Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Chú lính nhỏ

của Guy de Maupassant

⏱ 11 phút🎙️ Giọng Bảo Thiện📖 11.442 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Chủ nhật nào cũng vậy, vừa được tự do…
  2. 2:18Tới lùm cây đầu tiên, chủ nhật nào Luých…
  3. 4:32Một lần, thấy họ lại ngồi ở chỗ cũ,…
  4. 5:06Cô đi qua. Nhưng lúc quay về với xô…
  5. 6:10Họ ăn trưa nhanh hơn mọi khi, bồn chồn…
  6. 6:40Lúc ấy Giăng, đỏ tới tận mang tai, lôi…
  7. 8:35Rồi cô gái ngồi xuống bên Luých, và hai…
  8. 10:10Giăng nghiêng người, nghiêng mãi, nghiêng mãi trên lan…

Chủ nhật nào cũng vậy, vừa được tự do là hai chú lính nhỏ lên đường.

Ra khỏi doanh trại, họ rẽ phải, băng qua Cuốc-bơ-voa bằng những bước dài và nhanh, như đi hành quân. Rồi khi đã ra khỏi khu nhà cửa, họ đi thong thả hơn trên con đường cái bụi bặm và trơ trụi dẫn tới Bơ-dông.

Họ nhỏ con, gầy gò, lọt thỏm trong chiếc áo choàng lính quá rộng, quá dài, ống tay trùm cả bàn tay. Họ vướng víu trong chiếc quần đỏ rộng thùng thình, phải dạng chân ra mới đi nhanh được. Dưới chiếc mũ lính cao và cứng, chỉ còn thấy một khuôn mặt bé tí, hai khuôn mặt hốc hác đáng thương của người Brơ-ta-nhơ, ngây thơ, một sự ngây thơ gần như của loài vật, với đôi mắt xanh hiền lành và bình thản.

Dọc đường họ chẳng bao giờ nói chuyện, cứ thẳng đường mà đi, trong đầu cùng một ý nghĩ thay cho chuyện trò. Vì ở đầu khu rừng nhỏ Săm-pi-u, họ đã tìm thấy một chỗ gợi cho họ nhớ quê, và chỉ ở đó họ mới thấy dễ chịu.

Tới ngã ba đường đi Cô-lôm-bơ và đường đi Sa-tu, khi vừa tới dưới những tán cây, họ bỏ chiếc mũ đè nặng trên đầu ra, lau trán.

Bao giờ họ cũng dừng một lúc trên cầu Bơ-dông để nhìn sông Xen. Họ đứng đó hai ba phút, cúi gập người, nghiêng mình trên lan can. Hoặc họ ngắm cái vũng nước lớn ở Ác-giăng-tơi, nơi những cánh buồm trắng nghiêng nghiêng của những chiếc thuyền đua lướt đi, có lẽ gợi cho họ nhớ biển Brơ-ta-nhơ, nhớ cảng Van-nơ gần quê họ, và những thuyền đánh cá ra khơi băng qua vịnh Moóc-bi-ăng.

Qua khỏi sông Xen, họ mua đồ ăn ở hàng thịt, hàng bánh và hàng rượu trong vùng. Một khúc dồi, bốn xu bánh mì và một lít rượu vang đỏ loại rẻ là toàn bộ lương thực của họ, gói trong khăn tay. Nhưng ra khỏi làng rồi, họ chỉ còn bước rất chậm, và bắt đầu nói chuyện.

Trước mặt họ, một cánh đồng cằn cỗi lác đác những lùm cây dẫn tới khu rừng, khu rừng nhỏ mà họ thấy giống rừng Kéc-ma-ri-văng. Lúa mì và lúa mạch viền hai bên con đường hẹp lẫn trong màu xanh non của mùa màng, và lần nào Giăng Kéc-đơ-ren cũng bảo Luých Lơ Ga-ni-đéc:

"Y như ở gần Plu-ni-vông."

"Ừ, y như thế."

Họ đi bên nhau, đầu óc đầy những ký ức mơ hồ về quê nhà, đầy những hình ảnh thức dậy, những hình ảnh ngây ngô như những tờ tranh tô màu một xu. Họ thấy lại một góc ruộng, một hàng rào, một mảnh đồng hoang, một ngã tư, một cây thánh giá bằng đá hoa cương.

Lần nào họ cũng dừng lại bên một hòn đá cắm làm mốc ranh giới một khu đất, vì nó có nét gì giống cái mộ đá cổ ở Lốc-nơ-vanh.

Tới lùm cây đầu tiên, chủ nhật nào Luých Lơ Ga-ni-đéc cũng bẻ một cái que, một cái que cây phỉ. Cậu bắt đầu tước vỏ thật nhẹ nhàng, vừa tước vừa nghĩ tới những người ở quê.

Giăng Kéc-đơ-ren mang đồ ăn.

Thỉnh thoảng Luých nhắc tới một cái tên, gợi lại một chuyện hồi nhỏ, chỉ bằng vài chữ, mà khiến cả hai nghĩ ngợi rất lâu. Và quê nhà, quê nhà thân yêu xa xôi, dần dần chiếm lại họ, tràn ngập trong họ, gửi tới họ qua khoảng cách những hình dáng, những âm thanh, những chân trời quen thuộc, những mùi hương của nó, mùi đồng hoang xanh nơi gió biển thổi qua.

Họ không còn ngửi thấy mùi phân bón Pa-ri dùng vỗ béo đất đai ngoại ô, mà là hương thơm của những bụi kim tước nở hoa mà gió mặn ngoài khơi hái lấy và mang đi. Và những cánh buồm của dân chèo thuyền hiện ra phía trên bờ sông, với họ, như những cánh buồm thuyền buôn ven biển nhìn thấy sau cánh đồng dài chạy từ nhà họ ra tới tận mép sóng.

Họ đi những bước ngắn, Luých Lơ Ga-ni-đéc và Giăng Kéc-đơ-ren, vừa vui vừa buồn, bị một nỗi buồn êm dịu ám ảnh, một nỗi buồn chậm rãi và thấm thía của con thú trong chuồng còn nhớ.

Khi Luých tước xong vỏ cái que mảnh, họ tới góc rừng nơi chủ nhật nào họ cũng ăn trưa.

Họ tìm lại hai viên gạch đã giấu trong bụi cây, nhóm một đống lửa nhỏ bằng cành khô để nướng khúc dồi trên mũi dao.

Ăn xong, chén hết bánh mì tới mẩu cuối cùng, uống hết rượu tới giọt cuối cùng, họ ngồi lại trên cỏ, bên nhau, chẳng nói gì, mắt nhìn xa xăm, mí mắt nặng trĩu, ngón tay đan vào nhau như lúc đi lễ, đôi chân đỏ duỗi dài bên cạnh những bông anh túc ngoài đồng. Da chiếc mũ và đồng những chiếc cúc áo của họ lấp lánh dưới nắng gắt, khiến những con sơn ca đang vừa hót vừa liệng trên đầu họ phải dừng lại.

Gần trưa, họ bắt đầu thỉnh thoảng đưa mắt nhìn về phía làng Bơ-dông, vì cô gái chăn bò sắp tới.

Chủ nhật nào cô cũng đi qua trước mặt họ, để vắt sữa và dắt con bò về chuồng. Đó là con bò duy nhất trong vùng được thả ăn cỏ, nó gặm cỏ trên một bãi cỏ hẹp ở bìa rừng, xa hơn chút nữa.

Chẳng mấy chốc họ đã trông thấy chị hầu gái, con người duy nhất đang đi giữa cánh đồng, và họ thấy vui vì những tia sáng lấp lánh mà cái xô sắt tây hắt lên dưới ánh lửa của mặt trời. Họ chẳng bao giờ nói về cô. Họ chỉ vui khi thấy cô, mà chẳng hiểu vì sao.

Đó là một cô gái to cao khoẻ mạnh, tóc hung, da rám vì nắng những ngày trong trẻo, một cô gái to cao bạo dạn của vùng quê quanh Pa-ri.

Một lần, thấy họ lại ngồi ở chỗ cũ, cô bảo:

"Chào hai anh... thế các anh vẫn tới đây đấy à?"

Luých Lơ Ga-ni-đéc, bạo dạn hơn, lắp bắp:

"Vâng, chúng tôi tới nghỉ ngơi."

Chỉ có thế. Nhưng chủ nhật sau, thấy họ, cô cười, cười với một vẻ thiện cảm che chở của một người đàn bà nhanh nhẹn đã nhận ra sự rụt rè của họ, và cô hỏi:

"Các anh ngồi thế làm gì đấy? Ngồi xem cỏ mọc à?"

Luých vui lên, cũng mỉm cười:

"Có lẽ thế."

Cô nói tiếp:

"Hả! Thế thì chậm lắm đấy."

Cậu đáp, vẫn cười:

"Cái đó thì đúng là chậm."

Cô đi qua. Nhưng lúc quay về với xô sữa đầy, cô lại dừng trước mặt họ mà nói:

"Các anh có muốn một ngụm không? Cho nhớ quê."

Với bản năng của người cùng một giống, có lẽ cũng xa quê như họ, cô đã đoán ra và chạm đúng chỗ.

Cả hai đều xúc động. Thế là cô rót một ít sữa, chẳng dễ dàng gì, vào cổ cái chai lít thuỷ tinh họ vẫn đựng rượu. Luých uống trước, từng ngụm nhỏ, chốc chốc lại dừng để xem mình có uống quá phần không. Rồi cậu đưa cái chai cho Giăng.

Cô đứng trước mặt họ, tay chống nạnh, xô sữa đặt dưới chân, vui vì đã làm họ vui.

Rồi cô đi, miệng gọi với lại:

"Thôi, chào nhé, hẹn chủ nhật!"

Và họ đưa mắt nhìn theo, lâu chừng nào còn thấy được, cái dáng cao của cô đang đi xa dần, nhỏ dần, như đang chìm vào màu xanh của đồng ruộng.

Tuần sau, lúc rời doanh trại, Giăng bảo Luých:

"Hay mình mua cho cô ấy cái gì ngon ngon?"

Thế là họ hết sức bối rối trước bài toán chọn một món quà cho cô gái chăn bò.

Luých muốn mua một khúc dồi lòng, nhưng Giăng thích kẹo hơn, vì cậu hảo ngọt. Ý cậu thắng, và họ mua ở một hiệu tạp hoá hai xu kẹo trắng kẹo đỏ.

Họ ăn trưa nhanh hơn mọi khi, bồn chồn vì chờ đợi.

Giăng thấy cô trước. "Cô ấy kìa," cậu nói. Luých đáp: "Ừ. Cô ấy kìa."

Từ xa thấy họ, cô đã cười, rồi gọi:

"Các anh vẫn khoẻ cả chứ?"

Họ cùng đáp:

"Thế còn cô?"

Rồi cô chuyện trò, cô nói những chuyện giản dị mà họ quan tâm, chuyện thời tiết, chuyện mùa màng, chuyện chủ nhà cô.

Họ không dám đưa gói kẹo đang chảy dần trong túi Giăng.

Cuối cùng Luých đánh bạo, lí nhí:

"Chúng tôi có mang cho cô một thứ."

Cô hỏi:

"Thứ gì thế?"

Lúc ấy Giăng, đỏ tới tận mang tai, lôi cái túi giấy nhỏ ra đưa cho cô.

Cô bắt đầu ăn những viên kẹo nhỏ, đẩy từ má này sang má kia, làm má cô phồng lên từng cục. Hai chú lính ngồi trước mặt cô, nhìn cô, xúc động và sung sướng.

Rồi cô đi vắt sữa bò, và lúc quay về lại cho họ sữa.

Cả tuần họ nghĩ tới cô, và nói về cô mấy lần. Chủ nhật sau, cô ngồi xuống cạnh họ để chuyện trò lâu hơn. Và cả ba người, bên nhau, mắt nhìn xa xăm, hai tay đan ôm lấy đầu gối, kể những chuyện nhỏ nhặt và những chi tiết nhỏ nhặt về những ngôi làng nơi họ sinh ra. Trong khi ấy con bò đằng kia, thấy cô hầu dừng lại dọc đường, chìa về phía cô cái đầu nặng nề với hai lỗ mũi ướt, rống lên một tiếng dài để gọi.

Chẳng bao lâu cô nhận lời ăn cùng họ một miếng và uống một ngụm rượu. Nhiều lần cô mang mận trong túi tới cho họ, vì mùa mận đã tới. Có cô ở đó, hai chú lính nhỏ Brơ-ta-nhơ bạo dạn hẳn lên, líu lo như hai con chim.

Rồi một hôm thứ ba, Luých Lơ Ga-ni-đéc xin phép ra ngoài, điều chưa bao giờ cậu làm, và mười giờ tối cậu mới về.

Giăng lo lắng, nghĩ mãi xem vì lẽ gì mà bạn mình lại ra ngoài như thế.

Thứ sáu sau đó, Luých vay mười xu của anh lính nằm giường bên cạnh, lại xin và được phép đi ra ngoài vài tiếng.

Và khi cậu cùng Giăng lên đường đi dạo ngày chủ nhật, trông cậu là lạ, bồn chồn, khác hẳn. Kéc-đơ-ren không hiểu, nhưng lờ mờ ngờ có chuyện gì đó, mà không đoán ra được là chuyện gì.

Họ không nói một lời cho tới chỗ quen thuộc, nơi cỏ đã mòn vì họ cứ ngồi mãi một chỗ. Và họ ăn trưa chầm chậm. Chẳng ai thấy đói.

Chẳng mấy chốc cô gái xuất hiện. Họ nhìn cô đi tới như chủ nhật nào cũng nhìn. Khi cô tới thật gần, Luých đứng dậy, bước tới hai bước. Cô đặt xô xuống đất, và hôn cậu. Cô hôn cậu nồng nhiệt, vòng tay ôm lấy cổ cậu, chẳng để ý gì tới Giăng, chẳng nghĩ là cậu đang ở đó, chẳng nhìn thấy cậu.

Còn cậu thì ngồi đó, rụng rời, Giăng đáng thương, rụng rời tới mức không hiểu gì, tâm hồn đảo lộn, trái tim vỡ nát, mà vẫn chưa nhận ra.

Rồi cô gái ngồi xuống bên Luých, và hai người bắt đầu chuyện trò.

Giăng không nhìn họ. Giờ cậu đã đoán ra vì sao trong tuần bạn mình ra ngoài hai lần. Và cậu cảm thấy trong lòng một nỗi buồn nhức nhối, một thứ vết thương, cái nỗi đau xé lòng mà sự phản bội gây ra.

Luých và cô gái đứng dậy cùng đi dắt bò về.

Giăng đưa mắt nhìn theo. Cậu thấy họ đi xa dần bên nhau. Chiếc quần đỏ của bạn cậu in một vệt rực rỡ trên con đường. Chính Luých nhặt cái vồ lên đóng vào cái cọc buộc con vật.

Cô gái cúi xuống vắt sữa, còn cậu lơ đãng vuốt cái sống lưng gầy nhô của con bò. Rồi họ để xô sữa lại trên cỏ, và đi khuất vào trong rừng.

Giăng chẳng còn thấy gì nữa ngoài bức tường lá nơi họ vừa đi vào. Và cậu thấy mình bàng hoàng đến nỗi nếu thử đứng dậy, chắc chắn cậu sẽ ngã ngay tại chỗ.

Cậu ngồi bất động, đờ đẫn vì kinh ngạc và đau đớn, một nỗi đau ngây thơ và sâu thẳm. Cậu muốn khóc, muốn chạy trốn, muốn trốn đi, không bao giờ gặp ai nữa.

Bỗng cậu thấy họ ra khỏi bụi cây. Họ thong thả đi về, tay nắm tay, như những cặp đã hứa hôn ở các làng quê. Luých xách xô sữa.

Họ lại hôn nhau trước khi chia tay, và cô gái ra về, sau khi ném cho Giăng một lời chào thân mật và một nụ cười đồng loã. Hôm ấy cô không nghĩ tới chuyện mời cậu sữa.

Hai chú lính nhỏ ngồi bên nhau, bất động như mọi khi, lặng im và bình thản, khuôn mặt điềm nhiên chẳng để lộ chút gì những xao động trong lòng. Mặt trời chiếu xuống họ. Thỉnh thoảng con bò lại rống lên, nhìn họ từ xa.

Đến giờ thường lệ, họ đứng dậy ra về.

Luých tước vỏ một cái que. Giăng cầm cái chai rỗng. Cậu gửi lại ở hàng rượu Bơ-dông. Rồi họ lên cầu, và như mọi chủ nhật, họ dừng lại giữa cầu để nhìn nước chảy một lát.

Giăng nghiêng người, nghiêng mãi, nghiêng mãi trên lan can sắt, như thể thấy dưới dòng nước có cái gì đang hút mình. Luých bảo cậu: "Mày định xuống đấy uống một ngụm à?" Cậu vừa nói dứt tiếng cuối, cái đầu của Giăng đã kéo theo cả người, đôi chân bị nhấc bổng vẽ một vòng tròn trên không, và chú lính nhỏ áo xanh quần đỏ rơi nguyên một khối, chìm xuống và biến mất dưới nước.

Luých, cổ họng tê liệt vì hoảng hốt, cố kêu mà không ra tiếng. Cậu thấy xa xa có cái gì cựa quậy. Rồi đầu bạn cậu nhô lên mặt sông, rồi lại chìm xuống ngay.

Xa hơn nữa, cậu lại thấy một bàn tay, chỉ một bàn tay nhô lên khỏi mặt nước, rồi lại chìm xuống. Thế là hết.

Những người lái đò chạy tới, nhưng hôm ấy không tìm thấy xác.

Luých quay về doanh trại một mình, chạy, đầu óc rối loạn. Cậu kể lại tai nạn, mắt và giọng đầy nước mắt, hỉ mũi liên hồi:

"Nó cúi xuống... nó... nó cúi xuống... cúi mãi... cúi mãi, đến nỗi đầu nó lộn nhào... và... và... thế là nó rơi... nó rơi..."

Cậu không nói thêm được nữa, nghẹn ngào quá. Giá mà cậu biết...

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGuy de Maupassant (1850 – 1893)
Năm mất1893
Xuất bản lần đầu1885
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Petit Soldat, in trên báo Le Figaro năm 1885, tập Monsieur Parent, Ollendorff 1886
Giọng đọcBảo Thiện — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →