Ngày xưa, ở thành Vương Xá thuộc xứ Ma-kiệt-đà, có một vị vua trị vì. Thuở ấy, trong làng Ma-cha-la của xứ Ma-kiệt-đà, đức Bồ Tát sinh ra làm một chàng trai con nhà quyền quý. Ngày đặt tên, người ta gọi chàng là Ma-gha. Lớn lên, mọi người quen gọi chàng là chàng thanh niên Ma-gha. Cha mẹ cưới cho chàng một người vợ con nhà môn đăng hộ đối. Chàng có một đàn con trai con gái quây quần, nổi tiếng rộng lòng bố thí, và giữ năm điều răn.
Làng ấy có đúng ba mươi gia đình. Một hôm, cánh đàn ông đứng giữa làng bàn việc làng. Đức Bồ Tát lấy chân gạt bụi chỗ mình đứng cho sạch sẽ, đang đứng thoải mái thì có một người khác tới chiếm lấy chỗ ấy. Đức Bồ Tát lại dọn một chỗ đứng khác cho thoải mái, rồi lại bị người khác chiếm mất như lần trước. Cứ thế, hết lần này tới lần khác, đức Bồ Tát dọn chỗ mới, cho tới khi ai nấy ở đó đều có một chỗ đứng sạch sẽ thoải mái.
Một lần khác, chàng dựng một cái rạp, về sau dỡ đi, xây một ngôi nhà có ghế dài và một chum nước bên trong.
Rồi một lần khác nữa, đức Bồ Tát dẫn dắt ba mươi người đàn ông trong làng cùng một lòng một dạ với mình. Chàng khuyên họ giữ năm điều răn, và từ đó thường cùng họ đi làm việc thiện. Họ cũng làm việc thiện, lúc nào cũng có đức Bồ Tát đi cùng. Sáng sớm tinh mơ, họ đã thức dậy ra đi, tay cầm dao cạo, rìu và gậy. Với những cây gậy, họ lăn sang bên đường mọi hòn đá nằm trên bốn ngả đường lớn và những con đường khác trong làng. Cây nào vướng vào trục xe, họ đốn đi. Chỗ nào gồ ghề, họ san cho bằng phẳng. Họ đắp đường, đào ao chứa nước, dựng nhà cho khách nghỉ. Họ bố thí và giữ các điều răn. Cứ như thế, phần đông dân làng đều làm theo lời đức Bồ Tát dạy mà giữ các điều răn.
Người trưởng làng nghĩ bụng: "Trước kia, khi bọn này say sưa, giết người và làm đủ thứ chuyện như thế, ta kiếm được bộn tiền, nào là tiền bán rượu, nào là tiền phạt, tiền thuế. Thế mà giờ đây, gã thanh niên Ma-gha này cứ nhất quyết bắt chúng giữ các điều răn, làm cho chuyện giết người và các tội khác chấm dứt cả."
Tức giận, gã kêu lên:
— Được, ta sẽ cho chúng giữ năm điều răn!
Rồi gã tìm tới gặp nhà vua, tâu:
— Tâu bệ hạ, có một băng cướp đang đi khắp nơi cướp phá làng mạc, làm đủ chuyện độc ác.
Nghe vậy, vua sai gã trưởng làng đi bắt bọn người ấy về. Gã đi ngay, bắt trói cả ba mươi người đàn ông ấy giải tới trước mặt vua, khai rằng đó là bọn cướp. Chẳng tra xét gì việc làm của họ, vua lập tức truyền cho voi giẫm chết họ.
Người ta liền bắt họ nằm xuống giữa sân cung điện, rồi cho dắt voi tới. Đức Bồ Tát khuyên bảo mọi người:
— Hãy nhớ giữ các điều răn. Hãy thương kẻ vu khống, thương nhà vua và thương cả con voi như thương chính mình.
Và họ đã làm đúng như thế.
Rồi người ta dắt voi tới để giẫm chết họ. Nhưng dắt thế nào voi cũng không chịu tới gần, mà rống lên thật to rồi bỏ chạy. Hết con voi này tới con voi khác được dắt tới, nhưng con nào cũng bỏ chạy như con đầu tiên. Vua nghĩ chắc bọn người này giấu thuốc gì đó trong người, bèn sai khám xét. Người ta khám xét kỹ càng, nhưng chẳng thấy gì cả, bèn tâu lại với vua. Vua bảo:
— Vậy thì hẳn chúng đang lẩm nhẩm một câu thần chú nào đó. Hãy hỏi xem chúng có câu thần chú nào không.
Được hỏi, đức Bồ Tát đáp rằng họ có một câu thần chú. Người của vua tâu lại. Vua cho gọi cả ba mươi người tới trước mặt, bảo:
— Hãy nói cho ta nghe câu thần chú của các ngươi.
Đức Bồ Tát thưa:
— Tâu bệ hạ, chúng thần chẳng có câu thần chú nào khác ngoài điều này: trong cả ba mươi người chúng thần, không ai sát sinh, không ai lấy của không được cho, không ai làm điều bậy bạ, không ai nói dối. Chúng thần không uống rượu. Chúng thần giàu lòng thương người. Chúng thần bố thí. Chúng thần san đường, đào ao, dựng nhà cho mọi người nghỉ. Đó là câu thần chú của chúng thần, là tấm khiên che chở và là sức mạnh của chúng thần.
Vua hài lòng lắm, ban cho họ toàn bộ của cải trong nhà kẻ vu khống, bắt hắn làm đầy tớ của họ, lại ban thêm cho họ con voi và cả ngôi làng.
Từ đó, mặc sức làm điều thiện theo ý mình, họ cho mời một người thợ mộc tới, dựng một ngôi nhà lớn ở ngã tư đường. Vì đã dứt hết lòng ham muốn với phụ nữ, họ không cho người phụ nữ nào được góp phần vào việc thiện ấy.
Thuở ấy, trong nhà đức Bồ Tát có bốn người phụ nữ, tên là Thiện Pháp, Tâm Ý, Hoan Hỷ và Thiện Sinh.
Một hôm, gặp riêng người thợ mộc, Thiện Pháp đưa cho ông một món quà, nói:
— Này anh, anh tìm cách cho tôi được làm người đứng đầu trong việc dựng ngôi nhà này nhé.
— Được thôi.
Thế là trước khi làm bất cứ việc gì khác cho ngôi nhà, người thợ mộc lấy gỗ làm chóp mái đem phơi khô, đẽo gọt, khoan lỗ, làm thành một cái chóp mái hoàn chỉnh. Ông lấy vải bọc lại, cất đi. Khi ngôi nhà đã xong, tới lúc phải gắn chóp mái lên, ông kêu lên:
— Chết rồi, thưa các ông, còn một thứ chúng ta chưa làm.
— Thứ gì thế?
— Thì chúng ta phải có một cái chóp mái chứ.
— Được thôi, thì kiếm lấy một cái.
— Nhưng không làm bằng gỗ tươi được. Phải có một cái chóp mái làm bằng gỗ đã đốn từ lâu, đã đẽo gọt, khoan lỗ và cất sẵn.
— Thế thì bây giờ làm sao?
— Thì đi tìm xem nhà ai có sẵn một cái chóp mái làm sẵn để bán.
Họ đi tìm khắp nơi, thấy nhà Thiện Pháp có một cái, nhưng trả bao nhiêu tiền bà cũng không bán. Bà bảo:
— Nếu các ông cho tôi được góp phần vào việc thiện này, tôi sẽ biếu không.
— Không được, chúng tôi không cho phụ nữ góp phần vào việc thiện.
Người thợ mộc bèn nói với họ:
— Thưa các ông, các ông nói gì lạ vậy? Ngoài cõi trời Phạm Thiên ra, chẳng có nơi nào cấm phụ nữ cả. Cứ lấy cái chóp mái ấy đi, thế là việc của chúng ta xong.
Họ bằng lòng, lấy cái chóp mái, làm xong ngôi nhà. Họ cho kê ghế dài, đặt chum nước bên trong, lại lo sẵn cơm nấu chín lúc nào cũng có. Quanh ngôi nhà, họ xây một bức tường có cổng, rải cát khắp khoảng sân bên trong, trồng một hàng cây cọ quạt bên ngoài.
Tâm Ý cũng cho làm một khu vườn ở chỗ ấy, không có loài cây có hoa có quả nào kể ra được mà không mọc ở đó. Hoan Hỷ cũng cho đào một cái ao ở chỗ ấy, phủ kín năm loại sen, trông đẹp vô cùng. Còn Thiện Sinh thì chẳng làm gì cả.
Đức Bồ Tát giữ trọn bảy điều: hiếu dưỡng mẹ, hiếu dưỡng cha, kính trọng người lớn tuổi, nói lời chân thật, không nói lời thô ác, không nói lời đâm thọc, không keo kiệt. Ai phụng dưỡng cha mẹ, kính trọng người già, hiền hoà, ăn nói thân ái, không đâm thọc, không bủn xỉn, chân thật, làm chủ được cơn giận chứ không làm nô lệ cho nó, thì ngay cả chư thiên trên cõi trời Ba Mươi Ba cũng phải gọi người ấy là người tốt.
Chàng sống một đời đáng khen như thế, rồi khi hết đời, chàng được sinh lên cõi trời Ba Mươi Ba, làm Thiên chủ Đế Thích, vua của chư thiên. Bạn bè chàng cũng được sinh lên đó.
Thuở ấy, trên cõi trời Ba Mươi Ba có loài A-tu-la cùng sống. Đế Thích nói:
— Một vương quốc phải chia với kẻ khác thì có ích gì cho chúng ta?
Thế là ông cho bọn A-tu-la uống rượu của chư thiên. Khi chúng đã say mèm, ông sai người nắm chân chúng mà quăng xuống sườn núi Tu Di. Chúng lăn tuốt xuống cõi gọi là cõi A-tu-la, một vùng ở tầng thấp nhất của núi Tu Di, rộng ngang với cõi trời Ba Mươi Ba.
Ở đó có một loài cây giống cây san hô của cõi trời, sống suốt một đại kiếp, gọi là cây hoa kèn đốm. Nhìn hoa của cây ấy, chúng biết ngay đây không phải cõi trời, vì ở cõi trời là cây san hô nở hoa. Chúng kêu lên:
— Lão Đế Thích đã chuốc cho chúng ta say, rồi ném chúng ta xuống vực sâu, cướp lấy thành trời của chúng ta. Đi nào, hãy dùng gươm giáo mà giành lại cõi của chúng ta từ tay hắn!
Thế là chúng leo ngược lên sườn núi Tu Di, như đàn kiến bò lên cột nhà.
Nghe báo động rằng bọn A-tu-la đã kéo lên, Đế Thích ra tận vực sâu nghênh chiến. Nhưng bị thua trận, ông quay xe bỏ chạy, lướt qua hết ngọn sóng này tới ngọn sóng khác của vùng biển phía nam, trên cỗ xe Chiến Thắng dài một trăm năm mươi dặm.
Cỗ xe lao vun vút trên mặt biển, tới khu rừng cây gạo. Dọc theo vệt xe chạy, những cây gạo khổng lồ ấy bị phạt ngã rạp như những cây cọ, rơi xuống biển. Lũ chim con của loài chim thần Ca-lâu-la bị hất văng xuống biển, kêu thét lên thảm thiết. Đế Thích hỏi người đánh xe Ma-ta-li:
— Này Ma-ta-li, bạn ơi, tiếng gì thế kia? Nghe thật đứt ruột đứt gan.
— Tâu bệ hạ, đó là tiếng kêu của lũ chim non Ca-lâu-la đang khiếp sợ, vì khu rừng của chúng bị cỗ xe của bệ hạ lao qua làm bật gốc.
Bậc Đại Sĩ nói:
— Này Ma-ta-li bạn ơi, đừng để chúng phải khổ vì ta. Đừng vì ngai vàng mà làm điều giết hại. Vì chúng, ta thà hy sinh mạng sống của mình cho bọn A-tu-la. Hãy quay xe lại!
Rồi ông nói tiếp:
— Này Ma-ta-li, hãy để những chú chim non trong rừng thoát khỏi cỗ xe đang nghiến nát mọi thứ của chúng ta. Ta vui lòng dâng mạng sống của mình cho bọn A-tu-la kia. Những con chim tội nghiệp này sẽ không vì ta mà bị bứt khỏi tổ.
Nghe lệnh, người đánh xe Ma-ta-li quay xe lại, theo một ngả khác mà về cõi trời. Nhưng bọn A-tu-la vừa thấy Đế Thích bắt đầu quay xe, liền kêu lên:
— Chắc chắn là các vị Đế Thích ở những thế giới khác đang kéo tới! Hẳn là có quân tiếp viện nên hắn mới quay xe lại!
Run sợ cho tính mạng, cả bọn bỏ chạy, chạy một mạch không dừng cho tới khi về tới cõi A-tu-la.
Còn Đế Thích trở về cõi trời, đứng giữa thành của mình, chung quanh là đông đảo chư thiên của mình và của cõi Phạm Thiên. Đúng lúc ấy, từ lòng đất nứt ra, một toà lâu đài cao chừng một nghìn dặm vươn lên, được gọi là Lâu đài Chiến Thắng, vì nó hiện ra đúng vào giờ chiến thắng.
Rồi để bọn A-tu-la không quay lại được nữa, Đế Thích cho đặt quân canh ở năm nơi. Người ta kể rằng hai toà thành đều không ai xâm phạm được, vì ở khoảng giữa có năm lớp canh giữ: loài rồng, loài chim thần Ca-lâu-la, loài quỷ Cưu-bàn-trà, loài dạ xoa, và bốn vị Thiên Vương.
Đế Thích đang hưởng vinh quang cõi trời trong cương vị vua của chư thiên, có quân canh giữ năm nơi bảo vệ yên ổn, thì Thiện Pháp qua đời, lại được sinh làm một thị nữ của Đế Thích. Nhờ quả báo của việc dâng chiếc chóp mái, một toà lâu đài tên là Thiện Pháp hiện ra cho bà, nạm đầy châu báu cõi trời, cao năm trăm dặm. Ở đó, dưới chiếc lọng trắng của bậc vương giả, Đế Thích, vua của chư thiên, ngồi cai quản cả loài người lẫn chư thiên.
Tâm Ý cũng qua đời, cũng được sinh làm thị nữ của Đế Thích. Nhờ quả báo của việc làm khu vườn, một khu vườn hiện ra, gọi là Vườn Dây Leo Tâm Ý. Hoan Hỷ cũng qua đời, cũng được sinh làm thị nữ của Đế Thích. Nhờ quả báo của cái ao, một cái ao hiện ra, mang tên bà là ao Hoan Hỷ.
Còn Thiện Sinh, vì chẳng làm việc phúc đức nào, nên phải sinh làm một con cò trong một hang đá giữa rừng.
Đế Thích tự nhủ: "Chẳng thấy Thiện Sinh đâu cả. Không biết nàng sinh vào chốn nào nhỉ?" Suy xét, ông tìm ra chỗ ở của nàng. Thế là ông tới thăm, đưa nàng lên cõi trời, cho nàng xem thành trời tuyệt đẹp của chư thiên, xem lâu đài Thiện Pháp, xem vườn Dây Leo Tâm Ý, xem ao Hoan Hỷ. Đế Thích nói:
— Ba người này được sinh làm thị nữ của ta là nhờ những việc thiện họ đã làm. Còn nàng, vì chẳng làm việc thiện nào, nên phải sinh vào loài cầm thú. Từ nay về sau, hãy giữ các điều răn.
Khuyên bảo nàng như vậy, dạy nàng giữ năm điều răn, rồi ông đưa nàng về chỗ cũ, thả nàng ra. Từ đó nàng giữ các điều răn.
Ít lâu sau, tò mò muốn biết nàng có thật sự giữ được các điều răn hay không, Đế Thích hoá thành một con cá, tới nằm trước mặt nàng. Tưởng con cá đã chết, cò ngậm lấy đầu cá. Con cá vẫy đuôi. Cò bảo:
— Ơ, hình như nó còn sống.
Thế là cò thả con cá ra. Đế Thích nói:
— Tốt lắm, tốt lắm. Nàng sẽ giữ được các điều răn.
Nói rồi ông bỏ đi.
Hết kiếp làm cò, Thiện Sinh được sinh vào nhà một người thợ gốm ở Ba-la-nại. Đế Thích tự hỏi nàng đã đi đâu, cuối cùng tìm ra được chỗ ở của nàng. Ông hoá thành một ông già, chất đầy một xe những quả dưa chuột bằng vàng ròng, ngồi giữa làng mà rao:
— Ai mua dưa chuột đây! Ai mua dưa chuột đây!
Người ta kéo tới hỏi mua. Ông bảo:
— Tôi chỉ bán cho những ai giữ các điều răn. Các người có giữ không?
— Chúng tôi chẳng hiểu cái điều răn của ông là gì cả. Cứ bán dưa cho chúng tôi đi.
— Không, tôi không lấy tiền dưa đâu. Tôi cho không, nhưng chỉ cho những ai giữ các điều răn thôi.
— Cái ông lẩm cẩm này là ai thế không biết.
Người ta vừa nói vừa bỏ đi.
Nghe chuyện, Thiện Sinh nghĩ bụng những quả dưa ấy hẳn là mang tới cho mình, bèn tới xin mấy quả. Ông già hỏi:
— Cô có giữ các điều răn không?
— Có, tôi có giữ.
— Tôi mang những quả dưa này tới đây là chỉ để cho cô thôi.
Nói rồi, ông để lại cả xe lẫn dưa trước cửa nhà nàng, rồi bỏ đi.
Suốt đời giữ các điều răn, khi chết, Thiện Sinh được sinh làm con gái của vua A-tu-la Vê-pa-chít-ti. Nhờ đức hạnh của mình, nàng được ban cho nhan sắc tuyệt trần. Khi nàng lớn lên, vua cha triệu tập tất cả bọn A-tu-la lại, để con gái tự chọn lấy một người làm chồng.
Đế Thích, sau khi đã tìm ra chỗ ở của nàng, bèn hoá thành một A-tu-la mà xuống đó, tự nhủ: "Nếu Thiện Sinh chọn chồng đúng theo lòng mình, người ấy sẽ là ta."
Thiện Sinh được trang điểm, đưa ra chỗ mọi người tụ hội, được bảo hãy chọn một người chồng vừa ý. Nhìn quanh, thấy Đế Thích, nàng xúc động vì mối tình từ kiếp trước, liền chọn ông làm chồng. Đế Thích đưa nàng về thành của chư thiên, cho nàng đứng đầu hai mươi lăm triệu tiên nữ múa hát. Rồi khi hết tuổi thọ, ông ra đi theo nghiệp của mình.
Đức Phật kể xong chuyện này thì cho biết: người đánh xe Ma-ta-li thuở ấy là A-nan, còn Đế Thích chính là Ngài.
— Hết —
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích