát rượi nhờ hơi suối, mọc ven bờ, phủ lên mặt nước một vòm bóng dày. Quanh bể là thảm cỏ mịn, óng ánh, làm giường còn êm hơn bất cứ quán trọ nào trong vòng mười dặm.

Vinh dự tìm ra chốn đẹp đẽ ấy không thuộc về tôi. Khi tôi bước vào, đã có một người nằm nghỉ ở đó, chắc là đang ngủ. Tiếng ngựa hí làm anh ta thức giấc. Anh ta đứng dậy, tiến lại gần con ngựa của mình, con vật đã nhân lúc chủ ngủ mà gặm một bữa cỏ no nê quanh đấy. Đó là một chàng trai trẻ, tầm vóc trung bình nhưng trông rắn rỏi, ánh mắt u tối và kiêu hãnh. Nước da có lẽ từng đẹp, nhưng nắng gió đã làm nó sạm hơn cả mái tóc. Một tay anh ta cầm dây cương, tay kia cầm khẩu súng loa nòng bằng đồng. Thú thật, thoạt đầu khẩu súng và vẻ dữ dằn của người cầm nó làm tôi hơi giật mình. Nhưng nghe nói về kẻ cướp nhiều quá mà chưa gặp lần nào, tôi đã thôi tin là có kẻ cướp. Vả lại, tôi từng thấy bao nhiêu bác chủ trại lương thiện vũ trang tận răng chỉ để đi chợ, nên thấy một khẩu súng chưa đủ cớ để ngờ vực tư cách người lạ. Rồi tôi tự nhủ, anh ta lấy mấy chiếc sơ mi với cuốn sách in khổ nhỏ của tôi để làm gì kia chứ. Thế là tôi gật đầu chào người cầm súng một cách thân mật, mỉm cười hỏi có phải tôi đã làm anh ta mất giấc. Anh ta không đáp, nhìn tôi từ đầu đến chân. Rồi như đã vừa lòng, anh ta quay sang nhìn kỹ y như thế người dẫn đường của tôi, lúc ấy vừa đi tới. Tôi thấy anh dẫn đường tái mặt, đứng sững lại, sợ ra mặt. Gặp phải chuyện chẳng lành rồi, tôi nghĩ. Nhưng sự khôn ngoan bảo tôi ngay rằng chớ để lộ chút lo lắng nào. Tôi xuống ngựa, bảo người dẫn đường tháo hàm thiếc, rồi quỳ bên bờ suối, nhúng cả đầu lẫn tay xuống nước. Xong tôi nằm sấp, uống một ngụm thật dài, như những người lính tồi của Ghê-đê-ôn trong Kinh Thánh.

Trong lúc đó tôi vẫn để mắt đến người dẫn đường và người lạ. Anh dẫn đường lại gần một cách miễn cưỡng. Còn người kia có vẻ không có ý gì xấu với chúng tôi, vì anh ta đã thả con ngựa ra, và khẩu súng lúc đầu chĩa ngang giờ đã quay nòng xuống đất.

Nghĩ mình chẳng nên chấp chuyện người ta có vẻ coi mình chẳng ra gì, tôi nằm dài trên cỏ, thản nhiên hỏi người cầm súng có mang theo bật lửa không. Đồng thời tôi rút hộp xì gà ra. Người lạ vẫn không nói gì, móc túi lấy hộp đá lửa, vội vàng bật lửa cho tôi. Rõ ràng anh ta đã dịu đi, vì anh ta ngồi xuống đối diện tôi, tuy vẫn không rời khẩu súng. Châm xong điếu của mình, tôi chọn điếu ngon nhất còn lại, hỏi anh ta có hút không.

— Có, thưa ông, anh ta đáp.

Đó là những lời đầu tiên anh ta nói ra. Tôi để ý thấy anh ta không nuốt âm xờ như người An-đa-lu-xi-a, từ đó tôi đoán anh ta cũng là khách đường xa như tôi, chỉ có điều không phải nhà khảo cổ.

— Anh sẽ thấy điếu này khá ngon đấy, tôi vừa nói vừa đưa cho anh ta một điếu xì gà Ha-ba-na hảo hạng.

Anh ta khẽ nghiêng đầu, châm điếu thuốc vào điếu của tôi, lại gật đầu cảm ơn, rồi bắt đầu hút, ra chiều khoan khoái lắm.

— Chà, anh ta thốt lên, chầm chậm nhả hơi đầu tiên qua miệng và mũi. Đã lâu lắm rồi tôi không được hút!

Ở Tây Ban Nha, một điếu xì gà cho và nhận là đã kết tình khách chủ, cũng như ở phương Đông người ta chia nhau bánh và muối. Anh chàng của tôi hoá ra cởi mở hơn tôi tưởng. Có điều, tuy tự nhận là dân vùng Mông-ti-gia, anh ta có vẻ không thạo vùng này mấy. Anh ta không biết tên thung lũng xinh đẹp chúng tôi đang ngồi. Anh ta không kể được tên làng nào quanh đây. Rồi khi tôi hỏi có thấy quanh vùng những bức tường đổ nát, những viên ngói lớn có gờ, những phiến đá chạm trổ không, anh ta thú thật chưa bao giờ để ý những thứ ấy. Bù lại, về ngựa thì anh ta rất sành. Anh ta chê ngựa của tôi, mà chê thì chẳng khó gì. Rồi anh ta kể gia phả con ngựa của mình, xuất thân từ trại ngựa nổi tiếng Coóc-đô-ba. Quả là một con vật quý, dai sức đến mức, theo lời chủ nó, có lần nó đã chạy ba mươi dặm trong một ngày, lúc phi nước đại, lúc chạy nước kiệu lớn. Đang thao thao giữa chừng, người lạ bỗng im bặt, như ngạc nhiên và bực mình vì lỡ nói nhiều quá.

— Ấy là vì tôi đang rất vội đi Coóc-đô-ba, anh ta nói tiếp, hơi lúng túng. Tôi có việc phải đi cầu cạnh các quan toà về một vụ kiện.

Vừa nói anh ta vừa nhìn An-tô-ni-ô, người dẫn đường của tôi. An-tô-ni-ô cúi gằm mặt.

Bóng mát và dòng suối làm tôi khoan khoái đến nỗi sực nhớ ra mấy lát giăm bông tuyệt hảo mà bạn bè tôi ở Mông-ti-gia đã bỏ vào túi đồ của người dẫn đường. Tôi bảo đem ra, mời người khách lạ cùng ăn bữa lót dạ bất ngờ. Nếu anh ta đã lâu không được hút thuốc, thì tôi đồ rằng ít ra cũng bốn mươi tám tiếng rồi anh ta chưa được ăn. Anh ta ăn ngấu nghiến như sói đói. Tôi nghĩ cuộc gặp gỡ với tôi quả là trời run rủi cho con người đáng thương này. Còn người dẫn đường của tôi thì ăn ít, uống còn ít hơn, và chẳng nói một câu nào, dù từ đầu chuyến đi anh ta đã tỏ ra là tay lắm mồm có một không hai. Sự có mặt của người khách hình như làm anh ta khó chịu. Có một nỗi ngờ vực nào đó khiến hai người giữ khoảng cách với nhau, mà tôi không đoán ra được nguyên do.

Mẩu bánh mì và miếng giăm bông cuối cùng đã hết sạch. Mỗi người đã hút thêm điếu xì gà thứ hai. Tôi bảo người dẫn đường thắng yên cương, đang định chào từ biệt người bạn mới thì anh ta hỏi tôi định nghỉ đêm ở đâu.

Chưa kịp để ý đến cái ra hiệu của người dẫn đường, tôi đã trả lời rằng mình sẽ tới quán trọ Con Quạ.

— Chỗ trọ ấy tồi lắm, không hợp với người như ông đâu. Tôi cũng tới đó, nếu ông cho phép tôi đi cùng, ta sẽ đi chung đường.

— Rất sẵn lòng, tôi vừa nói vừa lên ngựa.

Người dẫn đường đang giữ bàn đạp cho tôi lại nháy mắt ra hiệu lần nữa. Tôi đáp lại bằng cái nhún vai, như để bảo anh ta rằng tôi hoàn toàn yên tâm. Và chúng tôi lên đường.

Những cái ra hiệu bí ẩn của An-tô-ni-ô, vẻ lo lắng của anh ta, vài lời buột miệng của người lạ, nhất là chuyến đi ba mươi dặm và lời giải thích khó tin kia, đã đủ cho tôi hình dung người bạn đường của mình là ai. Tôi chẳng nghi ngờ gì nữa, mình đang đi cùng một tay buôn lậu, có khi là một tên cướp. Nhưng thì đã sao. Tôi hiểu tính người Tây Ban Nha đủ để chắc chắn rằng chẳng có gì phải sợ một người đã cùng mình ăn và cùng mình hút thuốc. Chính sự có mặt của anh ta còn là tấm bùa che chở chắc chắn trước mọi cuộc gặp gỡ xấu. Vả lại, tôi cũng thích biết một tên cướp đường là thế nào. Chẳng phải ngày nào cũng gặp, và ở cạnh một kẻ nguy hiểm cũng có cái thú riêng, nhất là khi thấy hắn hiền lành, đã thuần.

Tôi mong dần dần khiến người lạ thổ lộ tâm sự, nên dù người dẫn đường cứ nháy mắt lia lịa, tôi vẫn lái câu chuyện sang bọn cướp đường. Dĩ nhiên tôi nói về chúng bằng giọng kính trọng. Hồi ấy ở An-đa-lu-xi-a có một tên cướp lừng danh tên là Hô-xê Ma-ri-a, chiến tích của hắn ai ai cũng bàn tán. Tôi tự hỏi, biết đâu mình đang đi cạnh chính Hô-xê Ma-ri-a. Tôi kể những chuyện mình biết về người anh hùng ấy, chuyện nào cũng khen ngợi hắn, và tôi nói to lên lòng thán phục tính gan dạ và hào hiệp của hắn.

— Hô-xê Ma-ri-a chỉ là một thằng đểu, người lạ lạnh lùng nói.

Anh ta tự đánh giá mình cho công bằng đấy chăng, hay là khiêm tốn quá đáng? Tôi thầm hỏi. Bởi cứ ngắm mãi người bạn đường, tôi đã đem được tờ truy nã Hô-xê Ma-ri-a, từng đọc dán ở cổng không biết bao nhiêu thành phố An-đa-lu-xi-a, mà áp vào anh ta. Đúng rồi, chính hắn đây. Tóc vàng, mắt xanh, miệng rộng, răng đẹp, tay nhỏ, áo sơ mi vải mịn, áo khoác nhung cúc bạc, ghệt da trắng, ngựa màu hồng mã. Hết còn nghi ngờ gì nữa. Nhưng thôi, hãy tôn trọng chuyện người ta muốn giấu mặt.

Chúng tôi tới quán trọ. Nó đúng như anh ta tả, nghĩa là một trong những quán tồi tàn nhất mà tôi từng gặp. Một gian phòng lớn vừa làm bếp, vừa làm phòng ăn, vừa làm phòng ngủ. Lửa nhóm trên một phiến đá phẳng giữa phòng, khói thoát qua một cái lỗ khoét trên mái, hay đúng hơn là đọng lại, thành một đám mây lơ lửng cách mặt đất vài thước. Dọc chân tường trải năm sáu tấm chăn cũ vẫn phủ lưng la, đó là giường cho khách. Cách nhà hai chục bước, hay đúng hơn là cách cái gian phòng độc nhất tôi vừa tả, có một thứ lán làm chuồng ngựa. Trong chốn ở dễ thương này, ít ra là lúc ấy, chẳng có ai ngoài một bà già và một con bé chừng mười, mười hai tuổi, cả hai đen nhẻm như bồ hóng, quần áo rách rưới kinh khủng. Tôi nghĩ bụng, dân cư của thành Mun-đa cổ xưa chỉ còn lại có thế này thôi ư. Hỡi Xê-da, hỡi Xếch-xtút Pôm-pê, các ngài mà sống lại thì hẳn ngạc nhiên lắm thay.

Vừa trông thấy người bạn đường của tôi, bà già đã kêu lên kinh ngạc:

— A, ngài Đôn Hô-xê!

Đôn Hô-xê cau mày, giơ một tay lên ra lệnh, bà già im bặt. Tôi quay sang người dẫn đường, kín đáo ra hiệu cho anh ta hiểu rằng anh ta chẳng còn gì để bảo tôi về con người tôi sắp ngủ chung đêm nay. Bữa tối khá hơn tôi tưởng. Trên một cái bàn nhỏ cao chừng một gang tay, người ta dọn cho chúng tôi một con gà trống già xào với cơm và cả đống ớt, rồi ớt trộn dầu, cuối cùng là món ga-xpa-chô, một thứ nộm ớt. Ba món cay như thế buộc chúng tôi phải năng tìm tới túi da đựng rượu Mông-ti-gia, rượu ngon tuyệt. Ăn xong, thấy một cây đàn măng-đô-lin treo trên tường, mà ở Tây Ban Nha đâu đâu cũng có măng-đô-lin, tôi hỏi con bé hầu bàn có biết chơi không.

— Không ạ, nó đáp. Nhưng ngài Đôn Hô-xê thì chơi hay lắm!

— Phiền anh, tôi nói, hát cho tôi nghe một bài. Tôi say mê âm nhạc nước anh lắm.

— Tôi không thể từ chối điều gì với một ông khách tử tế như thế, lại cho tôi những điếu xì gà ngon như thế, Đôn Hô-xê vui vẻ nói to.

Rồi anh ta bảo đưa đàn cho mình, vừa đàn vừa hát. Giọng anh ta khàn khàn mà vẫn dễ nghe, điệu nhạc buồn và lạ, còn lời thì tôi không hiểu lấy một chữ.

— Nếu tôi không lầm, tôi nói, bài anh vừa hát không phải điệu Tây Ban Nha. Nó giống những điệu dân ca tôi từng nghe ở các tỉnh miền bắc, và lời hẳn là tiếng Bát-xcơ.

— Phải, Đôn Hô-xê đáp, giọng u ám.

Anh ta đặt cây đàn xuống đất, khoanh tay, ngồi nhìn đống lửa đang lụi dần với một vẻ buồn lạ lùng. Dưới ngọn đèn đặt trên bàn, gương mặt vừa cao quý vừa dữ dằn ấy làm tôi nhớ tới quỷ Xa-tăng trong thơ Min-tơn. Có lẽ cũng như hắn, người bạn đường của tôi đang nghĩ về chốn cũ đã bỏ đi, về cảnh lưu đày phải chịu vì một lỗi lầm. Tôi cố khơi lại câu chuyện, nhưng anh ta không đáp, chìm đắm trong những ý nghĩ buồn bã. Bà già đã đi nằm ở một góc phòng, sau tấm chăn thủng căng trên sợi dây. Con bé đã theo bà vào cái góc dành riêng cho phái đẹp ấy. Lúc ấy người dẫn đường của tôi đứng dậy, mời tôi ra chuồng ngựa với anh ta. Nghe vậy, Đôn Hô-xê như sực tỉnh, hỏi giật giọng anh ta đi đâu.

— Ra chuồng ngựa, người dẫn đường đáp.

— Để làm gì? Ngựa có ăn rồi. Ngủ ở đây, ông đây sẽ cho phép.

— Tôi sợ ngựa của ông bị ốm. Tôi muốn ông ra xem, biết đâu ông biết phải chữa thế nào.

Rõ ràng An-tô-ni-ô muốn nói chuyện riêng với tôi. Nhưng tôi không muốn gây ngờ vực cho Đôn Hô-xê, và tình thế đã đến nước này, tôi thấy cách tốt nhất là tỏ ra hết sức tin cậy. Vì vậy tôi bảo An-tô-ni-ô rằng tôi chẳng biết gì về ngựa, và tôi buồn ngủ rồi. Đôn Hô-xê theo anh ta ra chuồng ngựa, chẳng mấy chốc quay vào một mình. Anh ta bảo tôi con ngựa chẳng làm sao cả, nhưng người dẫn đường của tôi quý nó quá, đang lấy áo mình chà xát cho nó ra mồ hôi, và định thức trắng đêm làm cái việc êm ái ấy. Trong lúc đó tôi đã nằm duỗi trên mấy tấm chăn phủ lưng la, quấn kỹ áo choàng để khỏi đụng vào chúng. Đôn Hô-xê xin lỗi vì đã đường đột nằm cạnh tôi, rồi nằm chắn ngang cửa, không quên thay lại thuốc mồi cho khẩu súng, cẩn thận đặt nó dưới cái túi dết anh ta dùng làm gối. Năm phút sau khi chúc nhau ngủ ngon, cả hai chúng tôi đã ngủ say.

Tôi tưởng mình đủ mệt để ngủ được ở một chỗ như thế. Nhưng được chừng một tiếng, những cơn ngứa ngáy rất khó chịu lôi tôi ra khỏi giấc đầu. Vừa hiểu ra thủ phạm là gì, tôi đứng dậy, tin chắc rằng ngủ nốt đêm ngoài trời còn hơn dưới mái nhà chẳng chút hiếu khách này. Tôi rón rén nhón gót ra cửa, bước qua chỗ nằm của Đôn Hô-xê, người đang ngủ giấc ngủ của kẻ ngay lành, và khéo léo đến mức ra được khỏi nhà mà anh ta không hề thức giấc. Cạnh cửa có một chiếc ghế dài bằng gỗ, tôi nằm lên đó, xoay xở sao cho dễ chịu nhất để ngủ nốt đêm. Tôi sắp nhắm mắt lần thứ hai thì hình như thấy bóng một người và bóng một con ngựa đi qua trước mặt, cả hai lặng lẽ không một tiếng động. Tôi ngồi dậy, tưởng nhận ra An-tô-ni-ô. Ngạc nhiên thấy anh ta ra khỏi chuồng vào giờ này, tôi đứng lên đi lại phía anh ta. Anh ta đã dừng lại, vì thấy tôi trước.

— Hắn đâu? An-tô-ni-ô hỏi khẽ.

— Trong quán, đang ngủ. Hắn chẳng sợ rệp. Mà sao anh lại dắt ngựa đi?

Tôi để ý thấy, để ra khỏi lán không gây tiếng động, An-tô-ni-ô đã cẩn thận quấn bốn vó con vật bằng mấy mảnh chăn rách.

— Nói nhỏ thôi, lạy Chúa, An-tô-ni-ô bảo tôi. Ông không biết hắn là ai đâu. Hắn là Hô-xê Na-va-rô, tên cướp khét tiếng nhất xứ An-đa-lu-xi-a. Suốt cả ngày tôi ra hiệu mà ông chẳng chịu hiểu.

— Cướp hay không, can gì đến tôi, tôi đáp. Hắn có cướp gì của chúng ta đâu, và tôi dám cá là hắn cũng chẳng muốn.

— Thì đã đành. Nhưng ai nộp được hắn thì có hai trăm đồng vàng. Tôi biết cách đây dặm rưỡi có một đồn kỵ binh cầm giáo, trước khi trời sáng tôi sẽ đem về mấy tay cứng cựa. Tôi đã định dắt ngựa của hắn đi, nhưng con ấy dữ lắm, ngoài gã Na-va-rô ra không ai lại gần được.

— Quỷ tha ma bắt anh đi, tôi nói. Con người tội nghiệp ấy đã làm gì anh mà anh đi tố giác? Vả lại anh có chắc hắn là tên cướp anh nói không?

— Chắc chắn mười mươi. Lúc nãy hắn theo tôi ra chuồng ngựa, bảo tôi: “Mày có vẻ biết tao. Mày mà nói cho ông khách tốt bụng kia biết tao là ai thì tao bắn vỡ sọ.” Ông cứ ở lại, ông cứ ở bên hắn, ông chẳng có gì phải sợ. Hễ biết có ông ở đó thì hắn chẳng nghi gì đâu.

Vừa nói chúng tôi vừa đi, đã đủ xa quán để không ai nghe được tiếng móng sắt của con ngựa. Chỉ trong nháy mắt, An-tô-ni-ô đã gỡ hết đống giẻ quấn chân nó, sửa soạn nhảy lên lưng. Tôi đã thử cả van nài lẫn doạ nạt để giữ anh ta lại.

— Tôi là thằng nghèo, thưa ông, anh ta nói. Hai trăm đồng vàng đâu phải chuyện bỏ đi, nhất là khi được dịp trừ cho xứ sở một con sâu mọt như thế. Nhưng ông coi chừng. Gã Na-va-rô mà thức dậy thì hắn sẽ vồ lấy khẩu súng, lúc ấy liệu hồn ông đấy. Còn tôi, tôi đã đi quá xa, không lùi được nữa. Ông tự liệu lấy mà xoay xở.

Thằng cha đã ngồi trên yên. Hắn thúc hai gót, chẳng mấy chốc tôi đã mất dấu hắn trong bóng tối.

Tôi rất giận người dẫn đường, và cũng khá lo. Nghĩ một lát, tôi quyết định quay vào quán. Đôn Hô-xê vẫn ngủ, chắc đang bù lại những mệt nhọc và những đêm thức trắng của mấy ngày phiêu bạt. Tôi phải lay mạnh mới đánh thức được anh ta. Không bao giờ tôi quên được ánh mắt dữ tợn của anh ta, và cái động tác chộp lấy khẩu súng, mà tôi đã đề phòng đặt ra xa chỗ anh ta nằm một quãng.

— Thưa anh, tôi nói, xin lỗi đã đánh thức anh. Nhưng tôi có một câu hỏi ngớ ngẩn: anh có vui lòng thấy nửa tá kỵ binh cầm giáo kéo đến đây không?

Anh ta bật dậy, hỏi bằng một giọng khủng khiếp:

— Ai bảo ông thế?

— Tin từ đâu không quan trọng, miễn là tin đúng.

— Thằng dẫn đường của ông đã bán đứng tôi, nhưng nó sẽ phải trả giá! Nó đâu rồi?

— Tôi không biết. Chắc ở chuồng ngựa. Nhưng có người bảo tôi rằng...

— Ai bảo ông? Không thể là bà già được...

— Một người tôi không quen biết. Thôi, khỏi nói nhiều, anh có lý do gì để không chờ lính tới, có hay không? Nếu có thì đừng phí thì giờ. Bằng không thì chúc ngủ ngon, và xin lỗi đã làm anh mất giấc.

— Chà, thằng dẫn đường của ông! Thằng dẫn đường của ông! Ngay từ đầu tôi đã ngờ nó. Nhưng mà... rồi nó sẽ biết tay! Vĩnh biệt ông. Cầu Chúa đền đáp ông ơn này thay tôi. Tôi không đến nỗi xấu xa hẳn như ông tưởng đâu... phải, trong tôi vẫn còn chút gì đáng để một người tử tế thương xót... Vĩnh biệt ông. Tôi chỉ tiếc một điều, là không trả được ơn ông.

— Để đền cái ơn ấy, Đôn Hô-xê, anh hãy hứa với tôi đừng ngờ ai cả, đừng nghĩ đến chuyện trả thù. Đây, mấy điếu xì gà để anh hút dọc đường. Thượng lộ bình an!

Và tôi chìa tay ra. Anh ta siết chặt tay tôi, không nói gì, cầm lấy khẩu súng và túi dết, nói mấy câu với bà già bằng một thứ tiếng lóng tôi không hiểu được, rồi chạy ra lán ngựa. Lát sau, tôi đã nghe tiếng anh ta phi ngựa xa dần trên cánh đồng.

Còn tôi, tôi lại nằm xuống chiếc ghế dài, nhưng không sao ngủ lại được. Tôi tự hỏi mình làm thế có đúng không, cứu khỏi giá treo cổ một tên cướp, có khi là một tên sát nhân, chỉ vì đã cùng hắn ăn giăm bông và cơm kiểu Va-len-xi-a. Chẳng phải tôi đã phản người dẫn đường của mình, người đứng về phía luật pháp đó sao, chẳng phải tôi đã đẩy anh ta vào tay một kẻ hung ác sẽ báo thù đó sao? Nhưng còn bổn phận của khách với chủ! Thành kiến của người hoang dã thôi, tôi tự nhủ, rồi tôi sẽ phải chịu trách nhiệm về mọi tội ác tên cướp ấy sắp gây ra. Thế nhưng, cái bản năng của lương tâm cưỡng lại mọi lý lẽ kia, có phải là thành kiến không? Có lẽ trong tình thế tế nhị ấy, tôi không có cách nào thoát ra mà lòng không ân hận. Tôi vẫn còn đang chơi vơi chưa biết việc mình làm là đúng hay sai, thì thấy xuất hiện nửa tá kỵ binh cùng An-tô-ni-ô, anh ta khôn ngoan đi tít đằng sau. Tôi ra đón, báo cho họ biết tên cướp đã trốn đi hơn hai tiếng rồi. Viên đội hỏi bà già, bà đáp rằng bà có biết gã Na-va-rô, nhưng sống một mình, bà không bao giờ dám liều mạng mà tố giác hắn. Bà còn nói thêm, cứ mỗi lần hắn ghé qua, hắn đều có thói đi lúc nửa đêm. Phần tôi, tôi phải đi mấy dặm đến chỗ quan trấn, trình hộ chiếu và ký một tờ khai, sau đó người ta mới cho tôi tiếp tục những cuộc tìm tòi khảo cổ. An-tô-ni-ô để bụng giận tôi, vì ngờ rằng chính tôi đã làm anh ta mất hai trăm đồng vàng. Dù vậy, chúng tôi vẫn chia tay nhau ở Coóc-đô-ba như hai người bạn. Ở đó, tôi thưởng cho anh ta một khoản hậu hĩnh hết mức túi tiền của tôi cho phép.

— Hết chương 1 —

Mục lục Các-men

  1. 1Gặp gỡ bên dòng suối19 phút
  2. 2Cô gái Bô-hê-miêng ở Coóc-đô-baĐang thu âm
  3. 3Bông hoa keo ở xưởng thuốc láĐang thu âm
  4. 4Từ người lính thành kẻ buôn lậuĐang thu âm
  5. 5Gi-bran-ta và khe núi cuối cùngĐang thu âm
  6. 6Đôi điều về dân Bô-hê-miêngĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảProsper Mérimée (1803 – 1870)
Năm mất1870
Xuất bản lần đầu1845
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Carmen, 1845
Giọng đọcBảo Trang — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →