Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Lệnh đuổi khỏi thành phố

Chiếc tất Giáng sinh của Đích Huýt Sáo · Chương 1/2 · của O. Henry

⏱ 14 phút🎙️ Giọng Bảo Trang📖 15.048 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Đích Huýt Sáo kéo cánh cửa toa chở hàng…
  2. 3:47Rẽ qua một góc phố, người huýt sáo đâm…
  3. 4:42Chỗ ấy là nốt Si thường, chứ không phải…
  4. 5:30Viên cảnh sát to lớn đi rồi, Đích Huýt…
  5. 8:31Khi anh tỉnh dậy, tiếp tục cuộc trốn chạy,…
  6. 11:02Cử động đột ngột của cô gái làm một…
  7. 12:43Không chần chừ, anh trèo qua hàng rào ở…

Chương 1: Lệnh đuổi khỏi thành phố

Đích Huýt Sáo kéo cánh cửa toa chở hàng sang một bên hết sức thận trọng, vì Điều khoản 5716 trong quy định của thành phố cho phép, có lẽ là trái hiến pháp, bắt người vì tình nghi, mà quy định này thì anh đã quen từ lâu. Vì thế, trước khi trèo ra, anh quan sát chiến trường kỹ lưỡng như một vị tướng giỏi.

Anh chẳng thấy gì thay đổi kể từ lần trước ghé thăm thành phố lớn miền Nam này, thành phố hay bố thí, nhẫn nại chịu đựng, thiên đường mùa lạnh của dân lang thang. Bờ đê nơi toa hàng của anh đỗ lổn nhổn những khối hàng hoá sẫm màu. Gió nồng nặc cái mùi quen thuộc, buồn nôn của những tấm vải dầu cũ phủ trên các kiện hàng và thùng phuy. Dòng sông màu nâu xám trườn qua giữa tàu bè, ùng ục như dầu. Xa xa phía hạ lưu, anh thấy khúc quanh lớn của dòng sông, viền bằng một dãy đèn điện. Bên kia sông, thị trấn An-giê nằm như một vệt mực dài lởm chởm, càng tối thẫm lại vì ánh rạng đông đang làm sáng bầu trời phía sau. Một hai chiếc tàu kéo cần mẫn, đang tới đón một con tàu buồm khởi hành sớm, rúc lên mấy hồi còi kinh khủng, như tín hiệu cho ngày mới bắt đầu. Những chiếc thuyền buồm của dân chài người Ý đang lừ đừ tiến vào bến, chở đầy rau sớm và sò ốc. Một tiếng gầm lờ mờ như từ dưới lòng đất, từ bánh xe ngựa chở hàng và xe điện, bắt đầu nghe thấy và cảm thấy được, và mấy chiếc phà, những cô hầu gái của giới tàu thuyền, uể oải cựa mình đi làm những việc hèn mọn buổi sáng.

Cái đầu tóc đỏ của Đích Huýt Sáo bỗng thụt vội vào trong toa. Cảnh tượng vừa có thêm một thứ quá đồ sộ và lộng lẫy đối với mắt anh. Một viên cảnh sát khổng lồ, không gì sánh nổi, vòng qua một đống bao gạo, đứng cách toa chưa tới hai chục mét. Phép màu hằng ngày của bình minh, đang được trình diễn trên bầu trời An-giê, được tấm gương tráng lệ của bộ máy công quyền thành phố ấy chú ý một cách đầy vinh dự. Ông ngắm những sắc màu đang ửng lên mờ mờ với vẻ trang nghiêm vô tư, cho tới khi cuối cùng quay tấm lưng rộng về phía chúng, như thể đã tin rằng luật pháp không cần can thiệp, và mặt trời cứ việc mọc lên không bị ngăn cản. Thế là ông quay mặt về phía mấy bao gạo, rút từ túi trong ra một chai rượu dẹt, đưa lên môi, mắt ngước nhìn trời.

Đích Huýt Sáo, kẻ lang thang chuyên nghiệp, có quen biết nửa thân nửa sơ với viên cảnh sát này. Họ đã gặp nhau vài lần trên bờ đê lúc đêm, vì viên cảnh sát, bản thân cũng mê âm nhạc, đã bị tiếng huýt sáo tuyệt diệu của gã lang thang vô công rồi nghề thu hút. Dù vậy, trong hoàn cảnh này, anh không muốn nối lại sự quen biết. Gặp một ông cảnh sát trên bến tàu vắng vẻ rồi cùng huýt vài khúc nhạc kịch với ông, khác hẳn với bị ông tóm được đang bò ra khỏi toa hàng. Thế là Đích chờ, vì đến cảnh sát Niu Oóc-lin rồi cũng phải đi tiếp, có lẽ đó là một định luật báo ứng của tự nhiên, và chẳng bao lâu "Phrít Bự" đã oai vệ khuất dạng giữa những đoàn toa.

Đích Huýt Sáo chờ cho tới khi lý trí bảo là đủ, rồi nhanh nhẹn trượt xuống đất. Cố hết sức khoác lên mình dáng một người lao động lương thiện đang đi tìm việc kiếm ăn hằng ngày, anh băng qua mạng lưới đường ray, định theo phố Gi-rốt yên tĩnh tới một chiếc ghế nhất định ở quảng trường La-phai-ét, nơi theo hẹn, anh mong gặp lại một người bạn tên là "Xờ-lích". Chàng hành hương phiêu lưu ấy đã đi trước anh một ngày, trên một toa chở bò mà một thanh gỗ lỏng đã dụ anh ta chui vào.

Trong khi Đích Huýt Sáo lựa đường đi giữa những nhà kho lớn, hôi hám, ẩm mốc, nơi đêm vẫn còn lẩn quất, anh buông mình theo cái thói quen đã đem lại cho anh danh hiệu. Khe khẽ mà trong trẻo, mỗi nốt đều đúng và mượt như tiếng chim chiền chiện, tiếng huýt sáo của anh leng keng quanh những núi gạch mờ tối, lạnh lẽo như những giọt mưa rơi xuống một vũng nước khuất. Anh theo một giai điệu, nhưng rồi nó lững lờ trôi mờ vào một dòng xoáy ứng tác. Người ta có thể nhặt ra trong đó tiếng róc rách của suối núi, tiếng lau sậy xanh run rẩy dồn dập trên những đầm nước lạnh, tiếng líu ríu của lũ chim còn ngái ngủ.

Rẽ qua một góc phố, người huýt sáo đâm sầm vào một ngọn núi màu xanh và đồng thau.

— Thế đấy, — ngọn núi điềm tĩnh nhận xét, giọng nặng âm Đức. — Mày đã quay lại rồi. Mà phải hai tuần nữa mới có sương giá! Mà mày quên cả cách huýt sáo rồi. Ở nhịp cuối có một nốt sai.

— Ông biết gì về chuyện đó? — Đích Huýt Sáo nói, thử thăm dò thân mật. — Ông với mấy điệu kèn đồng của mấy ban nhạc Đức thổi dạo ngoài phố. Ông thì biết gì về âm nhạc? Ngoáy tai rồi nghe lại đi. Tôi huýt thế này này, thấy chưa?

Anh chu môi lên, nhưng viên cảnh sát to lớn giơ tay.

— Dừng lại, — ông nói, — mà học cách đúng đi. Mà học luôn cái này: hòn đá lăn mãi thì chẳng huýt sáo ra hồn được.

Bộ ria rậm của Phrít Bự tròn lại thành một vòng, và từ sâu trong đó vọng ra một âm thanh trầm ấm, êm như tiếng sáo. Ông nhắc lại vài nhịp của giai điệu gã lang thang vừa huýt. Ông huýt lạnh lùng nhưng chính xác, và nhấn mạnh vào cái nốt mà ông chê.

— Chỗ ấy là nốt Si thường, chứ không phải Si giáng. À này, mày nên mừng là gặp tao. Muộn một tiếng nữa là tao phải tống mày vào lồng mà huýt sáo với lũ chim tù rồi. Lệnh trên là phải tóm hết bọn lang thang sau khi mặt trời mọc.

— Tóm ai cơ?

— Tóm bọn lang thang, tất cả những kẻ không có kế sinh nhai rõ ràng. Giá là ba mươi ngày tù, hoặc mười lăm đô-la.

— Thật đấy hả, hay ông đang giăng bẫy tôi?

— Đó là lời mách hay nhất mà mày từng được nghe. Tao mách mày vì tao tin mày không tệ như bọn kia. Mà vì mày huýt được khúc nhạc kịch Người Bắn Thần hay hơn cả tao. Đừng đâm sầm vào ông cảnh sát nào ở góc phố nữa, mà ra khỏi thành phố vài hôm đi. Chào mày.

Vậy là cuối cùng bà Niu Oóc-lin cũng đã chán bầy con lạ lùng, lông xù, năm nào cũng tới rúc dưới đôi cánh từ bi của bà.

Viên cảnh sát to lớn đi rồi, Đích Huýt Sáo đứng một phút do dự, lòng đầy uất ức của một người thuê nhà chây ì bị ra lệnh dọn đi. Anh đã vẽ ra cho mình một ngày thảnh thơi mơ màng sau khi gặp lại bạn, một ngày lang thang trên bến tàu, nhai chuối với dừa rơi vãi khi người ta dỡ hàng từ tàu chở trái cây, rồi một bữa tiệc dọc những quầy đồ ăn miễn phí mà những ông chủ dễ dãi quá tốt bụng hay quá hào phóng chẳng nỡ đuổi anh, sau đó là một tẩu thuốc trong một công viên nhỏ đầy hoa, và một giấc ngủ ngắn ở góc râm nào đó trên bến. Nhưng giờ đây là một lệnh trục xuất nghiêm khắc, mà anh biết phải tuân theo. Vậy là, với một con mắt cảnh giác trước ánh sáng loé của những chiếc cúc đồng, anh bắt đầu rút lui về một chốn nương náu ngoài đồng quê. Vài ngày ở nông thôn chưa chắc đã là tai hoạ. Ngoài khả năng bị chút sương giá cắn nhẹ, chẳng có gì đáng sợ lắm.

Dù vậy, Đích Huýt Sáo đi qua khu chợ Pháp cũ trên con đường anh chọn xuôi theo dòng sông với một tâm trạng nặng nề. Để an toàn, anh vẫn đóng vai người thợ đứng đắn đang đi làm. Một người bán hàng trong chợ, chẳng bị lừa, gọi anh bằng cái tên người ta vẫn gọi chung dân lang thang: "Này, Giắc!", và anh khựng lại, bị bất ngờ. Người bán hàng, mềm lòng trước bằng chứng về sự tinh mắt của chính mình, ban cho anh một khúc xúc xích dài ba gang tay với nửa ổ bánh mì, thế là chuyện bữa sáng được giải quyết.

Khi phố xá, vì lý do địa hình, bắt đầu tránh xa bờ sông, kẻ lưu đày leo lên mặt đê, đi tiếp trên con đường mòn nhẵn bóng dấu chân. Con mắt ngoại ô nhìn anh với vẻ ngờ vực lạnh lùng. Từng người một đều phản chiếu tinh thần nghiêm khắc của chỉ thị nhẫn tâm của thành phố. Anh nhớ sự kín đáo giữa thành phố đông đúc, nhớ sự an toàn mà anh lúc nào cũng tìm được giữa đám đông.

Tới Sam-mét, cách mười cây số trên chặng đường lang thang, bỗng có một cảnh lao động đồ sộ, rối rắm đe doạ anh. Người ta đang xây một cảng mới. Bến tàu đang được dựng, những nhà máy ép bông đang mọc lên. Cuốc, xẻng, xe cút kít từ khắp mọi phía chồm tới anh như những con rắn. Một tay đốc công hống hách xông về phía anh, ước lượng cơ bắp anh bằng con mắt của viên trung sĩ tuyển quân. Quanh anh, đủ hạng người đang hì hục làm việc. Anh kinh hoàng bỏ chạy.

Tới trưa anh đã tới vùng đồn điền, những bình nguyên rộng lớn, buồn bã, lặng lẽ ven dòng sông hùng vĩ. Anh nhìn bao quát những cánh đồng mía mênh mông tới mức tận cùng của chúng tan vào bầu trời. Mùa làm đường đã vào độ chín, người ta đang chặt mía. Những chiếc xe kéo cót két buồn bã theo sau họ. Những người đánh xe giục lũ la đi nhanh hơn bằng những tiếng quát tháo trầm ấm, vang dội. Những lùm cây xanh thẫm, nhoè đi trong màu xanh của khoảng cách, chỉ chỗ có những ngôi nhà đồn điền. Những ống khói cao của các xưởng đường đập vào mắt từ hàng dặm xa, như những ngọn hải đăng giữa biển.

Tới một chỗ, cái mũi không bao giờ sai của Đích Huýt Sáo bắt được mùi cá rán. Như chó săn đánh hơi chim cút, anh đi xuống sườn đê thẳng tới lều của một ông lão đánh cá già cả và cả tin. Anh mê hoặc ông lão bằng bài hát và câu chuyện, nhờ thế mà được ăn trưa như một vị đô đốc, rồi như một nhà hiền triết, anh huỷ diệt ba tiếng đồng hồ tệ nhất trong ngày bằng một giấc ngủ dưới gốc cây.

Khi anh tỉnh dậy, tiếp tục cuộc trốn chạy, một vẻ lấp lánh giá buốt trong không khí đã thế chỗ cái ấm áp ngái ngủ của ban ngày. Khi điềm báo về một đêm lạnh ấy truyền tới bộ óc của chàng hiệp sĩ lữ hành, anh bước dài hơn, nghĩ tới chỗ trú. Anh đi trên một con đường trung thành bám theo mọi khúc lượn của con đê, chạy dọc chân đê, nhưng dẫn tới đâu thì anh không biết. Bụi rậm và cỏ dại mọc chen tới tận vệt bánh xe, và từ ổ phục kích ấy, lũ côn trùng của vùng đất thấp bay ra đuổi theo anh, vo ve một giọng nữ cao sắc lẻm, hiểm độc. Và khi đêm tới gần, dù lạnh hơn, tiếng vo ve của lũ muỗi thành một tiếng gầm gừ tham lam, cáu kỉnh, át hết mọi âm thanh khác. Bên phải anh, in trên nền trời, anh thấy một ngọn đèn xanh đang di chuyển, kèm theo nó là cột buồm và ống khói của một con tàu hơi nước lớn đang vào bến, trôi đi như trên tấm màn của một buổi chiếu đèn ảo thuật. Bên trái là những đầm lầy bí ẩn, từ đó vọng ra những tiếng kêu ùng ục lạ lùng và tiếng ếch ộp nghẹn ngào. Gã lang thang huýt sáo cất lên một khúc líu lo vui vẻ để át đi những ảnh hưởng u buồn ấy, và có lẽ từ thuở thần Pan nhảy múa với cây sáo sậy của mình, những chốn cô quạnh ảm đạm ấy chưa từng được nghe những âm thanh như thế.

Một tiếng lộc cộc xa xa phía sau nhanh chóng thành tiếng vó ngựa dồn dập, và Đích Huýt Sáo bước sang bên, xuống bãi cỏ ướt sương cho đường thông. Quay đầu lại, anh thấy một đôi ngựa xám đẹp, bảnh bao đang kéo một cỗ xe bốn bánh hai hàng ghế. Một người đàn ông béo tốt, ria trắng ngồi ghế trước, dồn hết chú ý vào dây cương căng thẳng trong tay. Phía sau là một bà trung niên điềm đạm và một cô gái rạng rỡ chưa hẳn tới tuổi thiếu nữ. Tấm chăn đắp đầu gối đã tuột một phần khỏi đầu gối người đàn ông đang đánh xe, và Đích Huýt Sáo thấy hai chiếc túi vải bạt chắc chắn giữa hai chân ông, thứ túi mà những lúc la cà ở thành phố anh từng thấy người ta thận trọng chuyển từ xe chở hàng của hãng chuyển phát vào cửa ngân hàng. Chỗ còn lại trong xe chất đầy những gói hàng đủ cỡ, đủ hình.

Khi cỗ xe vụt qua ngang chỗ gã lang thang đứng tránh, cô gái mắt sáng, bị một cơn hứng vui vẻ, ngông nghênh nào đó chụp lấy, nghiêng người về phía anh với nụ cười ngọt ngào, loá mắt, rồi kêu lên bằng giọng the thé, nghe như tiếng ngân nga:

— Giáng... sinh... vui... vẻ!

Chuyện như thế ít khi xảy đến với Đích Huýt Sáo, và anh thấy lúng túng không biết đáp lại thế nào cho phải. Nhưng chẳng có thời gian suy nghĩ, anh để bản năng quyết định, giật phăng chiếc mũ quả dưa bẹp dúm, giơ thẳng tay ra rồi kéo về trong một động tác liền mạch, và hét to theo cỗ xe đang lao đi, rất trịnh trọng:

— Chào cô nhé!

Cử động đột ngột của cô gái làm một gói hàng bị bung giấy, và có một thứ gì đó mềm oặt, màu đen rơi xuống đường. Gã lang thang nhặt lên, thấy đó là một chiếc tất lụa đen mới tinh, dài, mịn và thon. Nó sột soạt giòn giòn mà vẫn mềm mại xa hoa giữa những ngón tay anh.

— Con bé tinh nghịch! — Đích Huýt Sáo nói, nụ cười toe toét cắt đôi khuôn mặt đầy tàn nhang. — Thấy chưa, chuyện thế mới hay chứ! Giáng... sinh... vui... vẻ! Nghe như cái đồng hồ chim cu ấy, đúng thế đấy. Mấy người này là dân sang, cược cả mạng luôn, mà lão già chất mấy bao tiền dưới chân như thể chúng rẻ như táo khô. Đi mua sắm Giáng sinh, rồi con bé đánh rơi một chiếc tất mới định treo lên chờ ông già Nô-en bỏ quà. Con bé tinh nghịch! Với cái câu Giáng sinh vui vẻ của nó! Thấy chưa! Như thể bảo: Chào anh Giắc, dạo này thế nào? Mà sang như đại lộ Năm, mà dễ dãi như một bữa tiệc chè chén ở Xin-xin-na-ti.

Đích Huýt Sáo gấp chiếc tất cẩn thận, nhét vào túi.

Gần hai giờ sau, anh mới gặp dấu hiệu có người ở. Một khúc quanh của con đường làm hiện ra những dãy nhà của một đồn điền rộng lớn. Anh dễ dàng nhận ra nhà của chủ đồn điền, một toà nhà vuông vức lớn có hai chái, nhiều cửa sổ khá rộng sáng đèn, những hàng hiên rộng chạy quanh suốt các mặt. Ngôi nhà nằm trên một bãi cỏ phẳng phiu, được những tia sáng toả xa từ những ngọn đèn bên trong chiếu mờ mờ. Một khu vườn cây cao lớn bao quanh, những bụi cây kiểu cũ mọc dày dọc lối đi và hàng rào. Khu nhà ở của người làm và các xưởng đường nằm xa hơn phía sau.

Giờ hai bên đường đã có rào chắn, và chẳng mấy chốc, khi Đích Huýt Sáo tới gần ngôi nhà hơn, anh bỗng dừng lại, hít hít không khí.

— Nếu quanh khu vực ngay sát đây không có ai đang nấu món hầm của dân lang thang, — anh tự nhủ, — thì cái mũi tôi thôi nói thật rồi.

Không chần chừ, anh trèo qua hàng rào ở phía đầu gió. Anh thấy mình ở một khoảnh đất có vẻ bỏ hoang, chất đầy những đống gạch cũ và gỗ thải mục nát. Ở một góc, anh thấy ánh lửa mờ mờ của một đống lửa đã tàn gần chỉ còn lớp than hồng, và anh nghĩ mình thấy vài bóng người lờ mờ ngồi hay nằm quanh đó. Anh lại gần hơn, và nhờ ánh lửa nhỏ chợt bùng lên, anh thấy rõ thân hình béo tốt của một người đàn ông rách rưới mặc chiếc áo len nâu cũ, đội mũ lưỡi trai.

— Gã kia, — Đích Huýt Sáo khẽ tự nhủ, — giống y hệt Ha-ri Bô-xtơn. Thử ra ám hiệu xem.

Anh huýt một hai nhịp của một điệu nhạc rộn ràng, và lập tức giai điệu được tiếp lời, rồi kết thúc nhanh bằng một chuỗi nốt đặc biệt. Người huýt sáo đầu tiên tự tin đi tới bên đống lửa. Gã béo ngước lên, cất tiếng nói to, khò khè như người hen:

— Thưa các quý ông, người vừa nhập hội bất ngờ nhưng được hoan nghênh của chúng ta là ông Đích Huýt Sáo, một người bạn cũ của tôi mà tôi hoàn toàn bảo đảm. Bồi bàn sẽ dọn thêm một chỗ ngay. Ông Đ. H. S. sẽ dùng bữa tối cùng chúng ta, và trong buổi ấy ông sẽ soi sáng cho chúng ta về những hoàn cảnh đã cho chúng ta vinh hạnh được ông đến dự.

— Lại nhai ruột cả cuốn từ điển như mọi khi, Bô-xtơn, — Đích Huýt Sáo nói, — nhưng dù sao cũng cảm ơn lời mời. Chắc tôi tới đây cũng giống như các cậu thôi. Sáng nay một ông cớm mách cho tôi. Các cậu làm việc ở trang trại này à?

— Đã là khách, — Bô-xtơn nghiêm giọng nói, — thì chớ có xúc phạm chủ nhà khi chưa ních đầy bụng. Như thế chẳng khôn ngoan về đường làm ăn. Làm việc á! Nhưng thôi, tôi sẽ kiềm chế. Năm bọn tôi, tôi, thằng Pít Điếc, thằng Bờ-linh-ki, thằng Kính Bảo Hộ với thằng Tôm In-đi-a-na, đã ngửi thấy cái mưu của Niu Oóc-lin định bắt các quý ông tới thăm phải đi làm trên những con phố bẩn thỉu của nó, và chiều qua bọn tôi lên đường, đúng lúc những sắc màu dịu dàng của hoàng hôn ngả xuống những bông cúc dại và đủ thứ. Bờ-linh-ki, chuyền cái hộp sò rỗng bên trái mày cho quý ông bụng rỗng bên phải mày đi.

— Hết chương 1 —

Mục lục Chiếc tất Giáng sinh của Đích Huýt Sáo

  1. 1Lệnh đuổi khỏi thành phố14 phút
  2. 2Tín hiệu từ chiếc tấtĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảO. Henry (1862 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1899
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Whistling Dick's Christmas Stocking, O. Henry, in trong tuyển tập Roads of Destiny
Giọng đọcBảo Trang — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →