Ngày xưa, khi vua Phạm Dự trị vì thành Ba-la-nại, bậc Đại Sĩ sinh làm một con ngỗng trời bay nhanh như gió. Ngỗng sống trên núi Chít-ta-cu-ta cùng một đàn chín mươi nghìn con ngỗng khác.
Một hôm, cùng cả đàn ăn lúa hoang mọc ở một cái hồ dưới đồng bằng xong, ngỗng bay qua bầu trời. Đàn ngỗng trải dài như một tấm thảm vàng phủ từ đầu này tới đầu kia thành Ba-la-nại. Ngỗng thong thả bay như dạo chơi, về phía núi Chít-ta-cu-ta.
Vua Ba-la-nại trông thấy, bảo các quan:
— Con chim kia hẳn là một vị vua, như ta vậy.
Vua đem lòng quý mến con chim, mang theo vòng hoa, hương thơm, dầu thơm, đi tìm bậc Đại Sĩ, lại cho đủ mọi thứ nhạc cụ theo hầu. Thấy nhà vua tôn vinh mình như thế, bậc Đại Sĩ hỏi đàn ngỗng:
— Một vị vua tôn vinh ta như thế này là muốn gì vậy?
— Thưa chúa, nhà vua muốn kết bạn với chúa đấy.
— Vậy thì ta sẽ kết bạn với nhà vua.
Thế là ngỗng kết bạn với nhà vua, rồi bay về.
Ít lâu sau, một hôm nhà vua đang ở trong vườn, đi dạo tới bên hồ A-nô-tát-ta. Ngỗng bay tới chỗ vua, một cánh mang nước, một cánh mang bột gỗ đàn hương. Ngỗng rảy nước lên mình nhà vua, rắc bột đàn hương lên người vua, rồi trước mắt mọi người, cùng cả đàn bay về núi Chít-ta-cu-ta. Từ đó, nhà vua thường mong nhớ bậc Đại Sĩ. Vua hay đứng nhìn về phía con đường ngỗng vẫn bay tới, thầm nghĩ: "Hôm nay bạn ta sẽ tới."
Bấy giờ, có hai con ngỗng nhỏ tuổi nhất trong đàn của bậc Đại Sĩ quyết định bay đua với mặt trời. Chúng tới xin phép bậc Đại Sĩ cho chúng đua với mặt trời. Ngỗng chúa bảo:
— Các con ơi, mặt trời bay nhanh lắm, các con không đua nổi đâu. Các con sẽ chết dọc đường mất, đừng đi.
Chúng xin lần thứ hai, rồi lần thứ ba, nhưng lần nào đức Bồ Tát cũng ngăn lại. Không biết sức mình, chúng vẫn khăng khăng, quyết bay đua với mặt trời mà không báo cho ngỗng chúa biết. Thế là trước lúc mặt trời mọc, chúng đã bay tới đậu trên đỉnh núi Du-gan-đa-ra.
Bậc Đại Sĩ không thấy chúng đâu, hỏi chúng đi đâu. Nghe kể đầu đuôi, ngài nghĩ: "Chúng sẽ không bao giờ bay kịp mặt trời, mà sẽ chết dọc đường mất. Ta phải cứu mạng chúng." Thế là ngài cũng bay tới đỉnh núi Du-gan-đa-ra, đậu bên cạnh hai con ngỗng nhỏ.
Khi vầng mặt trời tròn vừa ló lên khỏi chân trời, hai con ngỗng nhỏ vụt bay lên, lao về phía trước cùng với mặt trời. Bậc Đại Sĩ cũng bay theo chúng.
Con nhỏ nhất bay tới gần trưa thì đuối sức. Ở các khớp cánh, nó thấy như có lửa đốt. Nó ra hiệu cho bậc Đại Sĩ:
— Anh ơi, em không bay nổi nữa!
— Đừng sợ, anh sẽ cứu em.
Bậc Đại Sĩ dang rộng đôi cánh đỡ lấy nó, vỗ về an ủi, đưa về núi Chít-ta-cu-ta, đặt nó vào giữa đàn ngỗng. Rồi ngài lại bay đi, đuổi kịp mặt trời, bay sát bên con ngỗng còn lại.
Con kia bay cùng mặt trời cho tới gần giữa trưa thì cũng đuối sức, thấy như có lửa đốt ở các khớp cánh. Nó ra hiệu cho bậc Đại Sĩ, kêu lên:
— Anh ơi, em không bay nổi nữa!
Bậc Đại Sĩ cũng an ủi nó như thế, dang rộng đôi cánh đỡ lấy nó, đưa về núi Chít-ta-cu-ta.
Lúc ấy mặt trời đã đứng ngay đỉnh đầu. Bậc Đại Sĩ nghĩ: "Hôm nay ta sẽ thử sức của mặt trời xem sao." Ngài lao vút trở lại một mạch, đậu xuống đỉnh núi Du-gan-đa-ra. Rồi lại vút lên một mạch, đuổi kịp mặt trời, lúc thì bay vượt lên trước, lúc thì bay lùi lại sau. Ngài tự nhủ: "Bay đua với mặt trời thật vô ích, chỉ là chuyện điên rồ. Ta được gì chứ? Ta sẽ tới Ba-la-nại, nói với người bạn của ta là nhà vua một lời về lẽ phải và chân lý."
Thế là ngài quay lại. Trong lúc mặt trời còn chưa rời khỏi giữa bầu trời, ngài đã bay khắp thế gian từ đầu này tới đầu kia. Rồi ngài bay chậm lại, bay khắp cõi Ấn Độ từ đầu này tới đầu kia, cuối cùng tới Ba-la-nại. Cả kinh thành rộng mười hai dặm như nằm trọn dưới bóng con chim, ngài bay vòng nhanh tới mức như một chiếc lọng che kín trên trời, không hở một khe một kẽ. Rồi khi ngài bay chậm dần, những khe hở, những lỗ hổng mới dần hiện ra trên bầu trời. Bậc Đại Sĩ bay chậm hơn nữa, rồi từ trên không đáp xuống, đậu trước một khung cửa sổ.
— Bạn ta tới rồi!
Nhà vua mừng rỡ kêu lên, rồi sai mang tới một chiếc ghế vàng cho chim đậu, nói:
— Vào đây, bạn ơi, ngồi đây đi. Hỡi ngỗng cao quý, hãy tới ngồi đây. Được thấy bạn, ta quý lắm. Giờ bạn là chủ nơi này, thấy gì ưng ý cứ việc chọn.
Bậc Đại Sĩ đậu lên chiếc ghế vàng. Nhà vua lấy dầu thơm đã lọc trăm lần, nghìn lần xoa dưới cánh ngỗng, mời ngỗng ăn cơm ngon, uống nước đường trong đĩa vàng, rồi cất giọng ngọt như mật mà trò chuyện:
— Bạn ơi, bạn tới đây một mình. Bạn vừa từ đâu tới vậy?
Ngỗng kể cho vua nghe đầu đuôi mọi chuyện. Nghe xong, nhà vua nói:
— Bạn ơi, hãy cho ta xem tốc độ bay đua với mặt trời của bạn đi.
— Tâu đại vương, tốc độ ấy không thể cho xem được.
— Vậy thì cho ta xem một điều gì đó tương tự.
— Được thôi, tâu đức vua, tôi sẽ cho đức vua xem một điều tương tự. Xin đức vua cho gọi những cung thủ bắn tên nhanh như chớp tới đây.
Vua cho gọi họ tới. Bậc Đại Sĩ chọn ra bốn người, cùng họ rời cung điện xuống sân. Ở đó, ngài cho dựng một cây cột đá xuống đất, lại buộc một chiếc chuông nhỏ quanh cổ mình. Rồi ngài đậu lên đỉnh cột đá, đặt bốn cung thủ đứng quay lưng lại cây cột, mỗi người nhìn về một phương, rồi nói:
— Tâu đức vua, xin cho bốn người này cùng lúc bắn bốn mũi tên về bốn hướng khác nhau. Tôi sẽ bắt lấy bốn mũi tên ấy trước khi chúng chạm đất, rồi đặt xuống dưới chân họ. Đức vua sẽ biết tôi đi bắt tên nhờ tiếng chuông kêu leng keng, nhưng sẽ không thấy được tôi.
Bốn người cùng lúc bắn bốn mũi tên. Ngỗng bắt lấy cả bốn, đặt xuống dưới chân họ, rồi người ta thấy ngài vẫn đang đậu trên đỉnh cột. Ngài hỏi:
— Tâu đức vua, đức vua có thấy tốc độ của tôi không?
Rồi ngài nói tiếp:
— Tâu đại vương, tốc độ ấy chưa phải là tốc độ nhanh nhất của tôi, cũng chưa phải tốc độ vừa của tôi, mà là tốc độ chậm nhất trong những tốc độ chậm của tôi. Điều này cho đức vua thấy tôi nhanh tới mức nào.
Nhà vua hỏi:
— Này bạn, trên đời có tốc độ nào nhanh hơn tốc độ của bạn không?
— Có đấy, bạn ạ. Nhanh hơn tốc độ nhanh nhất của tôi gấp trăm lần, gấp nghìn lần, phải, gấp trăm nghìn lần, chính là sự tàn hoại của thân xác nơi muôn loài. Chúng cứ thế mà tan rã, cứ thế mà mất đi.
Ngài giảng giải cho vua thấy rõ mọi hình hài trên thế gian đều đang tan rã, đang mất đi từng khoảnh khắc như thế nào. Nghe vậy, nhà vua sợ cái chết tới mức không giữ nổi tỉnh táo, ngất lịm đi. Mọi người hoảng hốt, rảy nước lên mặt vua cho vua tỉnh lại. Bấy giờ bậc Đại Sĩ nói với vua:
— Tâu đại vương, xin đừng sợ, mà hãy luôn nhớ tới cái chết. Hãy sống theo lẽ phải, hãy bố thí, làm điều lành, hãy luôn cẩn trọng.
Nhà vua đáp:
— Thưa thầy, không có một người thầy hiền trí như thầy, ta không sống nổi. Xin thầy đừng về núi Chít-ta-cu-ta nữa, hãy ở lại đây dạy bảo ta, làm thầy của ta!
Rồi vua nói tiếp lời thỉnh cầu:
— Nghe tiếng người mình thương, tình thương càng thêm lớn. Được thấy mặt người, nỗi nhớ mong người đi xa mới nguôi. Vì được thấy và được nghe khiến người ta thêm quý thêm thương, xin hãy cho ta được thấy mặt thầy. Tiếng nói của thầy thật đáng quý, nhưng được thấy thầy còn đáng quý hơn nhiều. Vì ta yêu được thấy thầy, hỡi ngỗng, hãy tới ở cùng ta!
Đức Bồ Tát đáp:
— Tôi cũng muốn được mãi mãi ở bên đức vua, với sự tôn vinh đức vua ban cho. Nhưng biết đâu một ngày kia, trong cơn say, đức vua lại bảo: hãy nướng cho ta con chim chúa ấy!
Nhà vua nói:
— Không đâu. Vậy thì ta sẽ không bao giờ uống rượu hay thứ gì làm say nữa. Đồ ăn thức uống nào ta yêu hơn thầy, xin hãy bị nguyền rủa! Chừng nào thầy còn ở với ta, ta sẽ không nếm một giọt nào, không uống một ngụm nào!
Bấy giờ đức Bồ Tát nói:
— Tiếng kêu của chó rừng hay của chim chóc, người ta hiểu được dễ dàng. Phải, nhưng lời nói của con người, tâu đức vua, lại khó hiểu hơn nhiều. Một người có thể nghĩ: đây là bạn ta, là bạn đồng hành, là người thân của ta. Nhưng rồi tình bạn mất đi, và thường thì thù ghét, oán hận lại bắt đầu. Người đã chiếm được lòng mình thì luôn ở gần mình, ở bên mình, dù người ấy ở nơi đâu. Còn người ở cùng mình mà lòng đã xa cách, thì người ấy ở xa lắm. Người sống trong nhà mình với tấm lòng tốt, thì dù ở tận bên kia biển vẫn là người tốt. Người sống trong nhà mình với lòng thù địch, thì dù cách xa như đại dương vẫn là kẻ thù. Hỡi chúa tể của những cỗ xe, kẻ thù dù ở gần đức vua cũng là ở xa. Hỡi người che chở cho đất nước, người có lòng tốt thì luôn gắn bó thân thiết. Kẻ ở lại quá lâu thường thấy bạn hoá thành thù. Vậy trước khi mất tình bạn của đức vua, tôi xin từ biệt mà đi.
Nhà vua nói:
— Dù ta chắp tay van nài, thầy vẫn không chịu nghe ta. Thầy chẳng nói thêm lời nào với chúng ta, những người rất quý được thầy giúp đỡ. Ta chỉ xin thầy một điều: hãy quay lại đây thăm ta.
Đức Bồ Tát đáp:
— Tâu đức vua, nếu không có gì cắt đứt mạng sống của chúng ta, nếu đức vua và tôi vẫn còn sống, hỡi người che chở cho muôn dân, có lẽ tôi sẽ bay về đây, và chúng ta sẽ lại được gặp nhau, khi ngày đêm trôi qua.
Nói với nhà vua như thế xong, bậc Đại Sĩ bay về núi Chít-ta-cu-ta.
Đức Phật kể xong chuyện này thì cho biết: nhà vua thuở ấy là A-nan, con ngỗng nhỏ nhất là Mục-kiền-liên, con thứ hai là Xá-lợi-phất, đàn ngỗng là các đệ tử của Ngài, còn con ngỗng bay nhanh như gió chính là Ngài.
— Hết —
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích