Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Bữa tiệc chờ chú rể

Chú rể ma · Chương 1/2 · của Washington Irving

⏱ 21 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 20.575 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Trên đỉnh một ngọn núi trong dãy Ô-đen, một…
  2. 4:45Nam tước người nhỏ, nhưng tâm hồn lớn, và…
  3. 8:48Trong khi toà lâu đài cổ Lan-xho đang bối…
  4. 11:04Trong hơi thở cuối, chàng khẩn khoản xin bạn…
  5. 13:10Đêm đã xuống, mà khách vẫn chưa tới. Nam…
  6. 16:07Chàng kỵ sĩ chẳng mấy để ý tới khách…
  7. 19:42Người lạ lắc đầu buồn bã và bí ẩn.
  8. 20:40Sao, – nam tước nói, – chàng không cử…

Chương 1: Bữa tiệc chờ chú rể

Trên đỉnh một ngọn núi trong dãy Ô-đen, một vùng hoang dã và thơ mộng ở miền Thượng Đức, không xa chỗ sông Mai-nơ đổ vào sông Ranh, nhiều, nhiều năm trước có toà lâu đài của nam tước Phôn Lan-xho. Giờ nó đã hoàn toàn đổ nát, gần như chôn vùi giữa những cây dẻ gai và cây linh sam sẫm màu. Nhưng phía trên tán cây vẫn còn thấy ngọn tháp canh cũ của nó cố vươn lên, giống như vị chủ nhân xưa mà tôi vừa nhắc, cứ cố ngẩng cao đầu nhìn xuống vùng đất xung quanh.

Nam tước là một nhánh khô của dòng họ lớn Cát-xen-en-bô-ghen. Ông thừa hưởng những gì còn sót lại của gia sản cùng toàn bộ lòng kiêu hãnh của tổ tiên. Dù tính hiếu chiến của các đời trước đã làm hao hụt nhiều tài sản của dòng họ, nam tước vẫn cố giữ chút vẻ phô trương của thời huy hoàng cũ. Thời ấy thái bình, các nhà quý tộc Đức nói chung đã bỏ những lâu đài cũ bất tiện, đậu chênh vênh như tổ đại bàng giữa núi, để xây những dinh thự tiện nghi hơn dưới thung lũng. Thế mà nam tước vẫn kiêu hãnh nằm lì trong pháo đài nhỏ của mình, ấp ủ với một sự cố chấp gia truyền mọi mối thù cũ của dòng họ, đến nỗi ông xích mích với vài người hàng xóm gần nhất chỉ vì những vụ tranh chấp đã xảy ra giữa các cụ tổ bốn đời của họ.

Nam tước chỉ có một mụn con, một cô con gái. Nhưng khi Tạo Hoá chỉ ban cho một đứa con, bao giờ cũng bù lại bằng cách biến nó thành một kỳ tài. Con gái nam tước cũng thế. Tất cả các bà vú, các bà hàng xóm hay chuyện và họ hàng nhà quê đều quả quyết với cha nàng rằng cả nước Đức không ai sánh kịp nàng về nhan sắc. Mà ai biết rõ hơn họ? Hơn nữa, nàng lại được nuôi dạy hết sức chu đáo dưới sự trông nom của hai bà cô chưa chồng, những người thời trẻ từng sống vài năm ở một triều đình nhỏ của Đức, và thạo đủ mọi ngành kiến thức cần thiết cho việc giáo dục một tiểu thư. Dưới sự dạy dỗ của họ, nàng trở thành một kỳ tích về tài nghệ. Mười tám tuổi, nàng đã thêu đẹp đến mức người ta phải trầm trồ, đã thêu lên thảm cả những truyện các thánh, với nét mặt biểu cảm mạnh mẽ đến nỗi trông họ như những linh hồn đang chịu tội trong luyện ngục. Nàng đọc được chữ không mấy khó khăn, đã đánh vần đọc hết mấy truyền thuyết của nhà thờ và gần như toàn bộ những chuyện hiệp sĩ kỳ diệu trong Sách Anh Hùng. Nàng còn tiến bộ đáng kể trong việc viết. Nàng ký được tên mình không sót một chữ cái nào, lại rõ ràng đến nỗi các bà cô không cần đeo kính cũng đọc được. Nàng giỏi làm đủ loại đồ trang trí nhỏ xinh, thanh lịch, vô tích sự mà các tiểu thư hay làm, thạo những điệu nhảy rắc rối nhất thời ấy, chơi được nhiều khúc nhạc trên đàn hạc và đàn ghi-ta, và thuộc lòng mọi khúc tình ca dịu dàng của các hiệp sĩ hát rong.

Các bà cô của nàng, vốn thời trẻ là những người lẳng lơ, ưa được tán tỉnh, lại cực kỳ thích hợp làm những người canh giữ cẩn mật và kiểm duyệt nghiêm khắc hạnh kiểm của cháu gái. Vì không có bà quản giáo nào thận trọng cứng nhắc và đoan trang không khoan nhượng bằng một người đàn bà đa tình đã hết thời. Nàng hiếm khi được rời khỏi tầm mắt họ. Không bao giờ ra khỏi khu đất của lâu đài nếu không có người đi kèm cẩn thận, hay đúng hơn là canh chừng cẩn thận. Nàng thường xuyên phải nghe giảng về phép lịch sự nghiêm ngặt và sự vâng lời tuyệt đối. Còn về đàn ông, chậc! Nàng được dạy phải giữ họ ở khoảng cách xa và tuyệt đối không tin họ, đến nỗi nếu không được phép đàng hoàng, nàng sẽ chẳng thèm liếc nhìn chàng kỵ sĩ đẹp trai nhất thế gian, không, kể cả khi chàng sắp chết dưới chân nàng.

Kết quả tốt đẹp của cách giáo dục ấy hiện ra rõ rệt đến kỳ lạ. Cô gái là tấm gương mẫu mực về sự ngoan ngoãn và đúng mực. Trong khi những cô gái khác phung phí sự ngọt ngào của mình dưới ánh sáng chói chang của cuộc đời, có thể bị bất cứ bàn tay nào hái rồi vứt đi, thì nàng e ấp nở thành một thiếu nữ tươi tắn, dễ thương dưới sự che chở của hai bà cô trong trắng không tì vết, như một nụ hồng ửng đỏ giữa hàng gai canh gác. Các bà cô nhìn nàng đầy tự hào, hãnh diện, và khoe rằng dù mọi cô gái khác trên đời có lầm đường lạc lối, thì tạ ơn Trời, chuyện như thế không thể xảy ra với người thừa kế dòng họ Cát-xen-en-bô-ghen.

Nhưng dù nam tước Phôn Lan-xho ít con đến đâu, nhà ông chẳng hề vắng vẻ, vì Trời đã ban cho ông vô số họ hàng nghèo. Tất cả bọn họ, không trừ ai, đều có cái tính tình trìu mến thường thấy ở những người họ hàng nghèo. Họ quyến luyến nam tước lạ thường, và nhân mọi dịp có thể, kéo tới thành từng đàn cho lâu đài thêm vui. Mọi ngày lễ trong gia đình đều được những người tốt bụng này kỷ niệm bằng tiền của nam tước. Và khi đã no say, họ lại tuyên bố rằng trên đời không có gì thú vị bằng những buổi họp mặt gia đình như thế, những ngày hội của trái tim.

Nam tước người nhỏ, nhưng tâm hồn lớn, và tâm hồn ấy phình lên vì mãn nguyện khi biết mình là người vĩ đại nhất trong cái thế giới nhỏ bé quanh mình. Ông thích kể những chuyện dài về những chiến binh già gan góc có chân dung nghiêm nghị nhìn xuống từ những bức tường xung quanh, và ông thấy không có người nghe nào bằng những kẻ ăn bám ông. Ông rất mê chuyện kỳ quái, và tin chắc mọi chuyện siêu nhiên mà núi non thung lũng nào ở nước Đức cũng đầy rẫy. Lòng tin của khách khứa ông còn hơn cả ông. Họ nghe mọi câu chuyện kỳ lạ, mắt mở to, miệng há hốc, và lần nào cũng kinh ngạc, dù chuyện đã kể tới lần thứ một trăm. Nam tước Phôn Lan-xho sống như thế, là nhà tiên tri bên bàn ăn của mình, là ông vua chuyên chế trên lãnh địa nhỏ bé của mình, và trên hết là sung sướng tin rằng mình là người khôn ngoan nhất thời đại.

Vào thời câu chuyện của tôi xảy ra, có một buổi họp mặt gia đình lớn ở lâu đài vì một việc hệ trọng bậc nhất: đón chàng rể tương lai của con gái nam tước. Người cha và một nhà quý tộc già xứ Ba-vi-e đã thương lượng với nhau để kết thông gia hai dòng họ danh giá bằng cuộc hôn nhân của con cái họ. Các bước đầu đã được tiến hành đúng mọi phép tắc. Đôi trẻ đính hôn mà chưa hề gặp nhau, và ngày cưới đã được định. Chàng bá tước trẻ Phôn An-ten-buốc đã được gọi về từ quân ngũ cho việc này, và thật sự đang trên đường tới nhà nam tước để đón cô dâu. Người ta còn nhận được thư chàng gửi từ Vuyếc-xbua, nơi chàng tình cờ bị giữ lại, báo ngày giờ chàng có thể tới.

Lâu đài náo nhiệt chuẩn bị đón tiếp chàng cho xứng đáng. Cô dâu xinh đẹp được trang điểm kỹ lưỡng khác thường. Hai bà cô trông nom việc ăn mặc cho nàng, và cãi nhau suốt buổi sáng về từng món trong bộ trang phục. Cô gái lợi dụng lúc họ tranh cãi để làm theo ý thích của mình, và may mắn thay, ý thích ấy lại rất hay. Nàng trông đáng yêu đúng như một chàng rể trẻ có thể mong muốn, và nỗi hồi hộp chờ đợi càng làm nhan sắc nàng thêm rạng rỡ.

Những vệt ửng hồng trên mặt và cổ nàng, bầu ngực khẽ phập phồng, ánh mắt thỉnh thoảng lại lạc vào mơ mộng, tất cả để lộ ra sự xao xuyến êm dịu đang diễn ra trong trái tim bé nhỏ của nàng. Các bà cô cứ lượn quanh nàng không ngớt, vì các bà cô chưa chồng thường rất quan tâm tới những chuyện như thế này. Họ dặn dò nàng cả một kho lời khuyên đứng đắn, nào là phải cư xử ra sao, phải nói gì, và phải đón người yêu sắp tới theo cách nào.

Nam tước cũng bận rộn chuẩn bị chẳng kém. Thật ra ông chẳng có việc gì cụ thể để làm, nhưng ông vốn là người nhỏ thó hay cuống quýt, rối rít, không thể ngồi yên khi cả thiên hạ đang hối hả. Ông lo lắng chạy khắp lâu đài từ trên xuống dưới với vẻ vô cùng sốt ruột. Ông cứ gọi đám gia nhân bỏ việc để giục họ chăm chỉ. Và ông vo ve khắp mọi gian sảnh, mọi căn phòng, rảnh rỗi mà bồn chồn và quấy rầy như con ruồi xanh vào một ngày hè nóng nực.

Trong khi đó, bê béo đã được mổ. Rừng đã vang dội tiếng ồn ào của những người đi săn. Nhà bếp đầy ắp sơn hào hải vị. Hầm rượu đã tuôn ra cả những biển rượu vang sông Ranh. Ngay cả chiếc thùng rượu khổng lồ nổi tiếng ở Hai-đen-bớc cũng được trưng dụng. Mọi thứ đã sẵn sàng để đón vị khách quý một cách linh đình, đúng tinh thần hiếu khách của người Đức. Nhưng vị khách mãi vẫn chưa xuất hiện. Hết giờ này tới giờ khác trôi qua. Mặt trời, vừa đổ những tia nắng xuống khu rừng trù phú của dãy Ô-đen, giờ chỉ còn le lói dọc những đỉnh núi. Nam tước leo lên ngọn tháp cao nhất, căng mắt nhìn, mong thoáng thấy bá tước và đoàn tuỳ tùng ở đằng xa. Có một lần ông tưởng đã thấy họ. Tiếng tù và vọng lên từ thung lũng, được tiếng vang của núi non kéo dài thêm. Người ta thấy một đoàn kỵ sĩ ở tít phía dưới đang chậm rãi tiến lên dọc con đường. Nhưng khi gần tới chân núi, họ bỗng rẽ sang một hướng khác. Tia nắng cuối cùng tắt hẳn, dơi bắt đầu chao liệng trong ánh hoàng hôn, con đường mỗi lúc một mờ đi, và chẳng thấy gì chuyển động trên đó ngoài thỉnh thoảng một người nông dân lê bước về nhà sau buổi làm đồng.

Trong khi toà lâu đài cổ Lan-xho đang bối rối như thế, thì ở một nơi khác của dãy Ô-đen đang diễn ra một cảnh rất đáng chú ý.

Chàng bá tước trẻ Phôn An-ten-buốc đang thong thả đi trên đường, theo cái kiểu nhẩn nha điềm tĩnh của một người đi tới hôn nhân khi bạn bè đã gánh hết mọi phiền toái và bấp bênh của việc tán tỉnh, và cô dâu chắc chắn đang đợi ở cuối chặng đường như bữa tối vậy. Ở Vuyếc-xbua, chàng đã gặp một người bạn chiến đấu trẻ tuổi từng cùng chàng phục vụ ở biên giới, Héc-man Phôn Xtác-ken-phao-xtơ, một trong những cánh tay khoẻ nhất và tấm lòng đáng quý nhất của giới hiệp sĩ Đức, lúc ấy cũng đang từ quân ngũ trở về. Lâu đài của cha Héc-man không xa pháo đài cổ Lan-xho, dù một mối thù truyền kiếp khiến hai gia đình thù địch và xa lạ với nhau.

Trong phút giây nồng ấm khi nhận ra nhau, đôi bạn trẻ kể cho nhau nghe mọi chuyện phiêu lưu và vận may đã qua. Bá tước kể hết đầu đuôi chuyện cuộc hôn nhân sắp tới với một tiểu thư mà chàng chưa từng gặp, nhưng đã nghe những lời tả nhan sắc làm say đắm lòng người.

Vì đường đi của đôi bạn cùng một hướng, họ thoả thuận đi chung nốt chặng đường. Để có thể thong thả hơn, họ rời Vuyếc-xbua từ sớm, bá tước dặn đoàn tuỳ tùng đi sau đuổi theo.

Họ vừa đi vừa nhắc lại những cảnh chiến trận và những chuyện phiêu lưu cho đỡ buồn. Nhưng thỉnh thoảng bá tước lại hơi dông dài về nhan sắc nghe đồn của cô dâu và niềm hạnh phúc đang chờ mình.

Cứ thế họ đã vào giữa vùng núi Ô-đen, và đang băng qua một trong những hẻm núi vắng vẻ nhất, rậm rạp nhất. Ai cũng biết rằng rừng ở nước Đức xưa nay nhiều trộm cướp chẳng kém gì lâu đài nhiều ma. Và vào thời ấy, trộm cướp lại đặc biệt đông, vì có cả những đám lính giải ngũ lang thang khắp nơi. Vì thế cũng chẳng lạ gì khi hai chàng kỵ sĩ bị một toán những kẻ lang thang như thế tấn công giữa rừng. Họ chống trả dũng cảm, nhưng sắp bị áp đảo thì đoàn tuỳ tùng của bá tước tới cứu. Thấy họ, bọn cướp bỏ chạy, nhưng bá tước đã kịp trúng một nhát chí mạng. Người ta chậm rãi, cẩn thận đưa chàng trở lại thành phố Vuyếc-xbua, mời một thầy tu ở tu viện gần đó, nổi tiếng giỏi chữa cả linh hồn lẫn thể xác. Nhưng một nửa tài năng của ông là thừa, vì những giây phút cuối cùng của chàng bá tước bất hạnh đã được đếm.

Trong hơi thở cuối, chàng khẩn khoản xin bạn lập tức tới lâu đài Lan-xho, giải thích lý do bi thảm khiến chàng không giữ được lời hẹn với cô dâu. Dù không phải là người tình nồng nhiệt nhất, chàng lại là một trong những người giữ phép tắc chu đáo nhất, và có vẻ tha thiết mong việc này được làm nhanh chóng và lịch sự.

– Nếu việc này không xong, – chàng nói, – tôi sẽ không yên giấc dưới mồ.

Chàng nhắc lại những lời cuối ấy với vẻ trang nghiêm đặc biệt. Một lời nhờ cậy vào giây phút xúc động như thế không cho phép do dự. Xtác-ken-phao-xtơ cố làm chàng bình tĩnh lại, hứa sẽ làm đúng nguyện vọng của chàng, và đưa tay ra thề trang trọng. Người sắp chết nắm chặt bàn tay ấy để tỏ lòng biết ơn, nhưng chẳng bao lâu đã rơi vào mê sảng. Chàng nói lảm nhảm về cô dâu, về lời hứa, về lời đã thề, rồi sai đem ngựa tới để cưỡi tới lâu đài Lan-xho, và tắt thở đúng lúc tưởng mình đang nhảy lên yên ngựa.

Xtác-ken-phao-xtơ dành cho số phận yểu mệnh của bạn mình một tiếng thở dài và một giọt nước mắt của người lính, rồi ngẫm nghĩ về cái sứ mệnh khó xử mình vừa nhận. Lòng chàng nặng trĩu, đầu óc rối bời. Vì chàng sẽ phải xuất hiện như một vị khách không mời giữa những người thù địch, và dội nước lạnh vào cuộc vui của họ bằng một tin làm tan nát mọi hy vọng. Tuy vậy, trong lòng chàng vẫn có chút tò mò thì thầm muốn được thấy người đẹp lừng danh của dòng họ Cát-xen-en-bô-ghen, người bị giam kỹ đến thế khỏi thế gian. Vì chàng vốn say mê phái đẹp, lại có chút gì lập dị và thích phiêu lưu trong tính cách, khiến chàng ưa mọi chuyện mạo hiểm khác thường.

Trước khi đi, chàng thu xếp chu đáo với các thầy tu trong tu viện về tang lễ cho bạn, người sẽ được chôn cất trong nhà thờ lớn Vuyếc-xbua bên cạnh một vài người họ hàng danh tiếng, và đoàn tuỳ tùng để tang của bá tước nhận trông coi thi hài.

Giờ đã đến lúc chúng ta trở lại với dòng họ cổ Cát-xen-en-bô-ghen, những người đang sốt ruột chờ khách, và còn sốt ruột chờ bữa tiệc hơn, và với ông nam tước nhỏ thó đáng kính mà ta đã bỏ lại đang hóng gió trên tháp canh.

Đêm đã xuống, mà khách vẫn chưa tới. Nam tước tuyệt vọng đi xuống khỏi tháp. Bữa tiệc đã hoãn hết giờ này sang giờ khác, giờ không thể hoãn thêm được nữa. Thịt đã quá nhừ, ông đầu bếp khổ sở, và cả nhà trông như một đồn binh bị vây đến kiệt sức vì đói. Nam tước đành miễn cưỡng ra lệnh dọn tiệc mà không có mặt khách. Mọi người đã ngồi vào bàn, sắp bắt đầu ăn thì tiếng tù và từ ngoài cổng báo có người lạ tới. Một hồi tù và dài nữa làm vang dội những khoảng sân cổ của lâu đài, và người lính gác trên tường thành đáp lại. Nam tước vội ra đón chàng rể tương lai.

Cầu treo đã hạ xuống, và người lạ đã đứng trước cổng. Đó là một kỵ sĩ cao lớn, hào hoa, cưỡi một con ngựa đen. Mặt chàng tái nhợt, nhưng đôi mắt sáng rực, đầy chất lãng mạn, và chàng có một vẻ u buồn đường bệ. Nam tước hơi phật ý vì chàng tới một mình, đơn giản như thế. Trong một thoáng, lòng tự trọng của ông bị xúc phạm, và ông có ý cho rằng đó là thiếu tôn trọng dịp trọng đại này và dòng họ trọng đại mà chàng sắp kết thân. Nhưng ông tự trấn an bằng kết luận rằng hẳn là vì nóng ruột của tuổi trẻ mà chàng đã thúc ngựa đi trước đoàn tuỳ tùng.

– Tôi lấy làm tiếc, – người lạ nói, – đã đến quấy rầy ông vào giờ không đúng lúc thế này…

Đến đây nam tước ngắt lời chàng bằng cả một tràng lời khen ngợi và chào mừng, vì nói thật, ông vẫn tự hào về sự lịch thiệp và tài ăn nói của mình. Người lạ một hai lần cố chặn dòng thác lời ấy lại, nhưng vô ích, nên đành cúi đầu để mặc nó tuôn chảy. Khi nam tước ngừng lại thì họ đã tới khoảng sân trong của lâu đài, và người lạ lại định lên tiếng, thì một lần nữa bị ngắt lời khi đám phụ nữ trong nhà xuất hiện, dẫn ra cô dâu đang e thẹn, đỏ mặt. Chàng nhìn nàng một lúc như người bị thôi miên. Tưởng như cả tâm hồn chàng toả ra trong ánh mắt ấy, dừng lại trên hình dáng đáng yêu kia. Một bà cô thì thầm gì đó vào tai nàng. Nàng cố nói. Đôi mắt xanh long lanh của nàng rụt rè ngước lên, e lệ liếc nhìn người lạ như dò hỏi, rồi lại cụp xuống. Những lời nói tắt lịm, nhưng một nụ cười ngọt ngào thoáng trên môi nàng, và má nàng lúm đồng tiền dịu dàng, cho thấy cái liếc nhìn ấy không làm nàng thất vọng. Một cô gái ở cái tuổi mười tám đầy mơ mộng, sẵn lòng hướng tới tình yêu và hôn nhân như thế, không thể nào không vừa lòng với một chàng kỵ sĩ hào hoa đến vậy.

Khách tới quá muộn nên không còn thì giờ để trò chuyện. Nam tước quả quyết hoãn mọi chuyện riêng tới sáng mai, rồi dẫn đường tới bữa tiệc chưa ai đụng đũa.

Tiệc được dọn trong đại sảnh của lâu đài. Quanh tường treo chân dung mặt mũi dữ dằn của những anh hùng dòng họ Cát-xen-en-bô-ghen, cùng những chiến lợi phẩm họ giành được ngoài chiến trường và trong những cuộc săn. Áo giáp sứt mẻ, giáo đấu gãy vụn, cờ rách tả tơi lẫn với chiến lợi phẩm săn bắn: hàm sói và nanh lợn rừng nhe ra gớm guốc giữa nỏ và rìu chiến, và một cặp gạc hươu khổng lồ chĩa ra ngay trên đầu chàng rể trẻ.

Chàng kỵ sĩ chẳng mấy để ý tới khách khứa hay cuộc vui. Chàng gần như không nếm món gì, mà có vẻ mải mê ngắm cô dâu. Chàng nói khẽ, không ai nghe lỏm được, vì ngôn ngữ của tình yêu chẳng bao giờ to tiếng. Nhưng có tai phụ nữ nào lại kém đến mức không nghe được lời thì thầm khẽ nhất của người yêu? Cử chỉ của chàng vừa dịu dàng vừa nghiêm trang, và điều ấy có vẻ tác động mạnh tới cô gái. Má nàng lúc đỏ lúc tái trong khi chăm chú lắng nghe. Thỉnh thoảng nàng đỏ mặt đáp lại vài lời. Và khi chàng quay mắt đi, nàng lại liếc trộm gương mặt lãng mạn của chàng, khẽ thở dài một tiếng hạnh phúc dịu dàng. Rõ ràng đôi trẻ đã hoàn toàn say đắm nhau. Các bà cô, vốn thông thạo những bí ẩn của trái tim, tuyên bố rằng họ đã yêu nhau ngay từ cái nhìn đầu tiên.

Bữa tiệc diễn ra vui vẻ, hay ít ra là ồn ào, vì khách khứa ai cũng được trời phú cho cái dạ dày háu ăn thường đi kèm với túi tiền nhẹ và không khí núi rừng. Nam tước kể những câu chuyện hay nhất và dài nhất của mình, và chưa bao giờ ông kể hay đến thế, gây hiệu quả lớn đến thế. Nếu có điều gì kỳ lạ, người nghe sửng sốt tột độ. Nếu có điều gì khôi hài, chắc chắn họ cười đúng chỗ. Đúng là cũng như phần đông các vĩ nhân, nam tước quá đạo mạo nên chỉ nói được những câu đùa nhạt. Nhưng câu nào cũng được đẩy thêm bằng một cốc đầy rượu vang Hốc-hai-mơ tuyệt hảo. Mà ngay cả một câu đùa nhạt bên bàn ăn nhà mình, kèm theo rượu cũ ngon lành, cũng khó ai cưỡng lại. Những người nghèo hơn mà lanh lợi hơn nói ra nhiều câu hay mà chỉ nên nhắc lại trong những dịp tương tự. Nhiều lời ranh mãnh thì thầm vào tai các bà khiến họ suýt nghẹn vì nén cười. Và một hai bài hát do một người anh họ nghèo nhưng vui tính, mặt bè bè của nam tước gào lên, khiến hai bà cô chưa chồng phải giơ quạt lên che mặt.

Giữa cuộc vui chơi ấy, vị khách lạ vẫn giữ một vẻ nghiêm trang lạ lùng và không đúng lúc. Đêm càng khuya, nét mặt chàng càng u buồn. Và lạ thay, ngay cả những câu đùa của nam tước dường như chỉ làm chàng thêm sầu muộn. Có lúc chàng chìm trong suy tư, có lúc ánh mắt chàng đảo đi bồn chồn, xao xuyến, cho thấy trong lòng chàng chẳng yên ổn chút nào. Những lời chàng nói với cô dâu mỗi lúc một tha thiết và bí ẩn hơn. Những đám mây u ám bắt đầu lén kéo qua vầng trán thanh thản xinh đẹp của nàng, và những cơn run bắt đầu chạy qua tấm thân mảnh mai.

Tất cả những điều ấy không thể qua mắt mọi người. Cuộc vui của họ bị nỗi u sầu khó hiểu của chàng rể làm lạnh đi. Tinh thần họ bị lây. Người ta trao nhau những lời thì thầm, những ánh mắt, kèm theo những cái nhún vai và lắc đầu ngờ vực. Tiếng hát, tiếng cười thưa dần. Câu chuyện có những khoảng lặng buồn tẻ, và cuối cùng thay vào đó là những chuyện hoang đường và truyền thuyết ma quái. Một chuyện rùng rợn lại kéo theo một chuyện còn rùng rợn hơn. Và nam tước gần như làm vài bà sợ phát cuồng với chuyện gã kỵ sĩ ma đã bắt nàng Lê-ô-nô-ra xinh đẹp đi, một câu chuyện khủng khiếp mà sau này đã được viết thành thơ tuyệt hay, cả thế giới đều đọc và đều tin.

Chàng rể chăm chú lắng nghe chuyện ấy. Chàng nhìn chằm chằm vào nam tước, và khi câu chuyện gần kết thúc, chàng bắt đầu từ từ đứng dậy khỏi ghế, cao lên, cao lên mãi, cho tới khi trong mắt nam tước đang bị thôi miên, chàng như sừng sững thành một người khổng lồ. Câu chuyện vừa dứt, chàng thở dài một hơi sâu, rồi trang trọng chào từ biệt mọi người. Ai nấy đều sững sờ. Nam tước thì như bị sét đánh.

– Sao! Định rời lâu đài lúc nửa đêm à? Mọi thứ đã sẵn sàng để đón chàng cơ mà. Phòng đã sửa soạn sẵn nếu chàng muốn đi nghỉ.

Người lạ lắc đầu buồn bã và bí ẩn.

– Đêm nay tôi phải gối đầu trong một căn phòng khác.

Câu trả lời ấy, và giọng nói khi thốt ra nó, có cái gì đó làm nam tước chột dạ. Nhưng ông lấy lại tinh thần, nhắc lại những lời mời mọc hiếu khách.

Người lạ im lặng lắc đầu, nhưng dứt khoát, trước mọi lời mời. Rồi vẫy tay chào từ biệt mọi người, chàng chậm rãi sải bước ra khỏi đại sảnh. Hai bà cô chưa chồng hoàn toàn chết lặng. Cô dâu cúi đầu, một giọt nước mắt lặng lẽ ứa ra.

Nam tước theo người lạ ra khoảng sân lớn của lâu đài, nơi con ngựa chiến đen đang đứng cào đất, khịt mũi sốt ruột. Khi tới cổng, nơi vòm cửa sâu được một ngọn đuốc soi lờ mờ, người lạ dừng lại, nói với nam tước bằng một giọng trầm rỗng, mà vòm trần càng làm cho nghe như từ dưới mồ vọng lên.

– Giờ chỉ còn hai chúng ta, – chàng nói, – tôi sẽ cho ông biết lý do tôi ra đi. Tôi có một cuộc hẹn trang nghiêm, không thể nào bỏ…

– Sao, – nam tước nói, – chàng không cử người đi thay được à?

– Không ai thay được. Tôi phải đích thân tới. Tôi phải tới nhà thờ lớn Vuyếc-xbua…

– Phải, – nam tước nói, lấy lại tinh thần, – nhưng để mai đã. Mai chàng sẽ đưa cô dâu tới đó.

– Không! Không! – Người lạ đáp, giọng trang nghiêm gấp mười lần. – Cuộc hẹn của tôi không phải với cô dâu nào cả. Giòi bọ! Giòi bọ đang chờ tôi! Tôi là người đã chết. Tôi đã bị bọn cướp giết. Xác tôi đang nằm ở Vuyếc-xbua. Nửa đêm nay tôi sẽ được chôn. Nấm mồ đang chờ tôi. Tôi phải giữ đúng lời hẹn!

Chàng nhảy lên con ngựa đen, phi qua cầu treo, và tiếng vó ngựa lộp cộp tan đi trong tiếng gió đêm rít.

— Hết chương 1 —

Mục lục Chú rể ma

  1. 1Bữa tiệc chờ chú rể21 phút
  2. 2Bóng ma dưới cửa sổĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảWashington Irving (1783 – 1859)
Năm mất1859
Xuất bản lần đầu1819
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Spectre Bridegroom, Washington Irving, 1819; bản in trong The Sketch-Book of Geoffrey Crayon (Project Gutenberg số 2048)
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →