Tôi nghỉ lại một đêm ở trại cừu của Rát Kin-ni, bên nhánh Cát của sông Nu-ê-xét. Ông Kin-ni và tôi vốn là người lạ cho tới lúc tôi gọi "Có ai không!" bên cột buộc ngựa của ông. Nhưng từ lúc ấy cho tới khi tôi lên đường sáng hôm sau, theo luật lệ đất Tếch-dát, chúng tôi đã là bạn bè không ai chối cãi được.
Ăn tối xong, ông chủ trại và tôi khuân ghế ra ngoài căn nhà hai buồng, ra cái hiên không lát sàn, lợp bằng cành cây bụi và cỏ khô. Chân sau ghế lún sâu vào lớp đất thịt nện chặt, mỗi người tựa lưng vào một cây cột gỗ du của mái hiên, hút thuốc lá hiệu Con Bò Tót, và vui vẻ tranh cãi về chuyện thiên hạ.
Còn về chuyện truyền đạt cho đủ vẻ quyến rũ của buổi tối trên thảo nguyên hôm ấy, thì đành chịu thôi. Phải là người chép sử táo bạo lắm mới dám tả một đêm đầu xuân ở Tếch-dát. Chỉ một bản kê khai là đủ.
Trang trại nằm trên đỉnh một con dốc thoai thoải. Thảo nguyên quanh đó, xen những khe suối cạn và những đám cây bụi, xương rồng tối sẫm, bao quanh chúng tôi như một cái bát tối mà chúng tôi là cặn nằm dưới đáy. Bầu trời ghim chặt chúng tôi ở đó như một cái nắp màu ngọc lam. Không khí diệu kỳ, ngây ngất mùi gió trong lành và ngọt ngào khó quên vì hương của bao dặm hoa dại, làm cho từng hơi thở có hương có vị. Trên trời có một ngọn đèn pha tròn, lớn, dịu dàng, mà chúng tôi biết không phải là trăng, mà là chiếc đèn lồng kín của mùa hạ đang tới săn đuổi mùa xuân rụt rè về phương bắc. Trong bãi quây gần nhất, một đàn cừu nằm im lặng, cho tới khi một cơn hoảng hốt vô cớ khiến một nhóm chen chúc dồn vào nhau trong tiếng chân rầm rập như trống. Ngoài ra còn có tiếng một gia đình chó sói đồng cỏ sủa ăng ẳng bên kia chuồng xén lông, và tiếng chim đớp muỗi lích chích trong cỏ cao. Nhưng ngay cả những tạp âm ấy cũng hầu như chẳng làm gợn dòng thác trong trẻo của tiếng chim nhại rơi xuống từ chục bụi cây, lùm cây quanh đó. Chẳng có gì là kỳ cục nếu ai đó nhón chân lên thử chạm vào các vì sao, chúng treo sáng và gần đến thế.
Vợ ông Kin-ni, một phụ nữ trẻ và đảm đang, ở lại trong nhà. Bà lo những việc nội trợ thường ngày, những việc mà tôi để ý thấy bà làm với một niềm tự hào phơi phới và mãn nguyện. Chúng tôi đã ăn tối ở một buồng. Lát sau, trong khi Kin-ni và tôi ngồi ngoài, từ buồng kia bỗng bùng lên một tràng nhạc rực rỡ. Nếu tôi đánh giá đúng được nghệ thuật chơi dương cầm, thì người trình tấu khúc phóng tác vui nhộn ấy đã làm chủ được những bí mật của phím đàn một cách đáng khen. Một cây dương cầm, mà lại được chơi hay như thế, đối với tôi là điều lạ lùng trong một căn nhà trại nhỏ bé, chẳng hứa hẹn gì. Hẳn mặt tôi lộ vẻ ngạc nhiên khi nhìn Rát Kin-ni, vì ông cười cái kiểu nhỏ nhẹ của người miền Nam, và gật đầu với tôi qua làn khói thuốc mờ ánh trăng.
"Ở trại cừu chẳng mấy khi được nghe tiếng ồn dễ chịu như thế," ông nói, "nhưng tôi chẳng thấy lý do gì mà không chiều theo nghệ thuật và những điều thanh nhã chỉ vì mình tình cờ sống giữa rừng bụi. Đời sống ở đây cô quạnh đối với đàn bà, và nếu chút âm nhạc làm nó dễ chịu hơn thì sao lại không có? Tôi nghĩ thế."
"Một quan niệm khôn ngoan và rộng lượng," tôi tán thành. "Mà bà Kin-ni chơi hay lắm. Tôi không thông thạo âm nhạc, nhưng tôi phải gọi bà là một người trình tấu giỏi khác thường. Bà có kỹ thuật, và có sức diễn tả hơn mức bình thường."
Trăng rất sáng, bạn hiểu cho, và tôi thấy trên mặt Kin-ni một vẻ thích thú đầy ẩn ý, như thể đằng sau nó có những điều có thể kể ra.
"Ông đi theo đường mòn từ nhánh Hai Cây Du lên," ông nói, giọng hứa hẹn. "Lúc qua đó, hẳn ông đã thấy một túp lều cũ bỏ hoang bên tay trái, dưới một lùm cây."
"Có thấy," tôi nói. "Có một đàn lợn rừng đang ủi đất quanh đó. Nhìn những bãi quây đổ nát tôi biết không còn ai ở."
"Chuyện âm nhạc này bắt đầu từ chỗ ấy," Kin-ni nói. "Tôi chẳng ngại kể ông nghe trong lúc ta hút thuốc. Đó là chỗ ông già Can A-đam từng sống. Ông có chừng tám trăm con cừu mê-ri-nốt lai, và một cô con gái tốt như lụa, đẹp như sợi dây buộc mới tinh trên con ngựa giá ba chục đô-la. Tôi cũng chẳng ngại thú thật rằng tôi có tội, tội lảng vảng: cứ rảnh lúc nào ngoài mùa cừu đẻ và mùa xén lông là tôi lại lảng vảng quanh trại ông già Can. Cô ấy tên là Ma-ri-la, và tôi đã tính toán đâu ra đấy rằng số phận cô ấy là trở thành bà chủ của trại Lô-mi-tô, thuộc quyền sở hữu của ngài R. Kin-ni, nơi ông đang là vị khách được chào đón và trân trọng.
Phải nói ông già Can chẳng phải tay nuôi cừu xuất sắc gì. Ông là một lão già nhỏ thó, lưng còng, to chừng cái bao súng, râu trắng lởm chởm, và bị kết án phải nói không ngừng. Ông già Can mờ nhạt trong cái nghề mình chọn tới mức bọn nuôi bò còn chẳng thèm ghét. Mà một người nuôi cừu chưa đủ nổi tiếng để bị dân nuôi bò thù ghét thì dễ chết đi chẳng ai khóc, chẳng ai ca tụng.
Nhưng cô Ma-ri-la ấy thì nhìn rất mát mắt. Mà cô lại là người nội trợ khéo nhất hạng. Tôi là hàng xóm gần nhất, và tôi thường cưỡi ngựa sang Hai Cây Du từ chín tới mười sáu lần một tuần, mang theo bơ tươi, một đùi thịt nai, hay mẫu thuốc tắm cừu mới, chỉ như cái cớ vớ vẩn để gặp Ma-ri-la. Ma-ri-la với tôi dần dần quấn quýt lấy nhau ra trò, và tôi khá chắc là mình sắp quăng được thòng lọng qua cổ cô ấy mà dắt về trại Lô-mi-tô. Chỉ có điều cô ấy thấm đẫm lòng hiếu thảo với ông già Can tới mức tôi chẳng bao giờ dụ được cô ấy bàn chuyện nghiêm túc.
Cả đời ông chưa từng thấy ai đầy ắp kiến thức mà lại ít khôn ngoan như ông già Can. Ông am tường mọi ngành học vấn, nắm hết những điều sơ đẳng của mọi học thuyết và sự khai sáng. Chẳng ai gợi được cho ông già ý tưởng gì mới về bất cứ từ loại hay dòng tư tưởng nào. Người ta cứ tưởng ông là giáo sư về thời tiết, chính trị, hoá học, vạn vật học và nguồn gốc của từ nguyên. Ai nêu ra bất kỳ đề tài nào, ông già Can cũng tóm tắt dồi dào, từ gốc tiếng Hy Lạp cho tới lúc nó được đóng bao bán ra chợ.
Một hôm, vừa xong vụ xén lông mùa thu, tôi cưỡi ngựa sang Hai Cây Du, mang theo một tờ tạp chí thời trang phụ nữ cho Ma-ri-la và một tờ báo khoa học cho ông già Can.
Trong lúc tôi buộc ngựa vào một cây gai, Ma-ri-la chạy ra, sướng phát điên vì một tin không thể chờ được.
'Ôi, anh Rát,' cô nói, mặt đỏ bừng vì sung sướng và hãnh diện, 'anh đoán xem! Bố sắp mua cho em một cây dương cầm. Tuyệt quá phải không anh? Em chưa bao giờ dám mơ có một cây đàn.'
'Vui thật đấy,' tôi nói. 'Anh vẫn luôn mê cái ồn ào dễ chịu của đàn dương cầm. Nó sẽ làm bạn với em nhiều lắm. Bác Can làm thế thật là tốt quá.'
'Em vẫn đang phân vân,' Ma-ri-la nói, 'giữa dương cầm với đàn ống. Đàn ống để phòng khách cũng hay.'
'Cái nào cũng hạng nhất,' tôi nói, 'để bớt cái vắng tiếng ồn quanh trại cừu. Về phần anh,' tôi nói, 'anh chẳng mong gì hơn là buổi tối cưỡi ngựa về nhà, nghe vài điệu van-xơ, vài điệu nhảy, với một người cỡ bằng em ngồi trên ghế đàn mà lùa những nốt nhạc lại.'
'Ôi, anh im đi,' Ma-ri-la nói, 'vào nhà đi. Hôm nay bố không cưỡi ngựa ra ngoài. Bố không được khoẻ.'
Ông già Can ở trong nhà, nằm trên chiếc giường gấp. Ông bị cảm lạnh và ho khá nặng. Tôi ở lại ăn tối.
'Cháu nghe nói bác sắp mua cho Ma-ri-la cây dương cầm,' tôi bảo ông.
'Ừ, phải, cái gì đại loại thế, Rát ạ,' ông nói. 'Lâu nay nó cứ mong có nhạc, và bác định lo cho nó một thứ như thế ngay. Mùa thu này cừu xén được trung bình ba cân một con, và bác sẽ mua cho Ma-ri-la một cây đàn, dù có phải bỏ ra cả tiền bán một vụ len.'
'Tốt lắm ạ,' tôi nói. 'Cô bé xứng đáng được thế.'
'Bác sẽ lên Xan An-tôn theo chuyến len cuối,' bác Can nói, 'và tự tay chọn đàn cho nó.'
'Đưa Ma-ri-la đi cùng cho cô ấy chọn cái mình thích,' tôi gợi ý, 'chẳng tốt hơn sao?'
Lẽ ra tôi phải biết câu ấy sẽ làm bác Can nổi máu. Dĩ nhiên, một người như ông, cái gì cũng biết, sẽ coi đó là một lời chê bai học thức của mình.
'Không, cậu ạ, chẳng tốt hơn chút nào,' ông nói, giật giật chòm râu trắng. 'Trên đời chẳng có ai thẩm định nhạc cụ giỏi hơn bác. Bác có ông chú,' ông nói, 'hùn vốn trong một xưởng đóng đàn dương cầm, và bác đã thấy người ta lắp ráp hàng nghìn cây. Bác biết hết mọi thứ về nhạc cụ, từ đàn ống nhà thờ cho tới cây đàn làm bằng thân cây ngô. Không ai trên đời, cậu ạ, có thể cho bác biết điều gì mới về bất cứ thứ nhạc cụ nào phải gõ, phải thổi, phải cạ, phải quay, phải gảy hay phải lên dây cót.'
'Bố mua cho con cái gì bố thích là được,' Ma-ri-la nói, sướng tới mức chân không đứng yên trên sàn. 'Tất nhiên bố biết phải chọn cái gì rồi. Dương cầm hay đàn ống hay gì con cũng thích như nhau.'
'Có lần ở Xanh Lu-i bác thấy một thứ người ta gọi là dàn nhạc tự động,' bác Can nói, 'mà bác cho là thứ hay nhất về âm nhạc từng được phát minh. Nhưng nhà này không đủ chỗ để. Mà bác đoán nó phải giá cả nghìn đô-la. Bác nghĩ một thứ gì đó thuộc dòng dương cầm sẽ hợp với Ma-ri-la nhất. Nó đã học đàn hai năm ở bên Bớt-xtên. Việc mua đàn bác chẳng tin tưởng giao cho ai ngoài chính mình. Bác nghĩ nếu không đi nuôi cừu thì bác đã thành một trong những nhà soạn nhạc, hay nhà sản xuất dương cầm và đàn ống, giỏi nhất thế giới.'
Bác Can là thế đấy. Nhưng tôi chưa bao giờ mất kiên nhẫn với ông, vì ông thương Ma-ri-la quá. Và cô ấy cũng thương ông y như thế. Ông đã gửi cô sang học trường ở Bớt-xtên hai năm, trong khi gần như phải dốc từng cân len để trả học phí.
Khoảng thứ ba, bác Can lên đường đi Xan An-tôn theo chuyến xe len cuối cùng. Ông chú Ben của Ma-ri-la, sống ở Bớt-xtên, sang ở lại trông trại trong thời gian bác Can đi vắng.
Đường tới Xan An-tôn dài chín mươi dặm, tới ga xe lửa gần nhất cũng bốn mươi dặm, nên bác Can đi mất chừng bốn ngày. Tôi đang ở Hai Cây Du thì một buổi chiều chạng vạng ông lăn bánh trở về. Và ở trên xe, đúng thật, là một cây dương cầm hay một cây đàn ống, chúng tôi không phân biệt được, bọc kín trong mấy bao đựng len, bên trên trùm tấm bạt xe phòng khi mưa. Ma-ri-la nhảy bổ ra, kêu 'Ôi, ôi!', mắt sáng rực, tóc bay tung. 'Bố ơi, bố ơi,' cô reo lên, 'bố mang nó về rồi à, bố mang nó về rồi à?', trong khi nó nằm sờ sờ ngay trước mắt, đàn bà vẫn hay thế.
'Cây dương cầm tốt nhất ở Xan An-tôn,' bác Can nói, vung tay, kiêu hãnh. 'Gỗ hồng mộc thật, tiếng hay nhất, vang nhất mà con từng nghe. Bố nghe ông chủ tiệm chơi thử, thế là mua ngay tại chỗ, trả tiền mặt luôn.'
Tôi, chú Ben, bác Can và một người làm công nhấc nó khỏi xe, khiêng vào nhà, đặt vào một góc. Đó là loại đàn đứng, không nặng lắm, cũng không to lắm.
Rồi bỗng bác Can khuỵu xuống, bảo là mệt lắm. Ông sốt cao, kêu đau ngực. Ông lên giường nằm, trong khi tôi với chú Ben ra tháo ngựa thả vào đồng cỏ, còn Ma-ri-la thì chạy cuống lên kiếm cho ông thứ gì nóng để uống. Nhưng trước đó cô vòng cả hai tay ôm lấy cây đàn, với một nụ cười dịu dàng, như ông vẫn thấy trẻ con ôm món đồ chơi Giáng sinh của chúng.
Khi tôi từ đồng cỏ về, Ma-ri-la đang ở trong buồng có cây đàn. Nhìn dây buộc và bao len trên sàn, tôi biết cô đã mở nó ra. Nhưng giờ cô lại đang buộc tấm bạt trùm lên nó, và mặt cô có một vẻ trắng bệch, nghiêm trang.
'Lại gói âm nhạc vào đấy à, Ma-ri-la?' tôi hỏi. 'Sao không chơi vài bài xem nó chạy dưới yên thế nào?'
'Tối nay thì không, anh Rát,' cô nói. 'Tối nay em không muốn chơi. Bố ốm quá. Anh nghĩ xem, anh Rát, bố trả ba trăm đô-la cho nó đấy, gần một phần ba số tiền bán vụ len!'
'Chà, thế cũng chưa bằng một góc phần ba giá trị của em,' tôi bảo cô. 'Mà anh không nghĩ bác Can ốm tới mức không nghe nổi chút náo động của phím đàn chỉ để làm lễ đặt tên cho cái máy.'
'Tối nay thì không, anh Rát,' Ma-ri-la nói, theo cái cách cô vẫn dùng khi muốn chốt hẳn một chuyện.
Nhưng hoá ra bác Can ốm nặng thật. Bệnh ông trở nên tệ tới mức chú Ben phải thắng yên ngựa phi sang Bớt-xtên mời bác sĩ Xim-xơn. Tôi ở lại xem có cần tới mình việc gì không.
Khi cơn đau dịu đi đôi chút, bác Can gọi Ma-ri-la lại, hỏi: 'Con xem cây đàn của con chưa, con gái? Con có thích không?'
'Đẹp lắm, bố ạ,' cô nói, cúi xuống bên gối ông. 'Con chưa thấy cây đàn nào đẹp như thế. Bố mua cho con, bố thật là tốt, thật là thương con!'
'Bố chưa nghe con chơi tí nào,' bác Can nói, 'mà bố vẫn lắng tai nghe đấy. Giờ sườn bố đỡ đau rồi, con chơi một bài được không, Ma-ri-la?'
Nhưng không, cô khéo léo lảng đi, dỗ dành ông như ông vẫn thấy đàn bà dỗ trẻ con. Hình như cô đã quyết không chạm vào cây đàn ấy lúc này.
Khi bác sĩ Xim-xơn tới, ông bảo chúng tôi rằng bác Can bị viêm phổi, loại nặng nhất, mà ông già đã ngoài sáu mươi, vốn cũng đã gần đất xa trời, nên khó mà còn đứng dậy đi lại được nữa.
Tới ngày thứ tư của trận ốm, ông lại gọi Ma-ri-la, đòi nói chuyện dương cầm. Bác sĩ Xim-xơn có mặt, cả chú Ben và vợ chú Ben nữa, ai cũng cố làm hết sức mình.
'Bố mà làm bất cứ việc gì dính tới âm nhạc thì đã thành công rực rỡ rồi,' bác Can nói. 'Bố đã mua được cây đàn tốt nhất so với giá tiền ở Xan An-tôn. Cây đàn ấy về mọi mặt đều ổn cả chứ, Ma-ri-la?'
'Hoàn hảo, bố ạ,' cô nói. 'Tiếng nó hay nhất mà con từng nghe. Nhưng bố không thử ngủ một lát được à, bố?'
'Không, bố không ngủ,' bác Can nói. 'Bố muốn nghe cây đàn ấy. Bố không tin là con đã thử nó lần nào. Bố đã đi tận Xan An-tôn tự tay chọn nó cho con. Mua nó mất một phần ba vụ len mùa thu, nhưng bố chẳng tiếc nếu nó làm con gái ngoan của bố vui hơn. Con không chơi cho bố nghe một chút được sao, Ma-ri-la?'
Bác sĩ Xim-xơn vẫy Ma-ri-la ra một bên, khuyên cô làm theo ý bác Can cho ông yên lòng. Chú Ben và vợ cũng xin cô như thế.
'Sao em không đánh một hai bài, nhấn bàn đạp giảm âm vào?' tôi hỏi Ma-ri-la. 'Bác Can đã xin em bao nhiêu lần rồi. Nghe em đánh cây đàn bác mua cho em, chắc bác sẽ vui lắm. Em không làm được sao?'
Nhưng Ma-ri-la cứ đứng đó, nước mắt to tròn lăn dài, chẳng nói gì. Rồi cô chạy tới, luồn tay xuống dưới cổ bác Can, ôm ông thật chặt.
'Ơ kìa bố,' chúng tôi nghe cô nói, 'tối qua con chơi nhiều lắm mà. Thật đấy, con đã chơi rồi. Mà nó là cây đàn tuyệt vời lắm, bố không biết con yêu nó thế nào đâu. Tối qua con chơi bài "Đan-đi Xinh Đẹp", rồi "Điệu Pôn-ka Đe Sắt", rồi "Dòng Đa-nuýp Xanh", và nhiều bài nữa. Chắc chắn bố có nghe con chơi một chút, phải không bố? Bố ốm thế này nên con không muốn chơi to.'
'Ừ, ừ,' bác Can nói, 'có lẽ bố có nghe. Có lẽ bố nghe rồi mà quên mất. Đầu óc bố thỉnh thoảng hơi lẩn thẩn. Bố đã nghe ông chủ tiệm chơi nó hay lắm. Con thích nó là bố mừng lắm, Ma-ri-la. Ừ, bố nghĩ bố ngủ được một lát rồi, nếu con ngồi ngay bên bố cho tới khi bố ngủ.'
Chỗ ấy thì Ma-ri-la làm tôi phải đoán mò. Thương ông già tới thế, vậy mà cô nhất quyết không gõ lấy một nốt trên cây đàn ông mua cho. Tôi không tài nào hiểu nổi sao cô lại bảo ông là cô đã chơi rồi, vì tấm bạt chưa từng được lật ra kể từ khi cô trùm lại ngay hôm đàn về. Tôi biết dù sao cô cũng biết đánh đàn chút ít, vì có lần tôi nghe cô chơi được mấy bản nhạc nhảy khá hay trên một cây dương cầm cũ ở trại Chác-cô Lác-gô.
Rồi, chừng một tuần sau, bệnh viêm phổi đã thắng bác Can. Đám tang làm bên Bớt-xtên, tất cả chúng tôi đều sang dự. Tôi chở Ma-ri-la về nhà bằng chiếc xe ngựa nhẹ của mình. Chú Ben và vợ định ở lại với cô ít hôm.
Tối hôm ấy, trong khi những người khác ngồi ngoài hiên, Ma-ri-la dẫn tôi vào buồng có cây đàn.
'Lại đây, anh Rát,' cô nói. 'Giờ em muốn anh xem cái này.'
Cô tháo dây, kéo tấm bạt ra.
Nếu ông đã từng ngồi trên yên mà không có ngựa, hay bắn một khẩu súng không nạp đạn, hay tu một cái chai rỗng, thì ông mới hình dung được moi một bản nhạc ra khỏi cái thứ bác Can đã mua khó tới mức nào.
Đó không phải là một cây dương cầm, mà là một trong những cỗ máy người ta phát minh ra để tự động gõ lên phím dương cầm. Đứng một mình thì nó chẳng phát ra được tiếng nhạc nào, cũng như mấy cái lỗ sáo mà không có cây sáo.
Đó là cây dương cầm bác Can đã chọn. Và đứng bên nó là cô gái tốt bụng, ngoan hiền, trọn vẹn như len nguyên chất, người không bao giờ để ông biết điều đó."
"Còn cái tiếng đàn ông nghe vừa nãy," ông Kin-ni kết luận, "chính là cái máy chơi đàn hộ ấy. Có điều bây giờ nó được đẩy sát vào một cây dương cầm sáu trăm đô-la mà tôi mua cho Ma-ri-la ngay khi chúng tôi cưới nhau."
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn