Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Cậu bé Vận May ở Trại Gào Thét

của Bret Harte

⏱ 26 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 23.143 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Trại Gào Thét đang náo động. Không thể là…
  2. 5:56Giờ nó sống nổi không? – Người ta hỏi…
  3. 7:40Những món đóng góp cũng đặc trưng như thế:…
  4. 10:30Chẳng có gì.
  5. 13:39Tôi với con lừa ấy, – lão thường nói,…
  6. 16:05Nhưng, – Lão Cụt nói, nhanh chóng tận dụng…
  7. 22:51Đó là mùa hè vàng son của Trại Gào…
  8. 26:12Nó chết rồi, – một người nói.

Trại Gào Thét đang náo động. Không thể là một vụ đánh nhau, vì năm một nghìn tám trăm năm mươi, chuyện ấy chẳng đủ mới lạ để kéo cả khu trại tới. Không những các mương đãi vàng và các khu mỏ đều bỏ trống, mà cả quán tạp hoá của Tát-tơn cũng vắng bóng những tay cờ bạc quen mặt, chính những kẻ, như người ta còn nhớ, đã bình thản đánh bài tiếp cái hôm Pít người Pháp và Giô người Ca-na-ca bắn nhau chết ngay trên quầy rượu ở phòng trước. Cả trại tụ tập trước một căn chòi tồi tàn ở rìa ngoài khoảng đất trống. Người ta trò chuyện khe khẽ, nhưng tên một người đàn bà cứ được nhắc đi nhắc lại. Đó là một cái tên khá quen thuộc trong trại: Xan người Chê-rô-ki.

Có lẽ càng nói ít về cô ta càng tốt. Cô ta là một người đàn bà thô lỗ, và e rằng nhiều tội lỗi. Nhưng lúc ấy cô là người đàn bà duy nhất ở Trại Gào Thét, và đang nằm trong cơn đau đớn ngặt nghèo, đúng lúc cô cần nhất sự chăm sóc của người cùng giới. Phóng đãng, bị ruồng bỏ, không thể cứu vãn, vậy mà cô đang chịu một cực hình khó chịu đựng ngay cả khi có những người phụ nữ cảm thông che chở, mà giờ lại khủng khiếp hơn trong cảnh cô độc. Lời nguyền đầu tiên của loài người đã giáng xuống cô trong cái cô độc nguyên thuỷ, cái cô độc hẳn đã khiến hình phạt cho tội lỗi đầu tiên khủng khiếp đến thế. Có lẽ đó là một phần chuộc tội của cô, rằng vào lúc cô thiếu nhất sự dịu dàng và chăm sóc theo bản năng của người cùng giới, cô chỉ gặp những bộ mặt nửa khinh khỉnh của bạn bè đàn ông. Dẫu vậy, tôi nghĩ vài người đứng xem cũng động lòng trước nỗi đau của cô. Xan-đi Típ-tơn cho rằng "Xan khổ quá", và khi nghĩ tới tình cảnh của cô, trong một thoáng gã quên bẵng rằng mình đang giấu một con át và hai con bồi trong tay áo.

Cũng nên thấy rằng tình huống này rất mới lạ. Chuyện chết chóc ở Trại Gào Thét chẳng có gì hiếm, nhưng chuyện sinh đẻ thì là chuyện mới. Đã có người bị tống khỏi trại một cách hiệu quả, dứt khoát, không còn đường quay lại. Nhưng đây là lần đầu tiên có người được đón vào trại ngay từ lúc mới chào đời. Vì thế mà náo động.

– Lão vào trong đó đi, Lão Cụt, – một công dân có tiếng tăm tên là Ken-tắc nói với một kẻ đang đứng vạ vật. – Vào đó xem lão làm được gì. Lão có kinh nghiệm mấy chuyện ấy mà.

Có lẽ sự lựa chọn ấy cũng hợp lý. Ở những miền khác, Lão Cụt từng được coi là chủ của hai gia đình. Thật ra chính vì vài thủ tục pháp lý không hợp lệ trong chuyện ấy mà Trại Gào Thét, một chốn tị nạn, mới có được lão làm bạn. Đám đông tán thành sự lựa chọn, và Lão Cụt đủ khôn để vâng theo số đông. Cửa khép lại sau lưng vị bác sĩ kiêm bà đỡ bất đắc dĩ, còn Trại Gào Thét ngồi xuống bên ngoài, hút tẩu, chờ kết quả.

Đám người tụ tập chừng một trăm gã. Một hai gã thật sự đang trốn tránh pháp luật, vài gã là tội phạm, và tất cả đều liều lĩnh. Nhìn bề ngoài, họ chẳng để lộ chút gì về quá khứ và tính cách. Tên vô lại nhất lại có khuôn mặt như thiên thần trong tranh, mái tóc vàng dày dặn. Ốc-hớt, một tay cờ bạc, có vẻ u sầu và đăm chiêu trí thức như chàng hoàng tử Hăm-lét. Người gan dạ và bình tĩnh nhất thì cao chưa tới mét rưỡi, giọng nhỏ nhẹ, cử chỉ bẽn lẽn, rụt rè. Cái chữ "dân anh chị" dùng để gọi họ là một danh hiệu chứ không phải một định nghĩa. Có lẽ về những chi tiết nhỏ như ngón tay, ngón chân, vành tai, trại có phần thiếu hụt, nhưng những thiếu sót nhỏ ấy chẳng làm giảm sức mạnh chung của họ. Người khoẻ nhất chỉ còn ba ngón ở bàn tay phải. Tay thiện xạ nhất chỉ còn một mắt.

Đó là dáng vẻ bên ngoài của những người đàn ông đang tản mác quanh căn chòi. Trại nằm trong một thung lũng hình tam giác, kẹp giữa hai quả đồi và một con sông. Lối ra duy nhất là một con đường mòn dốc đứng vượt qua đỉnh quả đồi trước mặt căn chòi, giờ đang được vầng trăng mới mọc soi sáng. Người đàn bà đang đau đớn có lẽ đã nhìn thấy nó từ chiếc giường gỗ thô nơi cô nằm, thấy nó uốn khúc như một sợi chỉ bạc cho tới khi mất hút giữa những vì sao trên cao.

Một đống lửa cành thông khô làm cuộc tụ họp thêm thân mật. Dần dần cái tính vô tư tự nhiên của Trại Gào Thét quay trở lại. Người ta thoải mái đặt cược và nhận cược về kết quả. Ba ăn năm rằng Xan sẽ qua khỏi, thậm chí rằng đứa bé sẽ sống, lại thêm những vụ cược phụ về giới tính và màu da của vị khách lạ sắp tới. Giữa một cuộc tranh luận sôi nổi, những người ngồi gần cửa nhất bỗng kêu lên, và cả trại dừng lại lắng nghe. Vượt lên trên tiếng thông rì rào rên rỉ, tiếng sông chảy xiết và tiếng lửa nổ lách tách, vang lên một tiếng khóc the thé, nhõng nhẽo, một tiếng khóc chưa từng nghe thấy trong trại. Thông thôi rên rỉ, sông thôi chảy xiết, lửa thôi nổ lách tách. Tưởng như Thiên Nhiên cũng dừng lại lắng nghe.

Cả trại đứng bật dậy như một người! Có người đề nghị cho nổ một thùng thuốc súng. Nhưng xét tới tình trạng của người mẹ, những ý kiến khôn ngoan hơn đã thắng, và người ta chỉ bắn vài phát súng lục. Vì dù là do tay nghề đỡ đẻ thô thiển của trại hay vì lý do nào khác, Xan người Chê-rô-ki đang lịm dần nhanh chóng. Chưa đầy một giờ sau, cô đã như leo lên con đường gồ ghề dẫn tới những vì sao, và cứ thế rời khỏi Trại Gào Thét, khỏi tội lỗi và nhục nhã của nó, mãi mãi. Tôi không nghĩ tin ấy làm họ xao động mấy, ngoài việc băn khoăn về số phận đứa bé.

– Giờ nó sống nổi không? – Người ta hỏi Lão Cụt.

Câu trả lời không chắc chắn. Sinh vật duy nhất khác trong khu trại cùng giới và cũng đang nuôi con như Xan người Chê-rô-ki là một con lừa cái. Có vài phỏng đoán xem có hợp không, nhưng người ta cứ thử. Cách ấy còn ít đáng ngờ hơn cái cách người xưa nuôi Rô-mu-lút và Rê-mút bằng sữa sói, và có vẻ cũng thành công chẳng kém.

Lo xong những việc ấy, mất thêm một giờ nữa, cửa mở ra, và đám đông đàn ông lo lắng, đã tự xếp thành hàng, lần lượt đi vào. Bên cạnh chiếc giường thấp hay đúng hơn là cái kệ, nơi hình dáng người mẹ nổi rõ lạnh lẽo dưới lớp chăn, có một cái bàn gỗ thông. Trên bàn đặt một cái hộp đựng nến, và trong hộp, quấn trong lớp vải nỉ đỏ chói, nằm vị khách mới nhất của Trại Gào Thét. Cạnh cái hộp nến có đặt một chiếc mũ. Công dụng của nó chẳng mấy chốc đã được chỉ rõ.

– Các quý ông, – Lão Cụt nói, với một vẻ pha trộn kỳ lạ giữa uy quyền và sự tự mãn của người đang giữ chức vụ, – các quý ông vui lòng đi vào cửa trước, vòng quanh bàn, rồi ra cửa sau. Ai muốn góp gì cho đứa trẻ mồ côi thì đã có sẵn cái mũ.

Người đầu tiên bước vào vẫn đội mũ. Nhưng khi nhìn quanh, gã bỏ mũ ra, và thế là vô tình làm gương cho người sau. Trong những cộng đồng như thế, việc tốt hay việc xấu đều dễ lây. Khi đoàn người lần lượt đi vào, người ta nghe những lời bình phẩm, có lẽ nhắm vào Lão Cụt trong vai trò người trưng bày nhiều hơn.

– Nó đấy à?

– Bé tí xíu.

– Chưa ra màu gì cả.

– Không to hơn khẩu súng lục bỏ túi.

Những món đóng góp cũng đặc trưng như thế: một hộp thuốc lá bằng bạc, một đồng tiền vàng Tây Ban Nha, một khẩu súng lục hải quân nạm bạc, một cục vàng mẫu, một chiếc khăn tay phụ nữ thêu rất đẹp do tay cờ bạc Ốc-hớt góp, một chiếc ghim cài ngực nạm kim cương, một chiếc nhẫn kim cương mà người góp bảo là "thấy cái ghim kia nên tố thêm hai viên kim cương", một cái dùi cui, một cuốn Kinh Thánh không biết ai góp, một chiếc đinh thúc ngựa bằng vàng, một chiếc thìa uống trà bằng bạc mà tôi tiếc phải nói rằng chữ viết tắt khắc trên đó không phải của người góp, một chiếc kéo phẫu thuật, một con dao trích, một tờ giấy bạc năm bảng của Ngân hàng Anh, và khoảng hai trăm đô la tiền vàng tiền bạc lẻ. Suốt lúc ấy, Lão Cụt giữ vẻ im lặng thản nhiên như người chết ở bên trái lão, vẻ nghiêm trang khó dò như đứa trẻ mới sinh ở bên phải lão.

Chỉ có một sự việc phá vỡ sự đơn điệu của đoàn người kỳ lạ ấy. Khi Ken-tắc nửa tò mò cúi xuống cái hộp nến, đứa bé quay người, và trong một cơn đau, nó nắm lấy ngón tay đang dò dẫm của gã, giữ chặt một lúc. Ken-tắc trông ngượng nghịu, lúng túng. Cái gì đó giống như một vệt đỏ mặt cố hiện lên trên đôi má dãi dầu mưa nắng của gã.

– Cái thằng nhãi ranh chết tiệt! – Gã nói, gỡ ngón tay ra, có lẽ với một vẻ dịu dàng, cẩn thận hơn người ta tưởng gã có thể có.

Lúc đi ra, gã giữ ngón tay ấy hơi tách khỏi những ngón khác, và tò mò ngắm nghía nó. Việc ngắm nghía ấy lại khiến gã buột ra đúng cái câu độc đáo ban nãy về đứa bé. Thật ra, gã có vẻ thích nhắc đi nhắc lại câu ấy.

– Nó vật nhau với ngón tay tớ đấy, – gã nói với Típ-tơn, giơ ngón tay lên. – Cái thằng nhãi ranh chết tiệt!

Bốn giờ sáng cả trại mới đi nghỉ. Trong căn chòi nơi những người canh thức ngồi vẫn còn để đèn, vì đêm ấy Lão Cụt không đi ngủ. Ken-tắc cũng vậy. Gã uống khá nhiều, và say sưa kể lại trải nghiệm của mình, lần nào cũng kết thúc bằng câu chửi rủa đặc trưng của gã dành cho kẻ mới tới. Câu ấy dường như giúp gã khỏi bị nghi oan là mủi lòng, mà Ken-tắc thì có những điểm yếu của phái mạnh. Khi mọi người đã đi ngủ cả, gã đi xuống bờ sông, huýt sáo vẻ trầm ngâm. Rồi gã đi ngược lên khe núi, qua căn chòi, vẫn huýt sáo ra vẻ thản nhiên. Tới một cây gỗ đỏ lớn, gã dừng lại, quay trở lại, lại đi qua căn chòi. Đi được nửa đường xuống bờ sông, gã lại dừng, rồi quay lại gõ cửa. Lão Cụt ra mở.

– Thế nào rồi? – Ken-tắc hỏi, nhìn qua vai Lão Cụt về phía cái hộp nến.

– Mọi sự yên ổn! – Lão Cụt đáp.

– Có gì không?

– Chẳng có gì.

Một khoảng im lặng, một khoảng im lặng ngượng nghịu, Lão Cụt vẫn giữ cửa. Rồi Ken-tắc lại cầu cứu tới ngón tay, giơ nó lên cho Lão Cụt xem.

– Nó vật nhau với ngón này, cái thằng nhãi ranh chết tiệt, – gã nói, rồi bỏ đi.

Hôm sau, Xan người Chê-rô-ki được chôn cất theo cái cách sơ sài mà Trại Gào Thét có thể làm được. Sau khi thi hài cô đã được gửi lại sườn đồi, cả trại họp chính thức để bàn xem nên làm gì với đứa con của cô. Quyết định nhận nuôi nó được thông qua với sự nhất trí và nhiệt tình. Nhưng ngay lập tức nổ ra một cuộc tranh luận sôi nổi về cách thức và khả năng lo cho những nhu cầu của nó. Điều đáng chú ý là cuộc tranh luận không hề có những lời công kích cá nhân dữ dội như các cuộc tranh luận thường thấy ở Trại Gào Thét. Típ-tơn đề nghị gửi đứa bé tới trại Chó Đỏ, cách đó sáu chục cây số, nơi có thể kiếm được phụ nữ chăm sóc. Nhưng lời đề nghị xui xẻo ấy vấp phải sự phản đối dữ dội và nhất loạt. Rõ ràng không kế hoạch nào đòi phải chia tay với tài sản mới của họ lại được xem xét dù chỉ một khắc.

– Vả lại, – Tôm Rai-đơ nói, – bọn ở Chó Đỏ sẽ đánh tráo nó, rồi đưa đứa khác về cho mình.

Ở Trại Gào Thét, cũng như ở những nơi khác, người ta không tin vào sự lương thiện của các trại khác.

Việc đưa một người phụ nữ về trại làm vú nuôi cũng bị phản đối. Người ta lập luận rằng không người phụ nữ đứng đắn nào chịu nhận Trại Gào Thét làm nhà, còn người phát biểu thì nhấn mạnh rằng "anh em không muốn có thêm loại kia nữa". Lời ám chỉ thiếu tử tế ấy về người mẹ đã khuất, dù nghe có vẻ khắc nghiệt, lại là cơn co giật đầu tiên của sự đứng đắn, triệu chứng đầu tiên cho thấy trại đang hồi sinh. Lão Cụt chẳng đưa ra ý kiến gì. Có lẽ lão thấy hơi tế nhị khi xen vào việc chọn người có thể kế nhiệm chức vụ của mình. Nhưng khi được hỏi, lão quả quyết rằng lão và con Gin-ni, con vật có vú đã nhắc tới, có thể xoay xở nuôi nấng đứa bé. Kế hoạch có cái gì đó độc đáo, độc lập và anh hùng, khiến cả trại ưng ý. Lão Cụt được giữ lại. Người ta sai mang vài thứ từ Xác-ra-men-tô về.

– Nhớ đấy, – người giữ quỹ nói khi dúi túi bụi vàng vào tay người đưa hàng, – loại tốt nhất kiếm được, đăng-ten này, đồ chạm bạc này, diềm xếp nếp này, tốn bao nhiêu cũng mặc!

Lạ thay, đứa bé khoẻ mạnh lớn lên. Có lẽ khí hậu trong lành của trại trên núi đã bù cho những thiếu thốn vật chất. Thiên Nhiên đã đón đứa trẻ bị bỏ rơi vào bầu ngực rộng lớn hơn của mình. Trong bầu không khí hiếm có của chân núi Xi-ê-ra, thứ không khí nồng hương nhựa thông, thứ rượu thanh khiết vừa làm khoẻ người vừa làm phấn chấn, có lẽ nó đã tìm được thức ăn và dưỡng chất, hay một thứ phép hoá học tinh vi biến sữa lừa thành vôi và phốt pho. Lão Cụt nghiêng về ý cho rằng đó là nhờ thứ sau, và nhờ chăm sóc chu đáo.

– Tôi với con lừa ấy, – lão thường nói, – đã làm cha làm mẹ nó!

Rồi lão nói thêm với cái bọc nhỏ bất lực trước mặt:

– Mày đừng có mà bao giờ phản bội bọn tao đấy.

Khi đứa bé được một tháng tuổi, người ta thấy cần phải đặt tên cho nó. Nó thường được gọi là Thằng Nhóc, Con Lão Cụt, Chó Sói Con, ám chỉ cái giọng của nó, và cả bằng cái tên trìu mến của Ken-tắc là Thằng nhãi ranh chết tiệt. Nhưng người ta thấy những cái tên ấy mơ hồ, chẳng thoả đáng, và cuối cùng bỏ chúng đi vì một ảnh hưởng khác. Dân cờ bạc và dân phiêu lưu nói chung hay mê tín, và một hôm Ốc-hớt tuyên bố rằng đứa bé đã mang vận may tới Trại Gào Thét. Chắc chắn là gần đây họ làm ăn phát đạt. Cái tên được thống nhất là Vận May, thêm chữ Tôm-mi đằng trước cho tiện.

Không ai nhắc tới người mẹ, còn người cha thì chẳng ai biết.

– Tốt hơn hết, – Ốc-hớt, con người triết lý, nói, – là chia lại ván bài mới cho tất cả. Gọi nó là Vận May, cho nó khởi đầu đàng hoàng.

Thế là người ta dành riêng một ngày để làm lễ rửa tội. Nghi lễ ấy sẽ ra sao thì bạn đọc nào đã hình dung được phần nào cái vẻ liều lĩnh bất kính của Trại Gào Thét cũng có thể đoán ra. Người chủ trì nghi lễ là một gã tên Bô-xtơn, một tay hay pha trò có tiếng, và dịp này hứa hẹn sẽ cực kỳ khôi hài. Tay châm biếm tài tình ấy đã mất hai ngày chuẩn bị một màn nhại buổi lễ nhà thờ, với những lời ám chỉ sắc sảo về chuyện trong trại. Dàn đồng ca đã được tập dượt kỹ, và Xan-đi Típ-tơn sẽ làm cha đỡ đầu. Nhưng sau khi đoàn rước đã kéo tới lùm cây với nhạc và cờ, và đứa bé đã được đặt trước một bàn thờ giả, thì Lão Cụt bước ra trước đám đông đang chờ đợi.

– Phá đám không phải kiểu của tôi, anh em ạ, – người đàn ông nhỏ bé nói, cứng cỏi nhìn những khuôn mặt quanh mình. – Nhưng tôi thấy chuyện này không được ngay thẳng lắm. Bày trò đùa với đứa bé này, một trò mà nó chẳng hiểu gì, là chơi khăm nó hơi hèn đấy. Mà nếu có ai làm cha đỡ đầu ở đây, tôi muốn xem ai có quyền hơn tôi.

Một khoảng im lặng theo sau lời nói của Lão Cụt. Phải ghi công cho mọi tay hài hước rằng người đầu tiên thừa nhận lời lão là đúng chính là gã châm biếm vừa bị phá trò.

– Nhưng, – Lão Cụt nói, nhanh chóng tận dụng lợi thế, – chúng ta tới đây để làm lễ rửa tội, và chúng ta sẽ làm. Ta tuyên bố mày là Tô-mát Vận May, theo luật pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và bang Ca-li-pho-ni-a, xin Chúa chứng giám.

Đó là lần đầu tiên tên của Chúa được nhắc tới trong trại mà không phải để báng bổ. Hình thức lễ rửa tội có lẽ còn khôi hài hơn cả những gì gã châm biếm đã nghĩ ra. Nhưng lạ thay, chẳng ai thấy thế, và chẳng ai cười. Tôm-mi được rửa tội nghiêm trang như dưới mái nhà của một gia đình có đạo, và khóc, và được dỗ dành đúng như phép tắc.

Và thế là công cuộc hồi sinh bắt đầu ở Trại Gào Thét. Gần như không ai nhận thấy, một sự thay đổi diễn ra trong khu trại. Căn chòi dành cho Tôm-mi Vận May, hay Vận May như người ta thường gọi hơn, là nơi đầu tiên có dấu hiệu tiến bộ. Nó được giữ sạch sẽ cẩn thận và quét vôi trắng. Rồi nó được lát ván, che phủ và dán giấy tường. Chiếc nôi bằng gỗ hồng mộc, được thồ trên lưng la suốt hơn một trăm cây số, theo cách nói của Lão Cụt, "đã làm cho mấy món đồ khác chết hết". Vì thế việc sửa sang lại căn chòi trở thành cần thiết. Những gã vẫn quen ghé vào chỗ Lão Cụt để xem "Vận May dạo này thế nào" có vẻ đánh giá cao sự thay đổi ấy. Và để tự vệ, cái cơ sở cạnh tranh là quán tạp hoá của Tát-tơn cũng phải động cựa, mua về một tấm thảm và mấy tấm gương. Những gì tấm gương phản chiếu về diện mạo của Trại Gào Thét khiến người ta có những thói quen giữ vệ sinh cá nhân nghiêm ngặt hơn. Rồi Lão Cụt lại áp đặt một kiểu cách ly đối với những ai muốn được vinh dự bế Vận May. Đó là một nỗi nhục cay đắng cho Ken-tắc, người vì cái tính xuề xoà của một bản tính rộng rãi và thói quen của cuộc sống vùng biên, đã bắt đầu coi quần áo như một lớp da thứ hai, giống như da rắn, chỉ tự bong ra khi đã mục, khi bị cấm hưởng đặc quyền ấy vì vài lý do thận trọng. Nhưng cái mới có sức ảnh hưởng tinh tế đến nỗi từ đó, chiều nào gã cũng xuất hiện trong chiếc áo sơ mi sạch, mặt vẫn còn bóng vì mới rửa.

Những quy tắc vệ sinh về đạo đức và xã hội cũng không bị bỏ qua. Tôm-mi, người được cho là dành trọn cuộc đời để kiên trì cố ngủ, không được để tiếng ồn quấy rầy. Những tiếng la hét, gào thét đã đem lại cho trại cái tên chẳng hay ho kia không được phép vang tới tầm nghe của chỗ Lão Cụt. Những người đàn ông nói chuyện thì thầm, hay hút tẩu với vẻ nghiêm trang như người da đỏ. Chuyện chửi thề được ngầm từ bỏ trong khu vực thiêng liêng ấy. Và khắp trại, một câu cửa miệng phổ biến là "Mẹ kiếp vận may!" hay "Đồ vận đen!" cũng bị bỏ, vì nó giờ đã mang ý nghĩa cá nhân. Ca hát thì không bị cấm, vì người ta cho rằng nó có tác dụng xoa dịu, làm yên lòng. Và một bài hát do Giắc Tàu Chiến, một thuỷ thủ người Anh từ các thuộc địa ở châu Úc của Nữ hoàng, hát, được ưa chuộng làm bài ru ngủ. Đó là một bài kể buồn thảm về những chiến công của chiến hạm A-rê-thu-xa bảy mươi tư khẩu pháo, hát bằng giọng thứ nghèn nghẹn, cuối mỗi đoạn là một câu ngân kéo dài như hấp hối: "Trên boong con tàu A-rê-thu-xa." Thật đẹp mắt khi thấy Giắc bế Vận May, đung đưa qua lại như theo nhịp sóng của con tàu, ngân nga khúc hát của dân hải quân ấy. Không biết nhờ cái điệu đung đưa đặc biệt của Giắc hay nhờ độ dài của bài hát, vì nó có tới chín mươi đoạn, và được hát tiếp một cách tận tâm, thong thả tới tận cùng cay đắng, mà khúc ru ấy thường có hiệu quả như mong muốn. Những lúc ấy, đám đàn ông nằm duỗi dài dưới gốc cây trong ánh hoàng hôn mùa hè êm dịu, hút tẩu, đắm mình trong những âm điệu du dương. Một ý niệm mơ hồ rằng đây là hạnh phúc đồng quê lan toả khắp trại.

– Cái thứ này, – gã Xi-mân dân Luân Đôn nói, trầm ngâm tựa khuỷu tay, – đúng là thiên đường.

Nó làm gã nhớ tới Grin-uých.

Vào những ngày hè dài, Vận May thường được mang tới khe núi nơi Trại Gào Thét đãi vàng. Ở đó, trên một tấm chăn trải trên cành thông, nó nằm trong khi đám đàn ông làm việc ở các mương phía dưới. Về sau, người ta còn vụng về cố trang trí chỗ nằm ấy bằng hoa và cây bụi thơm, và thường có ai đó mang tới cho nó một chùm kim ngân hoang, đỗ quyên, hay những bông hoa bướm sặc sỡ. Đám đàn ông bỗng nhận ra rằng có vẻ đẹp và ý nghĩa trong những thứ vặt vãnh mà bấy lâu họ vẫn vô tình giẫm dưới chân. Một mảnh mica lấp lánh, một mẩu thạch anh nhiều màu, một hòn sỏi sáng từ lòng suối trở nên đẹp đẽ trong những con mắt đã được làm cho trong sáng, tinh tường như thế, và lúc nào cũng được để dành cho Vận May. Thật kỳ lạ khi rừng và sườn đồi cho ra biết bao báu vật "dùng được cho Tôm-mi". Được vây quanh bởi những món đồ chơi mà chưa đứa trẻ nào ngoài xứ thần tiên từng có, mong là Tôm-mi mãn nguyện. Nó có vẻ hạnh phúc êm đềm, dù ở nó có một vẻ nghiêm trang trẻ thơ, một ánh trầm ngâm trong đôi mắt xám tròn, đôi khi khiến Lão Cụt lo lắng. Nó lúc nào cũng dễ bảo và ngoan ngoãn. Người ta còn ghi lại rằng có lần, bò ra ngoài cái chuồng của nó, một hàng rào cành thông đan quanh giường, nó lộn cổ rơi xuống bờ đất mềm, và cứ giữ nguyên tư thế ấy, đôi chân lốm đốm chổng lên trời, ít nhất năm phút với vẻ nghiêm trang không nao núng. Người ta kéo nó ra mà nó không kêu một tiếng. Tôi ngần ngại không muốn ghi lại nhiều ví dụ khác về sự khôn ngoan của nó, vì không may chúng chỉ dựa vào lời kể của những người bạn thiên vị. Vài chuyện không khỏi nhuốm màu mê tín.

– Tớ vừa bò lên bờ, – một hôm Ken-tắc nói, thở hổn hển vì kích động, – và chết tớ đi nếu nó không đang nói chuyện với một con chim giẻ cùi đậu trên lòng nó. Hai đứa ở đấy, thoải mái và thân thiện chẳng kém gì, cứ ríu ra ríu rít với nhau như hai thiên thần nhỏ.

Dẫu sao, dù đang bò trên cành thông hay nằm ngửa lười biếng chớp mắt nhìn lá cây trên đầu, chim vẫn hót cho nó, sóc vẫn líu lo cho nó, hoa vẫn nở cho nó. Thiên Nhiên là vú nuôi và bạn chơi của nó. Vì nó, Thiên Nhiên để lọt qua kẽ lá những tia nắng vàng rơi xuống vừa tầm tay nó. Thiên Nhiên gửi những làn gió lang thang tới thăm nó, mang theo hương nguyệt quế và nhựa thông. Với nó, những cây gỗ đỏ cao vút gật gù thân mật, buồn ngủ, những con ong nghệ vo ve, và những con quạ kêu quang quác như đệm khúc ru ngủ.

Đó là mùa hè vàng son của Trại Gào Thét. Đó là thời phất lên, và vận may ở bên họ. Các khu mỏ cho rất nhiều vàng. Trại ghen tị giữ gìn những đặc quyền của mình, nhìn người lạ bằng con mắt ngờ vực. Chẳng ai khuyến khích người mới tới định cư. Và để sự biệt lập thêm trọn vẹn, họ đã đăng ký chiếm đất cả hai bên bức tường núi bao quanh trại. Điều ấy, cùng với tiếng tăm về tài bắn súng lục điêu luyện lạ thường, giữ cho vùng đất riêng của Trại Gào Thét không bị xâm phạm. Người đưa hàng, mối liên lạc duy nhất của họ với thế giới xung quanh, thỉnh thoảng lại kể những chuyện kỳ lạ về trại.

– Trên Gào Thét người ta có một con phố còn đẹp hơn mọi con phố ở Chó Đỏ, – anh ta bảo. – Quanh nhà họ có dây leo, có hoa, mà ngày nào họ cũng tắm rửa hai lần. Nhưng họ dữ với người lạ lắm, và họ tôn thờ một đứa bé lai da đỏ.

Cùng với sự thịnh vượng của trại là mong muốn tiến bộ hơn nữa. Người ta đề nghị xây một khách sạn vào mùa xuân năm sau, và mời một hai gia đình đứng đắn tới ở, vì Vận May, nó có thể được lợi từ việc có phụ nữ bầu bạn. Cái giá mà sự nhượng bộ với phái nữ này đòi hỏi ở những người đàn ông vốn hoài nghi dữ dội về đức hạnh và sự hữu ích nói chung của phái ấy, chỉ có thể giải thích bằng tình thương của họ đối với Tôm-mi. Vài người vẫn cố cưỡng lại. Nhưng quyết định ấy phải ba tháng nữa mới thực hiện được, và thiểu số ngoan ngoãn nhượng bộ, hy vọng sẽ có chuyện gì đó xảy ra ngăn nó lại. Và chuyện đã xảy ra.

Mùa đông năm một nghìn tám trăm năm mươi mốt sẽ còn được nhớ mãi ở vùng chân núi. Tuyết phủ dày trên dãy Xi-ê-ra, mọi con suối trên núi thành sông, mọi con sông thành hồ. Mọi hẻm núi, khe núi đều biến thành những dòng nước cuồn cuộn đổ xuống sườn đồi, quật đổ những cây khổng lồ, rải đất đá gỗ rác dọc đồng bằng. Chó Đỏ đã hai lần ngập nước, và Trại Gào Thét đã được báo trước.

– Nước đã đưa vàng vào những khe núi này, – Lão Cụt nói. – Nó đã tới đây một lần, rồi sẽ tới nữa!

Và đêm ấy, nhánh sông phía bắc bỗng tràn bờ, quét qua thung lũng tam giác của Trại Gào Thét.

Trong cảnh hỗn loạn của nước ào ào, cây đổ ầm ầm, gỗ gãy răng rắc, và bóng tối như chảy theo dòng nước, xoá nhoà thung lũng xinh đẹp, người ta chẳng làm được bao nhiêu để tập hợp khu trại đang tan tác. Khi trời sáng, căn chòi của Lão Cụt, gần bờ sông nhất, đã biến mất. Ngược lên khe núi, họ tìm thấy thi thể người chủ xấu số của nó. Nhưng niềm tự hào, niềm hy vọng, niềm vui, Vận May của Trại Gào Thét, đã biến mất. Họ đang buồn bã quay về thì một tiếng gọi từ bờ sông khiến họ quay lại.

Đó là một chiếc thuyền cứu hộ từ hạ lưu lên. Người trên thuyền bảo họ đã vớt được một người đàn ông và một đứa bé, gần như kiệt sức, cách đây chừng ba cây số về phía dưới. Có ai biết họ không, họ có phải người ở đây không?

Chỉ cần liếc một cái là họ thấy Ken-tắc nằm đó, bị đè nát, bầm dập tàn nhẫn, nhưng vẫn ôm Vận May của Trại Gào Thét trong tay. Khi cúi xuống cặp đôi kỳ lạ ấy, họ thấy đứa bé đã lạnh, không còn mạch đập.

– Nó chết rồi, – một người nói.

Ken-tắc mở mắt.

– Chết rồi? – Gã yếu ớt nhắc lại.

– Phải, anh bạn ạ, mà anh cũng đang hấp hối rồi.

Một nụ cười rạng lên trong mắt Ken-tắc đang hấp hối.

– Hấp hối à! – Gã nhắc lại. – Nó đang mang tớ đi cùng đấy. Bảo anh em là giờ tớ đã có Vận May bên mình rồi.

Và người đàn ông khoẻ mạnh ấy, ôm chặt đứa bé mong manh như kẻ chết đuối bám lấy cọng rơm, trôi đi vào dòng sông mờ tối vẫn chảy mãi về biển cả không ai biết.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảBret Harte (1836 – 1902)
Năm mất1902
Xuất bản lần đầu1868
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Luck of Roaring Camp, Bret Harte, 1868; bản in trong tập Selected Stories of Bret Harte (Project Gutenberg số 1312)
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →