Chương 1: Con đường vào rừng
Lúc mặt trời lặn, chàng Bờ-rao trẻ tuổi bước ra phố làng Xa-lem. Nhưng vừa qua khỏi ngưỡng cửa, chàng lại ngoái đầu vào để trao nụ hôn từ biệt với người vợ trẻ. Và Phây-thơ, cái tên của vợ chàng có nghĩa là Đức Tin, thật đúng với nàng, cũng thò mái đầu xinh xắn của mình ra phố, để gió đùa với những dải ruy băng hồng trên mũ, trong lúc gọi chàng.
Khi môi nàng đã kề sát tai chàng, nàng thì thầm, khe khẽ và khá buồn:
– Anh yêu ơi, em xin anh hoãn chuyến đi tới sáng mai, đêm nay ngủ trên giường của mình. Một người đàn bà một mình bị những giấc mơ, những ý nghĩ làm cho bối rối đến nỗi có lúc tự sợ chính mình. Anh yêu, em xin anh ở lại với em đêm nay, đúng đêm này trong mọi đêm trong năm.
Chàng Bờ-rao trẻ tuổi đáp:
– Em yêu, Phây-thơ của anh, đúng đêm này trong mọi đêm trong năm, anh lại phải xa em. Chuyến đi, như em gọi đấy, đi rồi về, phải làm cho xong từ giờ tới lúc mặt trời mọc. Sao thế, cô vợ ngọt ngào xinh xắn của anh, em đã nghi ngờ anh rồi sao, khi chúng mình mới cưới nhau có ba tháng?
Phây-thơ với những dải ruy băng hồng nói:
– Thế thì cầu Chúa phù hộ cho anh! Và mong anh về sẽ thấy mọi sự yên lành.
Chàng Bờ-rao kêu lên:
– A-men! Em hãy đọc kinh rồi đi ngủ sớm từ lúc chập tối, sẽ chẳng có gì hại được em đâu.
Thế là họ chia tay. Chàng trai đi tiếp, cho tới khi sắp rẽ ở góc nhà nguyện, chàng ngoái nhìn lại, thấy cái đầu của Phây-thơ vẫn còn ngó theo mình với vẻ u buồn, mặc cho những dải ruy băng hồng.
Chàng nghĩ, lòng nhói đau:
– Phây-thơ bé nhỏ tội nghiệp! Mình thật là một kẻ khốn nạn khi bỏ nàng lại để đi làm cái việc như thế! Nàng còn nói đến giấc mơ nữa. Lúc nàng nói, hình như trên mặt nàng có vẻ lo âu, như thể có giấc mơ đã báo trước cho nàng biết đêm nay sẽ có việc gì. Nhưng không, không. Nghĩ đến chuyện ấy thì nàng chết mất. Thôi, nàng là một thiên thần có phúc ở trần gian. Qua một đêm nay thôi, mình sẽ bám lấy vạt áo nàng mà theo nàng lên thiên đàng.
Với quyết tâm tuyệt vời ấy cho tương lai, chàng Bờ-rao thấy mình có lý do để vội vàng hơn trong ý định xấu xa hiện tại. Chàng đã đi vào một con đường buồn thảm, tối sầm vì những cây u ám nhất trong rừng, chúng chỉ vừa đủ đứng dịch ra cho con đường mòn hẹp len qua, rồi khép lại ngay đằng sau. Cảnh vật vắng vẻ hết mức có thể. Và một chốn cô quạnh như thế có cái đặc điểm này: người lữ khách không biết ai có thể đang ẩn nấp sau vô số thân cây và những cành lá rậm rạp trên đầu. Vì thế, dù bước chân đơn độc, có khi anh ta vẫn đang đi qua giữa một đám đông không trông thấy.
Chàng Bờ-rao tự nhủ:
– Sau mỗi gốc cây có thể có một tên da đỏ quỷ quái.
Rồi chàng sợ hãi liếc ra sau lưng, nói thêm:
– Nhỡ chính con quỷ đang ở ngay sát khuỷu tay mình thì sao!
Đầu còn ngoái lại phía sau, chàng đi qua một khúc quanh của con đường. Khi nhìn lên phía trước, chàng thấy bóng một người đàn ông ăn mặc nghiêm trang, chỉnh tề, đang ngồi dưới gốc một cây cổ thụ. Thấy chàng Bờ-rao tới gần, người ấy đứng dậy, đi bên cạnh chàng.
Người ấy nói:
– Anh đến muộn đấy, Bờ-rao. Lúc tôi đi qua Bô-xtơn, đồng hồ nhà thờ Ôn Sao đang điểm giờ, thế mà đã được mười lăm phút rồi.
Chàng trai đáp, giọng run run vì người bạn đồng hành xuất hiện đột ngột, tuy không phải hoàn toàn bất ngờ:
– Phây-thơ giữ tôi lại một lúc.
Giờ đây trong rừng đã chạng vạng tối hẳn, và tối nhất là ở đoạn mà hai người đang đi. Như người ta còn có thể nhận ra, người lữ khách thứ hai trạc năm mươi tuổi, có vẻ cùng tầng lớp với chàng Bờ-rao, và trông khá giống chàng, có lẽ giống ở vẻ mặt hơn là ở nét mặt. Dù sao người ta vẫn có thể tưởng họ là hai cha con. Thế nhưng, tuy người lớn tuổi ăn mặc giản dị như người trẻ, cử chỉ cũng giản dị như thế, ông ta có một vẻ không tả được của người từng trải, người sẽ chẳng hề lúng túng dù ngồi ở bàn tiệc của quan thống đốc hay ở triều đình vua Uy-li-am, giả như công việc đưa ông ta tới đó. Nhưng điều duy nhất ở ông ta có thể coi là đáng chú ý là cây gậy, cây gậy mang hình một con rắn đen lớn, chạm khắc khéo léo đến lạ lùng, gần như có thể thấy nó uốn éo, quằn quại như một con rắn sống. Điều này, dĩ nhiên, hẳn là do mắt nhìn lầm, cộng thêm ánh sáng chập choạng.
Người bạn đường kêu lên:
– Nào, Bờ-rao, mới đầu chuyến đi mà bước chậm chạp thế này. Cầm lấy cây gậy của tôi, nếu anh đã mệt nhanh thế.
Chàng kia đổi bước chậm thành dừng hẳn lại, bảo:
– Này anh bạn, tôi đã giữ lời hẹn là đến gặp anh ở đây, giờ tôi định quay về chỗ cũ. Tôi có điều băn khoăn về cái việc mà anh biết đấy.
Người mang gậy rắn đáp, mỉm cười riêng một mình:
– Anh nói thế à? Dù sao thì ta cứ đi tiếp, vừa đi vừa bàn. Nếu tôi không thuyết phục được anh thì anh quay về. Chúng ta mới vào rừng được một quãng ngắn thôi mà.
Chàng trai kêu lên, vô tình lại cất bước đi tiếp:
– Xa quá rồi! Xa quá rồi! Cha tôi chưa bao giờ vào rừng vì một việc như thế này, ông tôi trước đó cũng không. Dòng họ chúng tôi là những người lương thiện và những tín đồ tốt từ thời các vị tử đạo. Lẽ nào tôi lại là người đầu tiên mang họ Bờ-rao đi con đường này và giao du với…
Người lớn tuổi hiểu ý chàng ngập ngừng, nói tiếp:
– Với những bạn đồng hành như thế, anh định nói thế chứ gì. Nói hay lắm, Bờ-rao! Tôi quen biết gia đình anh cũng rõ như bất cứ gia đình nào trong số những người Thanh giáo. Mà nói thế chẳng phải chuyện nhỏ đâu. Tôi đã giúp ông nội anh, viên cảnh sát làng, khi ông quất người đàn bà phái Quây-cơ ra trò dọc các phố Xa-lem. Và chính tôi đã mang cho cha anh một cây đuốc gỗ thông nhựa, châm lửa từ lò sưởi nhà tôi, để ông đốt một làng da đỏ trong cuộc chiến tranh vua Phi-líp. Cả hai đều là bạn tốt của tôi. Biết bao lần chúng tôi đã cùng nhau dạo chơi vui vẻ trên con đường này, rồi quá nửa đêm mới vui vẻ quay về. Vì nể họ, tôi cũng muốn làm bạn với anh.
Chàng Bờ-rao đáp:
– Nếu đúng như anh nói, tôi lấy làm lạ là họ chưa bao giờ nói đến những chuyện ấy. Mà thật ra tôi cũng chẳng lạ, vì chỉ một lời đồn nhỏ nhất về chuyện như thế cũng đủ khiến họ bị đuổi khỏi miền Niu Inh-lơn. Chúng tôi là một dân tộc biết cầu nguyện, lại còn làm việc thiện, và không dung thứ những chuyện xấu xa như thế.
Người lữ khách cầm gậy uốn khúc nói:
– Xấu xa hay không, tôi quen biết rất rộng ở cái miền Niu Inh-lơn này. Các chấp sự của biết bao nhà thờ đã uống rượu lễ với tôi. Các vị hội đồng của nhiều thị trấn bầu tôi làm chủ tịch. Phần đông trong Đại Hội đồng là những người ủng hộ vững chắc quyền lợi của tôi. Cả quan thống đốc với tôi nữa… Nhưng đó là bí mật quốc gia.
Chàng Bờ-rao kêu lên, kinh ngạc nhìn người bạn đường vẫn điềm nhiên:
– Có thể như thế sao? Dù vậy, tôi chẳng có dính dáng gì tới quan thống đốc và hội đồng. Họ có lối sống của họ, và không thể làm khuôn phép cho một người làm ruộng chất phác như tôi. Nhưng nếu tôi cứ đi tiếp với anh, làm sao tôi dám nhìn vào mắt ông già tốt bụng, mục sư của chúng tôi ở làng Xa-lem? Ôi, giọng ông ấy sẽ làm tôi run rẩy cả ngày Sa-bát lẫn ngày giảng đạo.
Cho tới lúc ấy, người lữ khách lớn tuổi vẫn nghe với vẻ nghiêm trang đúng mực. Nhưng giờ thì ông ta phá lên cười không nén nổi, rung người dữ dội đến nỗi cây gậy hình rắn thật sự như quằn quại theo.
Ông ta hét lên mãi:
– Ha! Ha! Ha!
Rồi trấn tĩnh lại:
– Thôi, nói tiếp đi, Bờ-rao, nói tiếp đi. Nhưng tôi xin anh, đừng làm tôi cười chết mất.
Chàng Bờ-rao, khá bực mình, nói:
– Thôi được, vậy để kết thúc chuyện này ngay, còn có vợ tôi, Phây-thơ. Chuyện này sẽ làm tan nát trái tim bé nhỏ thân yêu của nàng. Tôi thà làm tan nát trái tim mình còn hơn.
Người kia đáp:
– Chà, nếu là thế thì anh cứ đi đường anh, Bờ-rao. Có đổi hai mươi bà già như cái bà đang lê bước phía trước chúng ta, tôi cũng không muốn Phây-thơ gặp chuyện gì.
Vừa nói, ông ta vừa chỉ gậy về phía một bóng đàn bà trên lối đi. Chàng Bờ-rao nhận ra đó là một bà cụ rất mộ đạo và gương mẫu, người đã dạy chàng sách giáo lý hồi nhỏ, và đến giờ vẫn là người khuyên bảo chàng về đạo đức và tinh thần, cùng với mục sư và chấp sự Gu-kin.
Chàng nói:
– Lạ thật đấy, bà Cờ-loi-xơ lại vào sâu trong rừng hoang thế này lúc trời tối. Nhưng xin phép anh, tôi sẽ đi tắt qua rừng cho tới khi bỏ người đàn bà ngoan đạo ấy lại phía sau. Bà không quen anh, có thể bà sẽ hỏi tôi đi với ai và đi đâu.
Người bạn đường bảo:
– Cứ thế đi. Anh vào rừng, để tôi đi trên đường.
Thế là chàng trai rẽ sang một bên, nhưng vẫn để ý theo dõi người bạn đường. Ông ta nhẹ nhàng tiến trên đường cho tới khi chỉ còn cách bà cụ một cây gậy. Bà cụ thì vẫn cố hết sức bước đi, nhanh lạ lùng so với một bà già như thế, vừa đi vừa lẩm bẩm mấy lời không rõ, hẳn là lời cầu nguyện. Người lữ khách chìa gậy ra, chạm vào cái cổ nhăn nheo của bà bằng cái trông như đuôi con rắn.
Bà già mộ đạo thét lên:
– Quỷ!
Người lữ khách đứng chắn trước mặt bà, tì người lên cây gậy đang quằn quại, nói:
– Vậy là bà Cờ-loi-xơ nhận ra người bạn cũ rồi đấy nhỉ?
Bà cụ kêu lên:
– Ôi, thật thế, có phải chính ngài đấy không? Phải rồi, đúng là ngài, mà lại mang đúng dáng hình ông bạn già của tôi, ông Bờ-rao, ông nội của cái thằng ngốc bây giờ. Nhưng ngài có tin không, cái cán chổi của tôi biến mất một cách lạ lùng, tôi ngờ là bị con phù thuỷ chưa bị treo cổ là bà Co-ri lấy cắp, mà lại đúng lúc tôi đã xoa khắp người nước cần tây dại, cỏ năm lá và cỏ phụ tử.
Cái hình bóng của ông già Bờ-rao nói:
– Trộn với bột mì mịn và mỡ của một đứa trẻ mới sinh.
Bà cụ cười khanh khách:
– À, ngài biết công thức rồi. Vậy như tôi đang nói đấy, tôi đã sẵn sàng đi họp, mà không có ngựa để cưỡi, nên tôi quyết đi bộ. Vì người ta bảo tôi là đêm nay sẽ có một chàng trai dễ thương được nhận vào hội. Nhưng giờ ngài tốt bụng cho tôi khoác tay, chúng ta sẽ tới đó trong nháy mắt.
Người bạn của bà đáp:
– Chuyện ấy khó được. Tôi không thể cho bà khoác tay, bà Cờ-loi-xơ ạ. Nhưng đây là cây gậy của tôi, nếu bà muốn.
Nói rồi, ông ta ném cây gậy xuống dưới chân bà. Có lẽ ở đó nó đã sống dậy, vì nó là một trong những cây gậy mà chủ nhân của nó ngày xưa từng cho các pháp sư Ai Cập mượn. Có điều chàng Bờ-rao không thể biết được chuyện ấy. Chàng đã ngước mắt lên vì kinh ngạc, và khi nhìn xuống, chàng chẳng thấy bà Cờ-loi-xơ cũng chẳng thấy cây gậy hình rắn đâu nữa, chỉ còn người bạn đường của mình, đang đứng đợi chàng điềm tĩnh như chưa hề có chuyện gì xảy ra.
Chàng trai nói:
– Bà già ấy đã dạy tôi sách giáo lý.
Và trong lời nhận xét đơn giản ấy chứa cả một thế giới ý nghĩa.
Họ tiếp tục đi, trong khi người lữ khách lớn tuổi thúc giục bạn đường đi nhanh lên và kiên trì trên con đường. Ông ta nói khéo đến nỗi những lý lẽ của ông dường như tự nảy ra trong lòng người nghe, chứ không phải do ông gợi ý. Đi được một quãng, ông bẻ một cành phong làm gậy chống, rồi bắt đầu tuốt những nhánh con và cành nhỏ còn ướt sương chiều. Ngón tay ông vừa chạm vào, chúng liền héo quắt và khô lại một cách lạ lùng, như đã phơi nắng một tuần. Cứ thế, hai người rảo bước, cho tới khi bất chợt, ở một chỗ trũng u tối trên đường, chàng Bờ-rao ngồi phịch xuống một gốc cây cụt và không chịu đi thêm nữa.
Chàng bướng bỉnh nói:
– Anh bạn ạ, tôi đã quyết rồi. Tôi sẽ không bước thêm một bước nào trong cái việc này nữa. Một bà già khốn khổ chọn đi theo quỷ trong khi tôi tưởng bà đang lên thiên đàng, thì sao? Có lẽ nào vì thế mà tôi phải bỏ Phây-thơ yêu quý của tôi để đi theo bà ta?
Người quen của chàng điềm tĩnh nói:
– Rồi lát nữa anh sẽ nghĩ lại thôi. Cứ ngồi đây nghỉ một lúc. Khi nào thấy muốn đi tiếp, đã có cây gậy của tôi giúp anh.
Không nói thêm lời nào, ông ném cây gậy gỗ phong cho bạn đường, rồi khuất dạng nhanh như thể đã tan vào bóng tối đang dày đặc. Chàng trai ngồi bên đường mấy phút, tự khen mình hết lời, nghĩ rằng sáng mai mình sẽ gặp mục sư trong cuộc dạo chơi buổi sáng với một lương tâm trong sạch biết bao, và không phải né tránh ánh mắt của chấp sự Gu-kin già tốt bụng. Và đêm nay chàng sẽ có một giấc ngủ yên lành biết bao, cái đêm lẽ ra đã trôi qua trong tội lỗi, mà nay lại trong sạch và ngọt ngào trong vòng tay Phây-thơ! Giữa những suy nghĩ dễ chịu và đáng khen ấy, chàng Bờ-rao nghe tiếng vó ngựa trên đường, và thấy nên ẩn mình bên mép rừng, vì chàng ý thức được cái ý định tội lỗi đã đưa mình tới đây, dù giờ đây đã may mắn từ bỏ được.
Tiếng vó ngựa và giọng nói của những người cưỡi ngựa tiến lại gần, hai giọng già nua nghiêm trang đang điềm đạm trò chuyện. Những âm thanh lẫn lộn ấy dường như đi qua trên đường, cách chỗ chàng trai nấp vài thước. Nhưng hẳn là vì bóng tối ở đúng chỗ ấy quá dày, nên không thấy cả người lẫn ngựa. Dù dáng họ có quệt vào những cành nhỏ ven đường, người ta không thấy họ che khuất, dù chỉ một giây, tia sáng mờ nhạt của dải trời sáng mà họ hẳn phải đi ngang qua. Chàng Bờ-rao lúc thì ngồi thụp xuống, lúc thì kiễng chân lên, vạch cành lá ra, thò đầu ra xa hết mức dám thò, mà chẳng nhận ra được dù chỉ một cái bóng. Điều ấy càng làm chàng bực bội, vì chàng dám thề, nếu chuyện như thế có thể xảy ra, rằng chàng nhận ra giọng của mục sư và chấp sự Gu-kin, đang thong thả cưỡi ngựa như họ vẫn quen khi đi dự một lễ phong chức hay một hội đồng giáo hội. Khi còn trong tầm nghe, một trong hai người cưỡi ngựa dừng lại để bẻ một cành roi.
Cái giọng giống giọng ông chấp sự nói:
– Thưa mục sư, nếu phải chọn một trong hai, tôi thà bỏ một bữa tiệc phong chức còn hơn bỏ buổi họp đêm nay. Người ta bảo tôi là sẽ có vài người trong hội chúng ta từ Phan-mao và xa hơn nữa đến đây, có người từ Cô-nét-ti-cút và Rốt Ai-lơn, lại còn mấy thầy phù thuỷ da đỏ, theo kiểu của họ, cũng biết nhiều trò quỷ quái gần bằng những tay giỏi nhất của chúng ta. Hơn nữa, sẽ có một thiếu phụ trẻ tốt nết được nhận vào hội.
Giọng già nua trang nghiêm của mục sư đáp:
– Tuyệt lắm, chấp sự Gu-kin! Thúc ngựa đi, kẻo chúng ta trễ mất. Ông biết đấy, chẳng thể làm gì được cho tới khi tôi có mặt.
— Hết chương 1 —
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ