Truyện Đỉnh

🏰 Cổ tích

Chiếc chìa khoá cổng

của Hans Christian Andersen

⏱ 25 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 21.364 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Chiếc chìa khoá nào cũng có câu chuyện của…
  2. 4:35Một buổi chiều chủ nhật nắng đẹp, vợ chồng…
  3. 8:46Ông cố vấn nói:
  4. 10:27Ông nghĩ ra câu trả lời hợp lý nhất,…
  5. 15:20Ông hàng xén nói:
  6. 17:09Người ta cứ tưởng sự sống đã rời bỏ…
  7. 19:53Lốt-tơ Lê-nơ cứ đọc mãi "Đy-vê-kơ" và cuốn "Cách…
  8. 23:41Ông cố vấn và anh dược sĩ đi sau…

Chiếc chìa khoá nào cũng có câu chuyện của nó, mà chìa khoá thì nhiều lắm: chìa khoá của quan thị thần, chìa khoá lên dây đồng hồ, chìa khoá của thánh Phê-rô. Ta có thể kể về tất cả những chiếc chìa khoá ấy, nhưng giờ ta chỉ kể về chiếc chìa khoá cổng nhà ông cố vấn.

Nó ra đời ở nhà một bác thợ khoá, nhưng nó cũng có thể tưởng mình ra đời ở nhà bác thợ rèn, vì bác ấy đã nện nó, giũa nó như thế. Nó to quá, không bỏ vừa túi quần, nên phải bỏ túi áo khoác. Nó thường nằm trong bóng tối ở đó, nhưng ngoài ra nó có một chỗ cố định trên tường, bên cạnh bức hình bóng cắt giấy của ông cố vấn hồi còn bé. Trong hình, trông ông như một cái bánh bao đeo cổ áo xếp nếp.

Người ta bảo mỗi con người, trong tính tình và cách cư xử, đều mang đôi chút của cung hoàng đạo mình sinh ra, cung Kim Ngưu, cung Xử Nữ, cung Thiên Yết, như trong lịch người ta vẫn gọi. Bà cố vấn chẳng nhắc tới cung nào trong những cung ấy. Bà bảo chồng bà sinh ra dưới "cung Xe Cút Kít", lúc nào cũng phải đẩy mới đi.

Bố ông đẩy ông vào làm ở một văn phòng, mẹ ông đẩy ông vào chuyện vợ con, còn vợ ông đẩy ông lên chức cố vấn. Nhưng chuyện sau cùng thì bà không nói ra. Bà là một người vợ đảm đang, biết điều, im lặng đúng chỗ, nói đúng chỗ và đẩy đúng chỗ.

Giờ ông đã có tuổi, "cân đối", như ông tự nói, một người có học, hiền lành, lại thêm khôn ngoan về chìa khoá, điều mà rồi ta sẽ hiểu rõ hơn. Lúc nào ông cũng vui vẻ. Ông quý tất cả mọi người, thích nói chuyện với tất cả mọi người. Ông mà đi phố thì khó lôi được ông về nhà, nếu không có bà nhà đi theo để đẩy. Gặp người quen nào ông cũng phải nói chuyện. Mà ông quen nhiều người lắm, thế là bữa trưa phải chịu thiệt.

Bà cố vấn đứng canh ở cửa sổ. Bà bảo cô hầu:

— Ông về rồi kìa! Bắc nồi lên! À, giờ ông đứng lại nói chuyện với ai rồi, nhấc nồi xuống, không thì thức ăn nhừ mất! À, giờ ông về đây! Ừ, bắc nồi lên lại đi!

Nhưng ông vẫn chẳng về.

Ông có thể đứng ngay dưới cửa sổ nhà mình mà gật đầu chào lên. Nhưng nếu có người quen đi ngang, thì ông không kìm được, phải nói với người ta vài câu. Đang nói với người này thì người quen khác tới, thế là ông nắm khuyết áo người thứ nhất, bắt tay người thứ hai, trong khi gọi với người thứ ba đang định đi qua.

Đó là một phép thử lòng kiên nhẫn của bà cố vấn. Bà gọi to:

— Ông cố vấn! Ông cố vấn! Phải, ông này sinh ra dưới cung Xe Cút Kít, không đẩy là chẳng đi được!

Ông rất thích vào hiệu sách, xem sách, xem báo. Ông trả cho người bán sách một khoản thù lao nhỏ để được mang sách mới về nhà đọc, nghĩa là được rọc sách theo chiều dọc mà không rọc theo chiều ngang, vì rọc ngang thì không bán như sách mới được nữa. Ông đúng là một tờ báo sống, đàng hoàng tử tế. Ông biết tin đính hôn, đám cưới, đám ma, chuyện sách vở, chuyện phố phường. Ông còn buông ra những lời bóng gió bí ẩn rằng ông biết những điều chẳng ai biết. Ông biết được là nhờ chiếc chìa khoá cổng.

Từ hồi mới cưới, vợ chồng ông cố vấn đã ở trong ngôi nhà riêng của mình, và từ thời ấy họ có chiếc chìa khoá cổng ấy. Nhưng hồi đó họ chưa biết những sức mạnh kỳ lạ của nó, mãi về sau họ mới biết.

Đó là thời vua Phrê-đê-rích Đệ lục. Cô-pen-ha-ghen hồi ấy chưa có đèn khí, chỉ có đèn dầu cá. Chưa có vườn Ti-vô-li, chưa có Ca-xi-nô, chưa có xe điện, chưa có đường sắt. Thú vui so với bây giờ thì ít ỏi lắm. Chủ nhật, người ta đi dạo ra khỏi cổng thành tới nghĩa trang Át-xi-xten, đọc những dòng chữ trên bia mộ, ngồi trên cỏ, ăn đồ mang theo trong giỏ, uống chút rượu mạnh. Hoặc người ta tới Phrê-đê-rích-xbe, nơi trước cung điện có ban nhạc của trung đoàn chơi nhạc, rất đông người tới xem hoàng gia chèo thuyền trên những con kênh nhỏ hẹp. Nhà vua già cầm lái, ngài và hoàng hậu chào tất cả mọi người, chẳng phân biệt sang hèn. Những gia đình khá giả trên phố kéo nhau ra đó uống trà buổi chiều. Nước nóng thì xin được ở một ngôi nhà nông dân nhỏ ngoài cánh đồng bên ngoài vườn, nhưng ấm pha trà thì phải tự mang theo.

Một buổi chiều chủ nhật nắng đẹp, vợ chồng ông cố vấn ra đó. Cô hầu đi trước, mang ấm pha trà, một giỏ thức ăn và "một chai rượu của hãng Xpen-đrúp".

Bà cố vấn nói:

— Ông cầm chìa khoá cổng đi, để lúc về chúng ta vào được nhà mình. Ông biết đấy, ở đây tối là khoá cổng, mà dây chuông thì đứt từ sáng nay rồi! Chúng ta sẽ về muộn đấy! Ở Phrê-đê-rích-xbe về, chúng ta sẽ vào nhà hát Ca-xoóc-ti ở Vét-xtơ-brô xem kịch câm "A-lơ-canh làm trưởng nhóm thợ đập lúa". Ở đó họ đi xuống từ một đám mây. Mỗi người mất hai mác!

Thế là họ đi Phrê-đê-rích-xbe, nghe nhạc, xem những con thuyền hoàng gia cắm cờ bay phấp phới, xem nhà vua già và những con thiên nga trắng. Uống xong một ấm trà ngon, họ vội vã lên đường, nhưng vẫn không tới nhà hát kịp giờ.

Tiết mục đi trên dây đã xong, tiết mục múa cà kheo đã xong, vở kịch câm đã bắt đầu. Họ tới muộn như mọi khi, và lỗi là ở ông cố vấn. Dọc đường, cứ chốc chốc ông lại dừng lại nói chuyện với người quen. Trong nhà hát ông cũng gặp bạn tốt. Xem xong, ông và bà vợ nhất định phải theo một gia đình về khu Cầu để thưởng thức một cốc rượu pân-sơ. Chỉ ghé chừng mười phút thôi, nhưng mười phút ấy kéo dài ra thành cả một giờ đồng hồ. Người ta nói chuyện, nói mãi. Đặc biệt thú vị là một ông nam tước người Thuỵ Điển, hay người Đức, ông cố vấn không nhớ chính xác. Nhưng cái trò ảo thuật với chìa khoá ông nam tước dạy cho thì ông nhớ mãi mãi. Thật là hay vô cùng! Ông ta có thể bắt chiếc chìa khoá trả lời mọi điều người ta hỏi nó, kể cả điều bí mật nhất.

Chiếc chìa khoá cổng của ông cố vấn đặc biệt hợp với trò ấy, vì đầu răng của nó nặng, mà nó thì phải treo thõng xuống. Ông nam tước đặt cái tay cầm của chìa khoá tựa lên ngón trỏ bàn tay phải. Chìa khoá treo lỏng lẻo, nhẹ nhàng ở đó, mỗi nhịp mạch đập ở đầu ngón tay cũng làm nó chuyển động mà xoay đi. Còn nếu nó không xoay, thì ông nam tước biết cách khéo léo khiến nó xoay theo ý mình mà không ai nhận ra. Mỗi vòng xoay là một chữ cái, từ chữ A trở xuống trong bảng chữ cái, tới chữ nào tuỳ ý. Tìm được chữ cái đầu tiên thì chìa khoá xoay ngược lại. Rồi người ta tìm chữ tiếp theo, và cứ thế ra được cả chữ, cả câu, ra câu trả lời. Toàn là bịp cả thôi, nhưng lúc nào cũng vui. Ông cố vấn ban đầu cũng nghĩ khá đúng như thế, nhưng ông không giữ được ý nghĩ ấy. Rồi ý nghĩ ấy cứ thế chạy hết vào chiếc chìa khoá.

Bà cố vấn gọi:

— Ông ơi! Ông ơi! Cổng Tây đóng lúc mười hai giờ! Mình không vào được đâu, chỉ còn có mười lăm phút để chạy thôi.

Họ phải vội vã. Chẳng mấy chốc nhiều người cũng muốn vào thành vượt lên trước họ. Cuối cùng họ tới gần trạm gác ngoài cùng thì đồng hồ điểm mười hai giờ, cổng sập lại. Cả một đám người bị nhốt bên ngoài, trong đó có vợ chồng ông cố vấn cùng cô hầu, cái ấm pha trà và cái giỏ đựng thức ăn đã rỗng. Có người đứng đó hoảng hốt lắm, có người bực bội, mỗi người một kiểu. Biết làm sao bây giờ?

May sao gần đây người ta vừa có lệnh để một cổng thành, cổng Bắc, không khoá. Người đi bộ có thể qua trạm gác đó mà vào thành.

Đường chẳng ngắn gì, nhưng trời đẹp, bầu trời trong vắt đầy sao, có cả sao băng, ếch nhái kêu ồm ộp dưới mương, ngoài đầm. Mọi người trong đoàn bắt đầu hát, hết bài này tới bài khác. Nhưng ông cố vấn không hát, không ngắm sao, thậm chí chẳng nhìn tới chân mình. Thế là ông ngã sóng soài ngay bên bờ mương. Người ta có thể tưởng ông đã uống quá chén, nhưng không phải tại rượu pân-sơ, mà tại chiếc chìa khoá đã bốc lên đầu ông và đang quay tít ở trong ấy.

Cuối cùng họ tới được trạm gác cầu Bắc, qua cầu và vào thành.

Bà cố vấn nói:

— Giờ thì tôi lại vui rồi! Cổng nhà mình đây!

Ông cố vấn nói:

— Nhưng chìa khoá cổng đâu nhỉ?

Nó không có trong túi sau, cũng không có trong túi bên.

Bà cố vấn kêu lên:

— Trời đất ơi! Ông không cầm chìa khoá à? Ông đánh rơi mất rồi, trong lúc làm trò ảo thuật chìa khoá với ông nam tước. Giờ làm sao mà vào nhà! Ông biết dây chuông đứt từ sáng nay rồi, người gác đêm thì không có chìa khoá nhà mình. Thế này thì tuyệt vọng mất!

Cô hầu bắt đầu khóc rống lên. Chỉ có ông cố vấn là giữ được bình tĩnh.

Ông nói:

— Phải đập vỡ một ô kính nhà ông hàng xén thôi, gọi ông ấy dậy rồi vào nhà.

Ông đập vỡ một ô kính, rồi hai ô. Ông thò cán ô qua lỗ kính mà gọi:

— Pê-téc-xen!

Bên trong, con gái ông hàng xén dưới hầm thét lên. Ông hàng xén bật tung cửa hàng ra, kêu "Gác đêm đâu!". Ông chưa kịp nhìn rõ gia đình ông cố vấn, nhận ra họ và cho họ vào, thì người gác đêm đã thổi còi, rồi ở phố bên một người gác đêm khác cũng thổi còi đáp lại. Mọi người thò đầu ra cửa sổ:

— Cháy ở đâu? Có chuyện gì ầm ĩ thế?

Họ vẫn còn hỏi khi ông cố vấn đã vào tới phòng mình, cởi áo khoác ra, và chiếc chìa khoá cổng nằm ngay trong đó. Không phải trong túi, mà trong lớp lót. Nó đã tuột xuống qua một cái lỗ lẽ ra không được có trong túi áo.

Từ tối hôm ấy, chiếc chìa khoá cổng có một ý nghĩa đặc biệt lớn lao, không chỉ khi người ta ra ngoài buổi tối, mà cả khi người ta ngồi nhà, và ông cố vấn trổ tài cho chiếc chìa khoá trả lời các câu hỏi.

Ông nghĩ ra câu trả lời hợp lý nhất, rồi để chiếc chìa khoá đưa ra câu ấy. Cuối cùng chính ông cũng tin vào nó. Nhưng anh dược sĩ thì không tin. Đó là một chàng trai trẻ, họ hàng gần với bà cố vấn.

Anh dược sĩ là người có đầu óc, một đầu óc phê phán. Ngay từ hồi còn là cậu học trò, anh đã viết bài phê bình sách và kịch, nhưng không ký tên, mà thế thì lợi lắm. Anh là người mà người ta gọi là tâm hồn đẹp, nhưng chẳng tin chút nào vào hồn ma, ít tin nhất là hồn ma trong chìa khoá.

Anh nói:

— Có chứ, tôi tin, tôi tin, thưa ông cố vấn kính mến. Tôi tin vào chiếc chìa khoá cổng và mọi hồn ma trong chìa khoá, chắc như tôi tin vào cái khoa học mới đang bắt đầu được người ta biết tới: bàn biết nhảy múa, hồn ma trong đồ đạc cũ và mới. Ông đã nghe chuyện ấy chưa? Tôi nghe rồi! Tôi đã nghi ngờ, ông biết tôi là kẻ đa nghi mà, nhưng tôi đã được cải đạo khi đọc một câu chuyện khủng khiếp trên một tờ báo nước ngoài hoàn toàn đáng tin cậy. Ông cố vấn ạ, ông thử nghĩ xem, tôi kể đúng như tôi đọc được. Có hai đứa trẻ thông minh từng thấy cha mẹ đánh thức hồn ma trong một cái bàn ăn lớn. Một hôm lũ trẻ ở nhà một mình, bèn thử làm y như thế, xoa cho một cái tủ ngăn kéo cũ sống dậy. Sự sống đến thật, hồn ma thức dậy thật, nhưng nó không chịu để trẻ con sai bảo. Nó đứng dậy, tủ kêu răng rắc, nó đẩy các ngăn kéo ra, dùng chân tủ nhấc mỗi đứa trẻ bỏ vào một ngăn, rồi cái tủ chạy ra cửa, mang theo hai đứa, xuống cầu thang, ra phố, tới bờ kênh, lao xuống nước, dìm chết cả hai đứa trẻ. Hai cái xác nhỏ được chôn trong đất thánh. Còn cái tủ thì bị đưa lên toà thị chính, bị kết tội giết trẻ con và bị thiêu sống giữa quảng trường. Tôi đọc được đấy! Đọc trên một tờ báo nước ngoài, không phải chuyện tôi tự bịa ra. Thề có chìa khoá làm chứng! Tôi xin thề một lời thề long trọng!

Ông cố vấn thấy nói thế là đùa quá trớn. Hai người không bao giờ nói chuyện được với nhau về chiếc chìa khoá. Anh dược sĩ là kẻ ngu dốt về chìa khoá.

Ông cố vấn tiến bộ mãi trong môn học về chìa khoá. Chiếc chìa khoá là thú vui của ông, là sự khôn ngoan của ông.

Một tối, ông cố vấn sắp đi ngủ, đang đứng cởi áo dở dang thì có tiếng gõ cửa ngoài hành lang. Đó là ông hàng xén dưới hầm, tới muộn thế. Ông ấy cũng đang cởi áo dở dang, nhưng ông bảo vừa nảy ra một ý nghĩ, sợ không giữ được qua đêm. Ông nói:

— Tôi muốn nói về con gái tôi, Lốt-tơ Lê-nơ. Nó là đứa con gái xinh xắn, nó đã chịu lễ thêm sức rồi, giờ tôi muốn lo cho nó một chỗ tốt!

Ông cố vấn mỉm cười:

— Tôi chưa goá vợ đâu đấy! Mà tôi cũng chẳng có con trai mà gả cho cô ấy!

Ông hàng xén nói:

— Ông cố vấn hiểu ý tôi mà! Nó chơi được dương cầm, hát được. Chắc ông ở trên này cũng nghe thấy. Ông không biết hết những gì con bé ấy nghĩ ra được đâu, nó bắt chước được giọng nói, dáng đi của mọi người. Nó sinh ra là để đóng kịch, mà đó là con đường tốt cho những cô gái xinh xắn con nhà tử tế. Họ có thể lấy được cả một bá tước, nhưng tôi với Lốt-tơ Lê-nơ không hề nghĩ chuyện ấy. Nó hát được, chơi dương cầm được! Thế là hôm nọ tôi dẫn nó lên trường dạy hát. Nó hát. Nhưng nó không có cái mà tôi gọi là giọng trầm như bia đen ở đàn bà, cũng chẳng có cái giọng rít như chim hoàng yến lên tận nốt cao nhất, như người ta bây giờ đòi ở các nữ ca sĩ. Thế là người ta khuyên nó hẳn đừng đi đường ấy. Chà, tôi nghĩ, không làm được ca sĩ thì làm diễn viên cũng được, chỉ cần có giọng nói là đủ. Hôm nay tôi nói chuyện ấy với ông đạo diễn, người ta gọi ông ấy thế. Ông ấy hỏi: "Cô ấy có đọc nhiều không?" Tôi bảo: "Không, chẳng đọc gì cả!" Ông ấy bảo: "Đọc sách là cần thiết cho một nghệ sĩ!" Tôi nghĩ rằng giờ đọc vẫn còn kịp, rồi tôi về nhà. Tôi nghĩ nó có thể vào một thư viện cho thuê sách mà đọc những gì có ở đó. Nhưng tối nay tôi đang ngồi cởi áo thì chợt nghĩ ra: sao lại phải thuê sách, khi có thể mượn được? Ông cố vấn có đầy sách, cứ để nó đọc sách của ông. Thế là đọc thoải mái, mà nó lại được đọc không mất tiền!

Ông cố vấn nói:

— Lốt-tơ Lê-nơ là một cô gái dễ thương, một cô gái xinh xắn! Cô ấy sẽ có sách mà đọc. Nhưng cô ấy có cái mà người ta gọi là lửa trong tâm hồn không, có cái chất thiên tài, có tài năng không? Và điều cũng quan trọng không kém, cô ấy có gặp may không?

Ông hàng xén nói:

— Nó trúng xổ số hàng hoá hai lần rồi. Một lần nó trúng một cái tủ quần áo, một lần trúng sáu đôi khăn trải giường. Tôi gọi thế là may mắn, và nó có may mắn!

Ông cố vấn nói:

— Để tôi hỏi chiếc chìa khoá!

Rồi ông đặt chiếc chìa khoá lên ngón trỏ tay phải của mình và ngón trỏ tay phải của ông hàng xén, để chìa khoá xoay, cho ra từng chữ, từng chữ.

Chiếc chìa khoá nói: "Thắng lợi và may mắn!" Thế là tương lai của Lốt-tơ Lê-nơ đã được định đoạt.

Ông cố vấn đưa ngay cho cô hai cuốn sách để đọc: vở kịch "Đy-vê-kơ" và cuốn "Cách giao tiếp với người đời" của Cních-gơ.

Từ tối ấy bắt đầu một tình quen biết thân thiết hơn giữa Lốt-tơ Lê-nơ và vợ chồng ông cố vấn. Cô lên chơi với gia đình ông, và ông cố vấn thấy cô là một cô gái hiểu biết, cô tin vào ông và vào chiếc chìa khoá. Bà cố vấn thì thấy ở cái vẻ mạnh dạn khi cô lúc nào cũng phô ra sự dốt nát lớn của mình một cái gì đó ngây thơ, trong trắng. Hai vợ chồng, mỗi người một kiểu, đều quý cô, và cô cũng quý họ.

Lốt-tơ Lê-nơ nói:

— Trên này thơm quá!

Ở đây có mùi, một mùi hương, mùi táo ngoài hành lang, nơi bà cố vấn để nguyên một thùng táo Grô-xten. Lại có mùi trầm hương hoa hồng và oải hương khắp các phòng.

Lốt-tơ Lê-nơ nói:

— Trông sang trọng thật!

Rồi mắt cô say sưa ngắm những bông hoa đẹp mà bà cố vấn lúc nào cũng có. Ở đây, ngay giữa mùa đông, cành tử đinh hương, cành anh đào vẫn nở hoa. Những cành trụi lá cắt ra được cắm vào nước, trong căn phòng ấm áp, chẳng mấy chốc đã ra hoa ra lá. Bà cố vấn nói:

— Người ta cứ tưởng sự sống đã rời bỏ những cành cây trơ trụi, vậy mà xem kìa, nó sống lại từ cõi chết.

Lốt-tơ Lê-nơ nói:

— Cháu chưa bao giờ nghĩ tới điều ấy! Thiên nhiên đáng yêu thật!

Rồi ông cố vấn cho cô xem "cuốn sổ chìa khoá" của ông, trong đó ghi lại những điều lạ lùng chiếc chìa khoá đã nói, kể cả chuyện nửa cái bánh táo biến mất khỏi tủ đúng vào tối cô hầu có người yêu tới chơi.

Ông cố vấn hỏi chiếc chìa khoá của mình: "Ai đã ăn bánh táo, con mèo hay anh người yêu?" Chiếc chìa khoá cổng trả lời: "Anh người yêu!" Ông cố vấn đã tin thế từ trước khi hỏi, và cô hầu thú nhận. Cái chìa khoá chết tiệt ấy biết hết mọi chuyện.

Ông cố vấn nói:

— Có lạ không cơ chứ! Cái chìa khoá ấy, cái chìa khoá ấy! Còn về Lốt-tơ Lê-nơ, nó đã nói: "Thắng lợi và may mắn!" Rồi ta sẽ thấy! Tôi xin bảo đảm.

Lốt-tơ Lê-nơ nói:

— Đáng yêu quá!

Bà cố vấn không cả tin như thế. Nhưng bà không nói ra mối ngờ của mình khi chồng nghe thấy. Về sau bà mới tâm sự với Lốt-tơ Lê-nơ rằng hồi còn trẻ, ông cố vấn từng mê nhà hát như điên. Hồi ấy giá có ai đẩy ông một cái, chắc chắn ông đã lên sân khấu làm diễn viên, nhưng gia đình lại đẩy ông ra xa. Ông muốn lên sân khấu, và để lên được, ông đã viết một vở hài kịch. Bà bảo:

— Đây là một bí mật lớn ta tâm sự với cô thôi đấy, cô Lốt-tơ Lê-nơ bé nhỏ. Vở hài kịch không tồi, được Nhà hát Hoàng gia nhận diễn, rồi bị huýt sáo chê ầm ĩ, đến nỗi từ đó chẳng ai nghe nhắc tới nó nữa, và ta mừng vì thế. Ta là vợ ông ấy, ta hiểu ông ấy. Giờ cô muốn đi đúng con đường ấy. Ta chúc cô mọi điều tốt lành, nhưng ta không tin là sẽ thành. Ta không tin vào chiếc chìa khoá cổng!

Lốt-tơ Lê-nơ thì tin vào nó, và trong niềm tin ấy cô với ông cố vấn gặp nhau.

Trái tim họ hiểu nhau, trong khuôn phép và danh dự.

Cô gái ấy ngoài ra còn có nhiều tài khéo khác mà bà cố vấn đánh giá cao. Lốt-tơ Lê-nơ biết làm bột hồ từ khoai tây, biết khâu găng tay lụa từ những đôi tất lụa cũ, biết bọc lại đôi giày lụa đi khiêu vũ, dù cô có thừa tiền mua mọi đồ mới. Theo lời ông hàng xén, cô có xu trong ngăn kéo bàn và trái phiếu trong két sắt. Thật ra đó là một người vợ hợp với anh dược sĩ, bà cố vấn nghĩ, nhưng bà không nói ra, cũng không để chiếc chìa khoá nói ra. Anh dược sĩ sắp lập nghiệp, có hiệu thuốc riêng, ở một trong những thị trấn tỉnh lẻ lớn nhất, gần nhất.

Lốt-tơ Lê-nơ cứ đọc mãi "Đy-vê-kơ" và cuốn "Cách giao tiếp với người đời" của Cních-gơ. Cô giữ hai cuốn sách ấy suốt hai năm, nhưng nhờ thế cô thuộc lòng một cuốn, cuốn "Đy-vê-kơ", thuộc tất cả các vai. Nhưng cô chỉ muốn đóng một vai thôi, vai Đy-vê-kơ, và không diễn ở kinh đô, nơi có quá nhiều kẻ ghen ghét, nơi người ta sẽ chẳng muốn nhận cô. Cô muốn bắt đầu con đường nghệ thuật của mình, như ông cố vấn gọi thế, ở một trong những thị trấn tỉnh lẻ lớn của đất nước.

Thế rồi tình cờ lạ lùng sao, đó lại đúng là cái nơi chàng dược sĩ trẻ đã lập nghiệp, làm ông dược sĩ trẻ nhất, nếu không phải là duy nhất, của thị trấn.

Buổi tối trọng đại, đầy háo hức đã tới. Lốt-tơ Lê-nơ sẽ ra diễn, sẽ giành thắng lợi và may mắn, như chiếc chìa khoá đã nói. Ông cố vấn không có mặt ở đó, ông đang nằm liệt giường, bà cố vấn chăm sóc ông. Ông phải được đắp khăn nóng và uống trà hoa cúc: khăn nóng đắp bụng, còn trà thì uống vào bụng.

Hai vợ chồng không được xem buổi diễn "Đy-vê-kơ", nhưng anh dược sĩ thì có mặt, và đã viết thư kể chuyện ấy cho người họ hàng của mình là bà cố vấn.

Anh viết: "Cái cổ áo của vai Đy-vê-kơ là thứ hay nhất! Giá trong túi tôi có chiếc chìa khoá cổng của ông cố vấn, tôi đã lôi nó ra mà thổi huýt sáo chê. Cô ấy đáng bị thế, mà chiếc chìa khoá cũng đáng bị thế, cái thứ đã nói dối cô ấy một cách đáng xấu hổ: Thắng lợi và may mắn."

Ông cố vấn đọc thư. Ông bảo tất cả chỉ là độc ác, là thù ghét chìa khoá, trút lên đầu cô gái vô tội.

Và vừa dậy được khỏi giường, trở lại làm người, ông đã gửi cho anh dược sĩ một bức thư ngắn mà đầy nọc độc. Anh dược sĩ đáp lại như thể chẳng hiểu gì trong cả bức thư ngoài những lời đùa vui và sự vui vẻ.

Anh cảm ơn ông vì bức thư ấy cũng như vì mọi đóng góp thiện chí trong tương lai nhằm truyền bá giá trị và ý nghĩa vô song của chiếc chìa khoá. Rồi anh tâm sự với ông cố vấn rằng ngoài công việc dược sĩ, anh đang viết một cuốn tiểu thuyết lớn về chìa khoá, trong đó mọi nhân vật đều là chìa khoá, chỉ toàn chìa khoá thôi.

"Chiếc chìa khoá cổng" tất nhiên là nhân vật chính, và chiếc chìa khoá cổng của ông cố vấn là hình mẫu cho anh, được phú cho con mắt nhìn thấu và tài tiên tri. Mọi chiếc chìa khoá khác đều phải xoay quanh nó: chiếc chìa khoá thị thần già, kẻ biết vẻ lộng lẫy và những buổi hội hè trong cung; chiếc chìa khoá đồng hồ, nhỏ nhắn, tinh tế, sang trọng, giá bốn xu ở hàng đồ sắt; chiếc chìa khoá ghế dành riêng trong nhà thờ, nó tự xếp mình vào hàng giáo sĩ, và vì có lần ngồi suốt một đêm trong lỗ khoá nhà thờ nên đã thấy hồn ma; chìa khoá buồng thức ăn, chìa khoá kho củi, chìa khoá hầm rượu, tất cả đều bước ra, cúi chào và xoay quanh chiếc chìa khoá cổng. Những tia nắng chiếu lên nó sáng như bạc. Gió, linh hồn của thế gian, thổi vào nó kêu lên vi vu. Nó là chìa khoá của mọi chìa khoá. Nó từng là chiếc chìa khoá cổng nhà ông cố vấn, giờ nó là chìa khoá cổng thiên đường, nó là chìa khoá của Giáo hoàng, nó không bao giờ sai lầm!

Ông cố vấn nói:

— Độc ác! Độc ác tày trời!

Ông và anh dược sĩ không bao giờ gặp lại nhau nữa. À không, còn gặp, ở đám tang bà cố vấn.

Bà mất trước.

Cả nhà buồn thương, trống vắng. Ngay cả những cành anh đào cắt ra, từng đâm chồi nở hoa tươi, cũng sầu muộn, héo dần. Chúng đứng đó bị quên lãng, bà không còn chăm sóc chúng nữa.

Ông cố vấn và anh dược sĩ đi sau linh cữu bà, sánh vai nhau, như hai người họ hàng gần nhất. Ở đây chẳng phải lúc, cũng chẳng phải tâm trạng nào mà cãi cọ.

Lốt-tơ Lê-nơ quấn băng tang lên mũ ông cố vấn. Cô đang ở trong nhà, đã quay về từ lâu, chẳng có thắng lợi và may mắn gì trên con đường nghệ thuật. Nhưng những điều ấy vẫn có thể tới, Lốt-tơ Lê-nơ còn có tương lai. Chiếc chìa khoá đã nói thế, và ông cố vấn đã nói thế.

Cô lên chỗ ông. Họ nói về người đã khuất, và họ khóc. Lốt-tơ Lê-nơ mềm lòng lắm. Họ nói về nghệ thuật, và Lốt-tơ Lê-nơ lại cứng cỏi.

Cô nói:

— Đời sân khấu đáng yêu thật! Nhưng ở đó lắm chuyện lôi thôi, lắm ghen ghét quá! Cháu thà đi con đường riêng của mình. Trước hết là bản thân mình, rồi mới tới nghệ thuật!

Cních-gơ đã nói đúng trong chương sách viết về diễn viên, cô nhận ra điều ấy. Chiếc chìa khoá thì đã không nói đúng, nhưng cô không nói chuyện ấy với ông cố vấn. Cô quý ông.

Suốt năm để tang, chiếc chìa khoá cổng là niềm an ủi, là nguồn động viên của ông. Ông hỏi nó, và nó trả lời ông. Rồi khi hết năm, một buổi tối đầy xúc cảm, ông và Lốt-tơ Lê-nơ ngồi bên nhau, ông hỏi chiếc chìa khoá:

— Ta có lấy vợ nữa không, và ta sẽ lấy ai?

Chẳng ai đẩy ông, ông tự đẩy chiếc chìa khoá, và nó nói: "Lốt-tơ Lê-nơ!"

Thế là đã nói ra rồi, và Lốt-tơ Lê-nơ trở thành bà cố vấn.

"Thắng lợi và may mắn!"

Những lời ấy đã được nói trước, bởi chiếc chìa khoá cổng.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảHans Christian Andersen (1805 – 1875)
Năm mất1875
Xuất bản lần đầu1872
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Portnøglen, 1872
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →