Truyện Đỉnh

🏮 Truyện ma & truyền kỳ

Chiếc gương cổ của Vương Độ

của Truyền kỳ đời Đường (nhiều tác giả)

⏱ 19 phút🎙️ Giọng Bảo Trang📖 19.018 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Đời Tuỳ, ở đất Phần Âm có ông Hầu,…
  2. 2:27Ngươi hãy tự kể trước, rồi hẵng hiện hình,…
  3. 3:39Tôi hỏi:
  4. 5:51Xin ông cất gương vào hộp.
  5. 8:09Nhà sư đáp:
  6. 10:40Lập tức hết sốt, đến tối thì khỏi cả.…
  7. 12:28Anh có tiếc gì với em.
  8. 16:00Em về Cối Kê, gặp người lạ là Trương…

Đời Tuỳ, ở đất Phần Âm có ông Hầu, là bậc kỳ sĩ trong thiên hạ. Vương Độ tôi thường thờ ông như thầy. Lúc sắp mất, ông tặng tôi một chiếc gương cổ, dặn:

— Giữ cái này thì trăm thứ tà ma tránh xa người.

Tôi nhận lấy, quý như của báu. Gương rộng tám tấc. Núm gương đúc hình con kỳ lân nằm phục. Quanh núm chia bốn phương, có rùa, rồng, phượng, hổ, mỗi con một phương. Ngoài bốn phương lại có tám quẻ, ngoài tám quẻ đặt mười hai chi, mỗi chi có hình con vật của nó. Ngoài vòng mười hai con vật lại có hai mươi bốn chữ chạy quanh vành gương, nét chữ giống lối lệ, đủ chấm đủ nét, nhưng không có trong sách chữ nào cả. Thầy Hầu bảo đó là hình tượng của hai mươi bốn tiết khí. Đưa gương ra hứng nắng, thì hình vẽ trên lưng gương in đậm cả vào trong bóng, không sai một li. Cầm lên gõ, tiếng ngân trong trẻo kéo dài, hết cả ngày mới dứt. Ôi, đó không phải thứ gương thường, đáng được bậc cao nhân quý trọng, tự xưng là vật thiêng.

Thầy Hầu thường nói: ta nghe xưa Hoàng Đế đúc mười lăm chiếc gương. Chiếc thứ nhất rộng một thước năm tấc, theo số ngày trăng tròn. Mỗi chiếc sau nhỏ hơn chiếc trước một tấc. Đây là chiếc thứ tám. Tuy năm tháng đã xa, sách vở im lìm, nhưng lời bậc cao nhân kể lại thì không thể là dối.

Xưa họ Dương được chim sẻ trả vòng ngọc mà mấy đời được phúc. Ông Trương mất kiếm thì thân cũng hết. Nay tôi gặp đời rối ren, thường ngày ưu uất. Nhà vua như sắp đổ, đời mình chẳng biết về đâu. Gương báu lại đi mất rồi, thương thay! Nay tôi chép hết những dấu tích lạ của nó ra đây, để mấy nghìn năm sau, nếu có ai được nó, thì biết gốc gác ra sao.

Tháng năm năm Đại Nghiệp thứ bảy, tôi thôi chức ngự sử về Hà Đông, vừa gặp lúc thầy Hầu mất, nên được chiếc gương này. Tháng sáu năm ấy, tôi về Trường An. Tới dốc Trường Lạc, tôi nghỉ trọ ở nhà một người tên là Trình Hùng. Trình Hùng vừa được người ta gửi lại một đứa hầu gái, khá xinh đẹp, tên là Anh Vũ.

Tôi vừa tháo yên ngựa, định sửa lại mũ áo, cầm gương lên soi. Anh Vũ từ xa trông thấy, liền dập đầu đến chảy máu, kêu là không dám ở lại. Tôi gọi chủ nhà hỏi duyên cớ. Trình Hùng nói:

— Hai tháng trước có một người khách đem con hầu này từ phía đông tới. Lúc ấy nó ốm nặng lắm, người khách gửi lại, hẹn ngày về sẽ đến lấy. Nhưng rồi không thấy quay lại, tôi cũng không biết gốc gác nó ra sao.

Tôi ngờ là yêu quái, cầm gương dí sát lại. Nó kêu:

— Xin tha mạng!

Rồi nó sắp hiện nguyên hình. Tôi liền che gương lại, bảo:

— Ngươi hãy tự kể trước, rồi hẵng hiện hình, ta sẽ tha mạng cho.

Đứa hầu lạy hai lạy, tự kể:

— Tôi là con cáo già nghìn năm dưới gốc tùng lớn trước miếu thần núi Hoa Sơn. Vì biến hoá mê hoặc người nhiều, tội đáng phải chết, bị thần núi lùng bắt, nên trốn ra vùng sông Hoàng, sông Vị. Tôi làm con nuôi ông Trần Tư Cung ở Hạ Khuê, được nuôi nấng rất hậu. Ông gả tôi cho người cùng làng là Sài Hoa. Tôi với Sài Hoa không hợp nhau, bèn trốn sang phía đông huyện Hàn Thành, bị một người đi đường tên là Lý Vô Ngạo bắt được. Vô Ngạo là gã đàn ông thô bạo, dắt tôi đi khắp nơi mấy năm. Vừa rồi theo hắn tới đây, bỗng bị gửi lại. Không ngờ lại gặp gương trời, không còn đường nào mà ẩn hình nữa.

Tôi lại hỏi:

— Ngươi vốn là cáo già, hoá thành người, há chẳng hại người sao?

Anh Vũ đáp:

— Tôi hoá hình để hầu hạ người, chứ không hại ai. Nhưng trốn tránh, mê hoặc, là điều thần linh ghét, tự nhiên phải chết thôi.

Tôi lại hỏi:

— Ta muốn tha cho ngươi, được không?

Anh Vũ nói:

— Đội ơn ngài hậu đãi, đâu dám quên đức. Nhưng gương trời đã soi một lần thì không thể trốn hình được nữa. Có điều tôi làm người đã lâu, ngượng phải trở lại hình cũ. Xin ngài cất gương vào hộp, cho tôi được uống say rồi chết.

Tôi hỏi:

— Ta cất gương vào hộp, ngươi không trốn ư?

Anh Vũ cười:

— Ngài vừa có lời tốt, còn hứa tha cho tôi. Ngài cất gương mà tôi bỏ trốn, há chẳng phải phụ ơn đến cùng. Nhưng gương trời đã soi, tôi chẳng còn lối nào mà chạy. Tôi chỉ mong được vài khắc sống, để hưởng cho hết cái vui một đời.

Tôi lập tức cất gương vào hộp, lại cho bày rượu, mời hết hàng xóm của Trình Hùng đến cùng ăn uống vui đùa. Một lát con hầu đã say mèm, phất áo đứng dậy múa mà hát:

Gương báu ơi gương báu,
Thương thay mạng của ta.
Từ khi ta lìa hình cũ,
Đến nay đã qua mấy họ.
Sống tuy là vui,
Chết cũng chẳng buồn.
Cớ chi quyến luyến,
Giữ mãi một phương.

Hát xong, nó lạy hai lạy, hoá thành con cáo già mà chết. Cả bàn tiệc kinh ngạc than thở.

Năm Đại Nghiệp thứ tám, ngày mồng một tháng tư, có nhật thực. Bấy giờ tôi đang trực ở đài ngự sử, ban ngày nằm nghỉ trong gác. Thấy trời tối dần, các viên lại báo nhật thực nặng lắm. Lúc sửa lại áo, tôi lấy gương ra, thấy gương cũng mờ tối, không còn chút ánh sáng nào. Tôi nghĩ chiếc gương báu này được đúc ra, hợp với cái diệu của âm dương ánh sáng. Bằng không, sao mặt trời mất ánh mà gương báu cũng mất sáng? Đang kinh ngạc chưa thôi, thì chốc lát ánh sáng hiện ra, mặt trời cũng sáng dần. Đến khi mặt trời sáng trở lại, gương cũng trong trẻo như cũ. Từ đó, mỗi lần nhật thực, nguyệt thực, gương cũng mờ đi.

Ngày rằm tháng tám năm ấy, người bạn của tôi là Tiết Hiệp được một thanh kiếm đồng dài bốn thước. Lưỡi liền với chuôi, chuôi chạm rồng phượng cuộn quanh, bên trái vân như ngọn lửa, bên phải vân như sóng nước, ánh sáng rực rỡ, không phải vật thường. Tiết Hiệp cầm kiếm đến tìm tôi, nói:

— Thanh kiếm này tôi thường thử rồi. Cứ ngày rằm mỗi tháng, trời đất trong sáng, đặt nó trong phòng tối, nó tự phát sáng, soi xa mấy trượng. Tôi giữ nó đã lâu. Ông vốn thích của lạ, mê đồ cổ như đói như khát, tôi muốn cùng ông thử nó đêm nay.

Tôi mừng lắm. Đêm ấy quả nhiên trời đất quang đãng. Chúng tôi đóng kín một gian phòng, không chừa một khe hở, cùng ngủ ở đó. Tôi cũng lấy gương báu ra, đặt cạnh chỗ ngồi. Chốc lát gương toả sáng, soi rực cả phòng, nhìn nhau rõ như ban ngày. Thanh kiếm nằm bên cạnh, chẳng còn chút ánh sáng nào. Tiết Hiệp kinh hãi:

— Xin ông cất gương vào hộp.

Tôi làm theo. Lúc ấy thanh kiếm mới phát sáng, nhưng chỉ được một hai thước. Tiết Hiệp vuốt kiếm than:

— Thần vật trong thiên hạ cũng có lẽ khắc chế nhau.

Từ đó, cứ đến ngày rằm, tôi lại lấy gương ra trong phòng tối, ánh sáng thường soi xa mấy trượng. Nhưng nếu ánh trăng lọt vào phòng thì gương không sáng. Phải chăng ánh sáng của mặt trời mặt trăng thì không thể địch nổi?

Mùa đông năm ấy, tôi kiêm chức trước tác lang, vâng chiếu soạn quốc sử, định viết truyện Tô Xước. Nhà tôi có một gia nô tên là Báo Sinh, đã bảy mươi tuổi, vốn là bộ khúc của họ Tô, khá đọc sử sách, biết sơ qua việc làm văn. Thấy bản thảo truyện tôi viết, lão buồn rầu không kìm được. Tôi hỏi duyên cớ, lão thưa:

— Báo Sinh tôi từng được Tô công đối đãi hậu. Nay thấy lời Tô công đã ứng nghiệm, cho nên buồn. Chiếc gương báu cậu đang giữ, chính là của ông Miêu Quý Tử người Hà Nam, bạn của Tô công, tặng cho Tô công. Tô công quý nó lắm. Năm sắp mất, Tô công buồn rầu không vui, thường gọi ông Miêu đến bảo: ta tự liệu ngày chết chẳng còn xa, không biết chiếc gương này sẽ về tay ai. Nay ta muốn bói một quẻ cỏ thi, mong tiên sinh xem giùm. Rồi Tô công quay sang bảo tôi lấy cỏ thi, tự tay bày quẻ. Bói xong, Tô công nói: ta chết hơn mười năm thì nhà ta sẽ mất chiếc gương này, chẳng biết nó đi đâu. Nhưng thần vật trong trời đất, động tĩnh đều có điềm báo. Nay ở vùng giữa sông Hoàng sông Phần thường có khí báu, hợp với quẻ bói, có lẽ gương sẽ về đó chăng. Ông Quý Tử hỏi: cũng sẽ vào tay người ta chứ? Tô công lại xem kỹ quẻ, nói: trước vào nhà họ Hầu, sau về họ Vương. Từ đó trở đi thì không biết đâu mà lần.

Báo Sinh nói xong thì khóc. Tôi hỏi người họ Tô, quả họ nói ngày trước nhà có chiếc gương ấy, sau khi Tô công mất thì không biết đi đâu, đúng như lời Báo Sinh. Vì thế khi viết truyện Tô công, ở cuối truyện tôi cũng kể đủ việc này. Câu tôi bàn rằng Tô công bói cỏ thi tài tuyệt, lặng lẽ dùng một mình, chính là nói chuyện này.

Sáng mồng một tháng giêng năm Đại Nghiệp thứ chín, có một nhà sư người Hồ đi khất thực đến nhà tôi. Em tôi là Tích ra tiếp, thấy thần thái nhà sư không tầm thường, bèn mời vào nhà, dọn cơm mời. Ngồi chuyện trò hồi lâu, nhà sư bảo Tích:

— Nhà thí chủ hình như có chiếc gương báu tuyệt thế, có thể cho xem được không?

Tích hỏi:

— Pháp sư làm sao biết?

Nhà sư đáp:

— Bần tăng được truyền bí thuật, khá nhận ra khí báu. Trên nhà thí chủ, ngày nào cũng có ánh biếc nối với mặt trời, khí đỏ liền với mặt trăng. Đó là khí của gương báu. Bần tăng thấy đã hai năm rồi. Nay chọn ngày lành, nên muốn được xem một lần.

Tích đem gương ra. Nhà sư quỳ xuống nâng lấy, vui mừng nhảy nhót, rồi bảo Tích:

— Chiếc gương này có mấy phép linh mà các vị chưa thấy. Chỉ cần lấy cao vàng bôi lên, lấy bột ngọc trai lau đi, rồi giơ lên soi mặt trời, bóng sẽ xuyên qua cả tường vách.

Nhà sư lại than:

— Nếu làm thêm phép nữa, còn soi thấu được cả gan ruột người, chỉ tiếc không có thuốc. Chỉ cần lấy khói vàng hun, nước ngọc rửa, rồi lại lấy cao vàng, bột ngọc lau đúng phép, thì dù vùi vào bùn cũng không bị mờ.

Nhà sư để lại cách dùng khói vàng, nước ngọc, làm theo không lần nào không ứng nghiệm. Còn nhà sư người Hồ thì không bao giờ thấy lại nữa.

Mùa thu năm ấy, tôi ra kiêm chức huyện lệnh Nhuế Thành. Trước sảnh huyện có một cây táo, gốc to mấy vòng tay ôm, không biết đã mấy trăm năm. Các huyện lệnh trước sau đến nhậm chức đều phải cúng cây ấy, không thì tai hoạ ập đến ngay. Tôi cho rằng yêu quái do người mà sinh ra, những lễ cúng bậy bạ nên dẹp bỏ. Các viên lại trong huyện đều dập đầu xin tôi, tôi bất đắc dĩ phải làm lễ cúng. Nhưng tôi thầm nghĩ cây này hẳn có yêu tinh nương náu, người ta không trừ nổi nên nó mới thành thế lớn. Tôi bèn lén treo gương giữa cành cây.

Đêm ấy, khoảng canh hai, nghe trước sảnh có tiếng rầm rầm như sấm. Tôi dậy xem, thấy mưa gió tối mù quấn quanh gốc cây, ánh chớp loé sáng, lúc lên lúc xuống. Đến sáng, có một con rắn lớn, vảy tía đuôi đỏ, đầu xanh sừng trắng, trên trán có chữ vương, mình mang mấy vết thương, chết ở gốc cây. Tôi gỡ gương xuống, sai lính khiêng con rắn ra đốt ngoài cổng huyện. Rồi cho đào gốc cây, thấy trong lòng cây có một cái hốc, xuống tới đất thì rộng dần, có dấu vết con rắn lớn nằm khoanh. Đào xong lấp lại, từ đó yêu quái dứt hẳn.

Mùa đông năm ấy, tôi giữ chức ngự sử kiêm huyện lệnh Nhuế Thành, cầm cờ tiết đi đạo Hà Bắc, mở kho phát thóc cứu đói vùng phía đông Thiểm Châu. Bấy giờ thiên hạ đói to, dân chúng ốm đau, vùng Bồ, Thiểm dịch bệnh càng dữ. Có người Hà Bắc tên là Trương Long Câu, làm lại nhỏ dưới quyền tôi. Cả nhà hắn, chủ lẫn tớ mấy chục người, cùng một lúc đổ bệnh. Tôi thương tình, đưa gương đến nhà, bảo Long Câu cầm gương đêm đến soi. Những người ốm thấy gương đều giật mình ngồi dậy, nói:

— Thấy Long Câu cầm một vầng trăng đến soi. Ánh sáng chạm tới đâu thì như băng áp vào người, lạnh thấu tận gan ruột.

Lập tức hết sốt, đến tối thì khỏi cả. Tôi nghĩ gương không bị hại gì mà lại cứu được nhiều người, bèn bảo Long Câu kín đáo mang gương đi khắp nơi soi cho dân.

Đêm ấy, gương trong hộp bỗng tự kêu lên lanh lảnh, tiếng vang rất xa, hồi lâu mới thôi. Tôi lấy làm lạ. Sáng hôm sau, Long Câu đến nói:

— Đêm qua con bỗng mơ thấy một người đầu rồng mình rắn, đội mũ đỏ, mặc áo tía, bảo con: ta là tinh của chiếc gương, tên là Tử Trân. Ta thường có ơn với nhà ngươi, nên đến nhờ ngươi tạ lỗi giùm ta với Vương công. Trăm họ có tội, trời cho họ mắc bệnh, sao lại bắt ta trái mệnh trời mà cứu người? Vả lại bệnh đến tháng sau sẽ khỏi dần, đừng làm khổ ta nữa.

Tôi cảm sự linh thiêng lạ lùng của gương, nên ghi lại chuyện này. Đến tháng sau, bệnh quả nhiên khỏi dần, đúng như lời gương nói.

Năm Đại Nghiệp thứ mười, em tôi là Tích bỏ chức huyện thừa Lục Hợp trở về, lại định đi chơi khắp núi sông, tính chuyện đi luôn không về. Tôi ngăn lại:

— Nay thiên hạ sắp loạn, trộm cướp đầy đường, em định đi đâu? Vả lại anh em ta cùng một khí huyết, chưa từng xa nhau lâu. Chuyến này em đi, hình như định đi ở ẩn cao xa. Xưa Thượng Tử Bình đi chơi năm núi lớn, không biết về đâu. Em mà theo gót người xưa, thì anh không chịu nổi.

Tôi khóc trước mặt Tích. Tích nói:

— Ý em đã quyết, nhất định không ở lại được. Anh là người thông đạt ngày nay, hẳn không gì là không hiểu. Khổng Tử nói: kẻ thất phu cũng không thể bị cướp mất chí. Đời người trăm năm, thoáng qua như ngựa chạy qua khe cửa. Được thoả lòng thì vui, mất chí thì buồn. Cho người ta yên ổn theo điều mình muốn, đó là nghĩa của thánh nhân.

Tôi bất đắc dĩ phải từ biệt em. Tích nói:

— Chia tay lần này, em cũng có điều muốn xin. Chiếc gương báu của anh không phải vật tầm thường. Em sắp dấn chí lên đường mây, gửi bước nơi khói ráng, muốn anh tặng em chiếc gương này.

Tôi nói:

— Anh có tiếc gì với em.

Tôi đưa gương cho em. Tích được gương liền đi, không nói đi đâu.

Đến tháng sáu mùa hè năm Đại Nghiệp thứ mười ba, Tích mới trở về Trường An, mang gương về trả. Tích kể với tôi:

— Gương này thật là của báu. Từ biệt anh, em đi chơi núi Tung, núi Thiếu Thất trước. Xuống cầu đá, ngồi trên đàn ngọc. Gặp lúc trời tối, em thấy một mỏm đá khoét vào, có một gian nhà đá chứa được ba năm người, em nghỉ lại đó.

Đêm trăng, sau canh hai, có hai người tới. Một người mặt như người Hồ, râu mày bạc trắng mà gầy, xưng là Sơn công. Một người mặt rộng, râu trắng, mày dài, đen mà thấp, xưng là Mao sinh. Họ hỏi em: ai ở đây thế? Em đáp: kẻ đi tìm chốn u tịch, dò hang hốc, thăm chuyện lạ. Hai người ngồi xuống chuyện trò với em hồi lâu, thường có những ý lạ ngoài lời. Em ngờ là yêu tinh, lén đưa tay ra sau, mở hộp lấy gương. Ánh gương vừa toả ra, hai người kêu thất thanh, ngã sấp xuống. Gã thấp hoá thành con rùa, gã mặt Hồ hoá thành con vượn. Em treo gương tới sáng thì cả hai đều chết. Mình rùa có lông xanh, mình vượn có lông trắng.

Rồi em vào núi Cơ, qua sông Dĩnh, đi qua Thái Hoà, xem giếng Ngọc. Bên giếng có một cái ao, nước trong xanh biếc. Hỏi người tiều phu, người ấy nói: đây là đầm thiêng, dân làng mỗi năm tám tiết đều cúng tế để cầu phúc. Nếu thiếu một lần cúng, nước ao sẽ bốc mây đen, mưa đá lớn, ngập đê lở gò. Em cầm gương soi xuống, nước ao sôi sục, có tiếng sấm nổ. Bỗng nước ao vọt lên, trong ao không còn sót một giọt, bay xa chừng hai trăm bước mới rơi xuống đất. Có một con cá dài hơn một trượng, to hơn bắp tay, đầu đỏ trán trắng, mình xanh vàng lẫn lộn, không có vảy mà có nhớt, hình rồng sừng rắn, mõm nhọn như cá tầm, cựa quậy thì phát sáng. Nó nằm trong bùn, mệt lả không đi xa được. Em đoán là giao long, mất nước nên không làm gì được, bèn giết đi nướng ăn, thịt béo mà ngon, đủ ăn mấy bữa.

Rồi em ra vùng Tống, Biện. Nhà chủ trọ ở Biện là Trương Kỳ có cô con gái mắc bệnh. Hễ đêm xuống là cô kêu đau thảm thiết, nghe không chịu nổi. Em hỏi duyên cớ, thì bệnh đã hơn một năm, ban ngày thì yên, đêm nào cũng như thế. Em ở lại một đêm, nghe tiếng cô kêu, bèn mở gương soi. Người bệnh kêu lên: chàng đội mũ đỏ bị giết rồi! Dưới giường người bệnh có một con gà trống lớn chết, chính là con gà già bảy tám tuổi của chủ nhà.

Em đi chơi Giang Nam. Sắp qua sông Dương Tử ở Quảng Lăng, bỗng mây đen phủ kín mặt nước, gió đen nổi sóng, người lái đò tái mặt, sợ thuyền lật. Em mang gương lên thuyền, soi xuống sông mấy bước, nước sáng trong thấy tận đáy, gió mây tan cả bốn phía, sóng lặng hẳn. Chỉ chốc lát đã qua được con sông hiểm.

Em lên núi Nhiếp, tới núi Phương. Có khi trèo lên đỉnh cao, có khi vào hang sâu. Gặp đàn chim bay vây quanh người mà kêu, mấy con gấu ngồi chặn đường, em giơ gương vẫy, gấu với chim đều kinh hãi chạy tán loạn.

Lúc qua sông Chiết, gặp nước triều từ biển dâng lên, tiếng sóng gầm vang xa mấy trăm dặm. Người lái thuyền nói: sóng sắp tới rồi, chưa thể sang phía nam. Nếu không quay thuyền, chúng ta ắt vùi thây trong bụng cá. Em lấy gương ra soi, sóng sông không tiến lên được nữa, đứng sừng sững như mây. Nước sông bốn phía rẽ ra hơn năm mươi bước, nước dần trong và cạn, ba ba cá sấu chạy tán loạn. Thuyền giương buồm phơi phới, đi thẳng vào bến nam. Rồi quay lại nhìn, thì sóng cả cuồn cuộn cao mấy chục trượng ập tới đúng chỗ thuyền vừa qua.

Em lên núi Thiên Thai, xem khắp hang động. Đêm đi trong núi, em đeo gương bên mình, cách người trăm bước, bốn phía đều sáng rõ, vật nhỏ li ti cũng thấy. Chim ngủ trong rừng giật mình bay tán loạn.

Em về Cối Kê, gặp người lạ là Trương Thuỷ Loan, được truyền cho sách Chu bễ, Cửu chương và phép Minh đường Lục giáp. Rồi em cùng Trần Vĩnh đi chơi Dự Chương. Gặp đạo sĩ Hứa Tàng Bí, tự nói là cháu bảy đời của Hứa Tinh Dương, có phép đọc chú leo dao, đi trên lửa. Nhân lúc kể chuyện yêu quái, ông ta nói ở huyện Phong Thành, nhà viên coi kho là Lý Kính Thận có ba cô con gái mắc bệnh ma ám, không ai biết là bệnh gì, ông ta chữa cũng không khỏi.

Em có người bạn cũ là Triệu Đan, có tài, đang làm huyện uý Phong Thành, em bèn ghé thăm. Triệu Đan sai người hầu chỉ chỗ cho em ở. Em nói muốn ở nhà viên coi kho Lý Kính Thận. Triệu Đan liền bảo Lý Kính Thận làm chủ nhà tiếp em. Em hỏi đầu đuôi, Lý Kính Thận kể:

— Ba đứa con gái tôi ở chung một gian gác trong nhà. Cứ chiều tối là chúng trang điểm lộng lẫy, mặc áo đẹp. Sau hoàng hôn thì về gác, tắt đèn. Lắng nghe thì thấy chúng thì thầm cười nói với ai đó, tới sáng mới ngủ, không gọi thì không dậy. Ngày càng gầy, không ăn uống được. Tôi cấm không cho trang điểm, thì chúng đòi thắt cổ, nhảy giếng. Biết làm sao bây giờ?

Em bảo ông dẫn tới gian gác. Gác có cửa sổ phía đông. Em sợ cửa đóng chặt khó mở, nên ban ngày đã cắt đứt bốn thanh song cửa sổ, rồi lấy vật chống lại như cũ. Đến tối, Lý Kính Thận báo: chúng đã trang điểm vào gác rồi. Đến canh một, nghe tiếng cười nói tự nhiên. Em rút song cửa, cầm gương vào gác soi. Ba cô gái kêu lên: giết chồng chúng tôi rồi! Ban đầu chẳng thấy gì. Em treo gương tới sáng, thì thấy một con chồn dài từ đầu tới đuôi chừng một thước ba bốn tấc, mình không lông không răng. Một con chuột già, cũng không lông không răng, béo nặng chừng năm cân. Lại một con thằn lằn to bằng bàn tay người, mình phủ vảy năm màu rực rỡ, trên đầu có hai cái sừng dài chừng nửa tấc, đuôi dài hơn năm tấc, đầu đuôi một tấc màu trắng. Cả ba con đều chết trước một cái lỗ trên tường. Từ đó ba cô gái khỏi bệnh.

Sau đó em đi tìm chân đạo tới núi Lư, quanh quẩn mấy tháng. Có khi nghỉ trong rừng sâu, có khi ngủ ngoài bãi cỏ. Hổ báo nối đuôi, sói lang liền dấu. Em giơ gương lên soi, con nào cũng chạy trốn nép mình.

Xử sĩ núi Lư là Tô Tân, người có kiến thức lạ, thông hiểu đạo Dịch, biết chuyện đã qua, đoán chuyện sắp tới, bảo em: thần vật trong thiên hạ ắt không ở lâu cõi người. Nay vũ trụ loạn lạc, đất khách chưa chắc đã ở được. Gương của anh hãy còn đây, đủ để hộ thân, mau về quê đi. Em cho là phải, liền quay về phương bắc, đi qua Hà Bắc.

Một đêm em mơ thấy chiếc gương bảo em: ta được anh của ông đối đãi hậu, nay sắp bỏ cõi người đi xa, muốn được từ biệt một lần, xin ông sớm về Trường An. Trong mộng em nhận lời. Đến sáng, ngồi một mình nghĩ lại, em bàng hoàng hồi hộp, lập tức quay về hướng tây theo đường đất Tần. Nay đã gặp được anh, em không phụ lời hứa. Chỉ sợ vật thiêng này rốt cuộc cũng không phải của anh nữa.

Mấy tháng sau, Tích về Hà Đông.

Ngày rằm tháng bảy năm Đại Nghiệp thứ mười ba, chiếc gương trong hộp cất tiếng kêu buồn thảm. Tiếng kêu lúc đầu nhỏ mà xa, chốc lát lớn dần, như rồng gầm hổ rống, hồi lâu mới lặng. Mở hộp ra xem, thì gương đã mất rồi.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảTruyền kỳ đời Đường (nhiều tác giả)
Xuất bản lần đầu620
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Cổ kính ký của Vương Độ, chép ở Thái Bình quảng ký quyển 230 (Wikisource chữ Hán)
Giọng đọcBảo Trang — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →